LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin chân thành cảm ơn:
+ Ths. Nguyễn Thị Tiên
+ Ths. Nguyễn Việt Bắc
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và góp ý để em được hoàn thành kỳ thực tập.
Xin cảm ơn anh Tô Khắc Khải – trại trưởng trại sản xuất giống Tô Khải tạo điều kiện
thuận lợi và hướng dẫn trong qá trình thực tập suốt thời gian qua.
Cà Mau,Ngày 01 Tháng 03 Năm 2015
Sinh viên thực tập
TÔ TUẤN AN
i
TÓM TẮT
Cua biển (Scylla paramamosain) là một trong những đối tượng quan trọng trong
nuôi trồng thủy sản. Tiểu luận “Tìm hiểu quy trình kỹ thuật sản xuất giống cua Scylla
paramamosain” được thực hiện tại trại sản xuất cua giống Tô Khải.
Trong giai đoạn Zoea
1
-Zoea
5
, ấu trùng được ương trong bể composite 4m
3
, với mật
độ 300 con/L. Hệ thống nước trong hở được áp dụng trong suốt giai đoạn này, với độ
mặn nước ương luôn duy trì ở mức 28 ppt. Thức ăn cho giai đoạn này gồm 30 – 45g
artemia và 20 g Lansy ZM. Trong giai đoạn Zoea
5
– Megalop, ấu trùng được ương trong
bể composite 4 m
3
, với mật độ 30 ấu trùng/L. Nươc ương vẫn luôn duy trì ở độ mặn 28
ppt. Thức ăn trong giai đoạn này gồm 55 g artemia nở và thức ăn chế biến theo nhu cầu.
3.2. Vật liệu và trang thiết bị 8
3.2.1. Thuốc và hóa chất thí nghiệm 8
3.2.2. Nguồn nước 8
3.2.3. Nguồn cua bố mẹ 8
3.2.4. Thức ăn 8
3.3. Kỹ thuật ương ấu trùng 10
3.3.1. Ương ấu trùng từ giai đoạn Zoea1-Zoea5 10
3.3.2. Ương ấu trùng từ giai đoạn Zoea5 – Megalop 11
3.3.3. Thu mẫu 11
3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu 11
Chương IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 12
4.1. Các yếu tố môi trường 12
4.1.1. Nhiệt độ 12
4.1.2. pH 12
4.1.3. NO
2
13
iii
4.1.4. TAN 13
4.2. Tỷ lệ biến thái 13
4.3. Tỷ lệ sống 14
4.4. Hiệu quả kinh tế 14
Chương V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 15
5.1. Kết luận 15
5.2. Đề xuất 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
PHỤ LỤC 21
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các giai đoạn thành thục cua cái 4
cầu của người nuôi hiện nay và giảm bớt áp lực cho việc khai thác giống ngoài tự nhiên
thì việc sản xuất con giống có số lượng và chất lượng là vấn đề cấp thiết hiện nay (Nghia,
2001). Nhưng năng suất ương còn hạn chế, với tỷ lệ sống đạt 5 – 7% (Trần Ngọc Hải và
ctv, 2009). Nhằm góp phần giới thiệu quy trình sản xuất giống cua biển từ thực tế, tiểu
luận “Tìm hiểu quy trình kỹ thuật sản xuất giống cua Scylla paramamosain” được
thực hiện tại trại sản xuất cua giống Tô Khải
Mục tiêu
Tìm hiểu quy trinh kỹ thuật sản xuất giống cua Scylla paramamosain, nhằm áp
dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất. Đúc kết, học hỏi và tích luỹ kinh
nghiệm thông qua việc sản xuất giống. Bồi dưỡng rèn luyện những kỹ năng, thao tác cần
thiết liên quan đến sản xuất giống. Đồng thời, bước đầu làm quen với môi trường làm
việc thực tế để chuẩn bị tham gia sản xuất khi ra trường.
Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu quy trình kỹ thuật ương, nuôi ấu trùng cua biển tại trại sản xuất cua
giống Tô Khải.
vii
CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1.Đặc điểm sinh học của cua
2.1.1.Đặc điểm phân bố và phân loai.
Cua biển thuộc lớp giác xác, bộ mười chân (Decapoda), là đối tượng hải sản quý,
có giá trị thương mại cao, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước. Theo nghiên
cứu của Keenan (1998) ở vùng Đông Nam Á có 4 loài cua là Scylla serrata, Scylla
paramamosain, Scylla olivecea và Scylla tranquebarica.
Cua biển Scylla phân bố khắp khu vực Ấn Độ- Thái Bình Dương (Keenan et al.,
1998). Scylla serrata là loài cua lớn phân bố rộng ở vùng cửa sông khu vực Ấn Độ - Thái
Bình Dương (Stephenson, 1962). Scylla olivacea được tìm thấy phần lớn ở Philipines và
Malaysia. Cả Scylla olivacea và Scylla tranquebarica đều xuất hiện tập trung ở Biển
đông, nơi mà loài Scylla serrata hầu như không hiện diện (keenan, 1999).
Ở Việt Nam, có hai loài chủ yếu là Scylla paramamosain (cua sen) và scylla
viii
Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sự thành thục của cua biển. Heasman và Fielder (1983)
cho rằng, nhiệt độ nước cao có thể làm tăng tốc độ tăng trưởng vì thế giảm thời gian
thành thục của cua.
Nghiên cứu về sinh học sinh sản của cua Quinn và Kojis (1987) cho biết S.
serrata có thể thành thục ở kích thước nhỏ (chiều rộng mai cua khoảng 10 cm). Trong
khi đó S. paramamosain đạt mức thành thục ở kích thước lớn hơn chiều rộng mai ít nhất
phải 12 cm, (trích bởi Nguyễn Cơ Thạch và ctv, 1998)
Hình 2.1: Vòng đời cua biển Scylla paramamosain
2.1.3 Tập tính dinh dưỡng
Trong tự nhiên thức ăn ưa thích của ấu trùng cua là tảo khuê, ấu trùng giáp xác,
nhuyễn thể, giun…Tuy nhiên, những thông tin chi tiết về tính ăn của cua trong tự nhiên
không được nhiều. Trong điều kiện nuôi ấu trùng cua được cho ăn với nhiều loại thức ăn
khác nhau như: Chlorella, Tetraselmis, luân trùng, Artemia và nhiều loại thức ăn viên có
kích thước nhỏ.
Cua là loài ăn tạp, từ giai đoạn cua con đến cua trưởng thành chúng kiếm ăn vào
ban đêm. Hill (1975) báo cáo rằng, thức ăn trong tự nhiên của chúng chiếm 55% là
nhuyễn thể, 21% là giáp xác.
Nhiệt độ là nhân tố ảnh hưởng đến tính ăn và hoạt động của cua. Hill (1980) cho
rằng, cua S. paramamosain có tốc độ ăn và hoạt động tối đa khi nhiệt độ nước đạt 25
o
C,
khi nhiệt độ giảm xuống 20
o
C thì tính ăn và hoạt động của chúng sẽ giảm xuống rõ rệt.
ix
Cua ăn khỏe với lượng thức ăn rất lớn. Tuy nhiên khi sống trong điều kiện bất lợi, chúng
có thể nhịn đói nhiều ngày (10-15 ngày).
2.1.4 Sinh trưởng
Cua cũng như các loài giáp xác khác, chúng lột xác để biến thái và tăng trưởng.
thành thục khi chúng đạt giá trị chỉ số thành thục 0,88-1, (Sombat, 1991 trích bởi Trần
Ngọc Hải, 2004).
Bảng 2.1: Các giai đoạn thành thục của cua cái
Giai đoạn thành thục Đặc điểm
Giai đoạn I Chưa thành thục, tuyến sinh dục mỏng và trong suốt, bụng
có hơi dạng tam giác. Đường kính trứng 0,01-0,06mm.
Giai đoạn II Tuyến sinh dục đang phát triển, noãn sào có màu trắng kem
hay vàng chiếm 1/4 gan tụy. Đường kính trứng từ 0,1-
0,3mm.
Giai đoạn III Cua đang thành thục noãn sào nở rộng, chiếm 1/4-3/4 diện
tích gan tụy. Noãn sào màu trắng. Đường kính trứng 0,4-
x
0,9mm.
Giai đoạn IV Túi chứa tinh lồi lên, noãn sào màu cam hay đỏ, nở rộng và
chiếm hết diện tích gan tụy và cả khoan ruột. Có thể nhìn
thấy màu vàng từ phía sau giữa giáp đầu ngực và yếm.
Đường kính trứng 0,7-1,3mm
2.1.6. Mùa vụ sinh sản và di cư sinh sản
Cua biển Scylla hầu như sinh sản quanh năm (Quinn and Kojis, 1987). Cua giao vĩ
sau khi lột xác và thời gian cua đẻ sau khi giao vĩ khác nhau ở mỗi vùng. Ở Đài Loan cua
đẻ sau khi giao vĩ khoảng 4 tháng (Cowan, 1984). Trong khi đó ở Ấn Độ cua đẻ sau khi
giao vĩ khoảng 28 – 42 ngày (Marichamy and Rajapackiam, 1991) và ở Astralia cua đẻ
khoảng 21 – 32 ngày sau khi giao vĩ (Heasman and Fielder, 1983).
Vào mùa sinh sản con cái loài Scylla sp có tập tính di cư ra biển khơi đẻ trứng
(Ong, 1966 trich dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004). Cua di cư ra
biển chủ yếu tìm môi trường thuận lợi cho quá trình sinh sản, ấp trứng và cho sự phát
triển của ấu trùng Zoae như nhiệt độ, ánh sáng, độ mặn và nguồn thức ăn cho ấu trùng
(Hill, 1994).
2.1.7. Cư trú và tập tính sống
Loài cua S. paramamosain cũng như một số loài cua thuộc giống Scylla chủ yếu
o
C và độ mặn từ 20-30 ‰.
Màu sắc bể ương cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng bắt mồi của ấu trùng.
Abed and Zeng (2005) đã báo cáo, ấu trùng có khả năng bắt mồi, tăng trưởng và tỷ lệ
sống tốt nhất khi chúng được ương trong các bể có màu sắc tối.
2.2.2 Nghiên cứu trong nước
Hoàng Đức Đạt (1993) trích bởi Trần Thị Hồng Hạnh (2000) bước đầu nghiên cứu
thành công trong sinh sản nhân tạo giống cua biển Scylla paramamosain tại trại giống
COFIDEC (Cần Giờ) cho tỷ lệ sống từ giai đoạn Z
1
đến Z
5
khoảng 45-60%, thường chỉ
đạt 35-45%, thậm chí còn thấp hơn.
Hoàng Đức Đạt (1995) đã báo cáo, ấu trùng khi được ương trong môi trường nước có độ
mặn 30 ‰, nhiệt độ 29
o
C và pH 7,5-8,0 thì thời gian biến thái từ Z
1
đến giai đoạn
megalop là 17 ngày. Đồng thời kết quả cũng cho thấy, độ mặn càng cao thì thời gian biến
thái càng chậm.
Trần Ngọc Hải và Trương Trọng Nghĩa (2000) đã tiến hành thí nghiệm ương ấu trùng cua
biển ở các mật độ 50, 75 và 100 ấu trùng/L trong mô hình nước xanh. Kết quả cho thấy,
ấu trùng ương với mật độ 100 con/l sẽ cho tỷ lệ sống và biến thái tốt nhât.
2.3 Điều kiện môi trường sống của ấu trùng
2.3.1 Nhiệt độ và độ mặn
Nhiệt độ được xem là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi, biến
thái và tỷ lệ sống của ấu trùng cua. Ấu trùng chỉ phát triển đến giai đoạn zoae3 khi ấu
trùng được ương ở nhiệt độ 19-23
được sử dụng cho giai đoạn Zoea đầu tiên, những giai đoạn ấu trùng sau đó chuyển sang
cho ăn ấu trùng Artemia (Chen,1992). Tại Nhật, giai đoạn Z
1
cho ăn ấu trùng Artemia rất
nhỏ và sau đó là Artemia tươi sống với mật độ 30 cá thể/ml (Cowan,1984).
Ở Việt Nam, Trương Trọng Nghĩa et al (1995) cho biết trong tuần đầu ấu trùng
cua được cung cấp tảo khuê Chaetoceros, Skeletonema và luân trùng Brachionus
plicatilis. Cho ấu trùng ăn tảo khuê trong thời gian 6 ngày đầu, ăn luân trùng trong thời
gian 12 ngày đầu. Từ ngày thứ 12 trở đi giảm lượng luân trùng xuống ½ và cho ăn
Artemia mới nở với mật độ 10-15 con/L. Đến ngày thứ 14 ngừng cho ăn luân trùng, tăng
mật độ Artemia lên 20 con/L. Thức ăn trong giai đoạn megalop gồm ấu trùng Artemia 2
ngày tuổi và thức ăn chế biến.
Ruscoe et al (2004) cho rằng, luân trùng rất quan trọng ở những giai đoạn sớm,
làm tăng tỷ lệ sống và tăng sự tăng trưởng. Nếu không có luân trùng, sự lột xác của ấu
trùng bị trở ngạy và tỷ lệ sống thấp đáng kể trong giai đoạn Zoea đầu tiên. Điều này cũng
ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống ở giai đoạn megalope. Tỷ lệ sống đến giai đoạn megalope
đạt 78% khi luân trùng được cung cấp đến giaio đoạn Z
2
, trong khi đó tỷ lệ sống chỉ đạt
được 32% khi không sử dụng luân trùng.
2.3.3 Thay nước
Trong ương ấu trùng cua, chế độ thay nước cũng rất khác nhau giữa các nơi. Thay
nước 75% thể tích/ngày ở Ấn Độ (Myrachamy,1992), 10% ở Nhật (Cowan,1984) hoặc
cho nước chảy liên tục với vận tốc 5 L/phút (Heasman, 1983)
Thay nước là nhân tố quan trọng trong ương ấu trùng cua. Ngoài tác dụng làm
giảm sản phẩm thải ra trong quá trình trao đổi chất mà còn góp phần cải thiện môi trường
bể ương. Bên cạnh đó, thay nước còn giúp loại bỏ thức ăn thừa mà chủ yếu là ấu trùng
xiii
Artemia trước khi chúng quá cỡ không thể loại ra hoặc ấu trùng cua ăn không được
(Marichamy, 1992). Ngoài ra, thay nước còn ảnh hưởng đến nhịp độ lột xác của ấu trùng.
Chlorine, EDTA, NaHCO
3
, Natri thiosulphate, KMnO
4.
Bộ test: NO
2
, pH và độ kiềm.
3.2.2. Nguồn nước
Nước ương có độ mặn 30 ppt được lấy từ sông Năm Căn. Nước ương được xử lý
bằng Chlorine 60ppm. Trong suốt thời gian xử lý, bể ương được sục khí mạnh, liên tục.
Sau 48 giờ kiểm tra lại hàm lượng Chlorine bằng bộ test Chlorine. Nếu thấy còn dư
lượng Chlorine thì trung hoà Chlorine bằng Natri Thiosulphate. Sau đó, dùng NaHCO
3
(10 ppm) và CaCO
3
(10 ppm) để ổn định pH và nâng kiềm. Trước khi sử dụng 8 giờ,
nước ương được xử lý bằng EDTA 10ppm để kết tủa kim loại nặng, các khí độc. Sục khí
mạnh sau 8 giờ có thể sử dụng.
3.2.3. Nguồn cua bố mẹ
Cua mẹ mang trứng được mua từ trại nuôi vỗ cua mẹ
3.2.4. Thức ăn
Tuỳ theo giai đoạn phát triển mà cung cấp thức ăn khác nhau để phù hợp với kích
cỡ miệng ấu trùng
Artemia
Trong giai đoạn Zoea, ấu trùng được cho ăn bằng Artemia có nguồn gốc từ Vĩnh
Châu. Arrtemia được ấp ở độ mặn 15ppt với mật độ từ 2 – 5 g/lit. Tùy theo giai đoạn mà
cho ấu trùng ăn artemia bung dù hoặc artemia nở. Artemia trước khi cho ăn được khử
trùng bằng Formaline nồng độ 200 – 500ppm, sau đó được rữa sạch bằng nước ngọt.
Thức ăn chế biến
Bảng 3.1. Công thức thức ăn chế biến cho ấu trùng cua
gồm 45g ấu trùng Artemia và 20g Lansy ZM. Cho ăn
4 lần/ngày vào lúc 6 giờ, 12 giờ, 18 giờ và 0 giờ.
Trong quá trình ương, bổ sung xen kẻ thức ăn hổn hợp và ET900 với artemia bung
dù. Trước khi cho ăn, dùng cốc thuỷ tinh quan sát đường ruột và hoạt động bơi lội của ấu
trùng để điều chỉnh thức ăn cho thích hợp. Lượng thức ăn được giảm khi ấu trùng có thức
ăn đầy ruột và bơi lội nhanh.
Thay nước: 5 ngày/lần mỗi lần thay 30% lượng nước mới.
Khi thấy nền đáy dơ thì xiphon cặn bã và xác ấu trùng ( trước khi xiphon thì ta nên tắt
sục khí để dễ xiphon nền đáy và tránh xáo trộn.
Bảng 3.2. Thức ăn hổn hợp
Thức ăn tổng hợp Thành phần(%)
Tảo 20
xvi
Lasy 20
Frippak 30
Lansy vảy 30
3.3.2. Ương ấu trùng từ giai đoạn Zoae
5
– Megalop.
Sau khi ấu trùng chuyển sang Zoea
5
thì tiến hành sang thưa. Ấu trùng Zoea
5
được
định lượng và sang thưa với mật độ 30 ấu trùng/L. Ấu trùng được ương trong bể có thể
tích 4 m
3
, với lượng nước trong bể 500L.
Thức ăn cho giai đoạn Zoea 5 gồm 55 g ấu trùng Artemia mới nở, khi khoảng
80% ấu trùng chuyển sang giai đoạn Megalopa thì cho ăn thức ăn chế biến. Thức ăn chế
ương
Thời điểm
theo dõi
Nhiệt độ
(
o
C)
pH Nitrit (mg/L) TAN
(mg/L)
Zoea
1
–
Sáng 28,3 ± 0,25 8,25 ± 0,5 0,15 ± 0,1 0,7 ± 0,1
Chiều 29,0 ± 1,0 8,25 ± 0,5
Zoea
5
-
Sáng 28,0 ± 1,0 8,25 ± 0,5 0,14 ± 0,05 0,40 ± 0,1
Chiều 29,1 ± 0,8 8,25 ± 0,5
4.1.1. Nhiệt độ
Trong ương nuôi thủy sản, nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình dinh dưỡng, thành thục và phát triển của động vật thủy sản. Nhiệt độ buổi sáng và
chiều trong suốt thời gian nuôi trênh lệch rất ít, dao động trong khoảng 28,0 – 29,1
o
C.
Marichamy and Rapackiam (1991) đã làm thí nghiệm ương ấu trùng cua biển ở các nhiệt
độ khác nhau kết quả cho thấy, ấu trùng rất chậm lột xác trong khoảng nhiệt độ 22 -24
o
; 6,30 mg/l đối với ấu trùng Z
2
; 2,55 mg/l đối với ấu trùng Z
3
; 2,99 mg/l đối với ấu
trùng Z
4
và 6,99 mg/l đối với Z
5
.
Như vậy với kết quả thu được từ đợt ương cho thấy, hàm lượng nitrit trong các nghiệm
thức vẩn phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của ấu trùng.
4.1.4 TAN
TAN trong suốt thời gian ương có giá trị thấp và dao động trong khoảng 0,40 –
0,70 mg/L. Nguyên nhân do, bể ương được quản lý tốt thức ăn, giảm thiểu thức ăn thừa.
Ngoài ra, bể ương cũng được định kỳ thay nước nên cũng làm giảm hàm lượng TAN
trong bể ương. Neil et al (2005) đã thực hiện thí nghiệm về độ độc cấp tính và mãn tính
của NH
3
lên ấu trùng cua biển Scylla serrata. LC
50-24h
của NH
3
đối với ấu trùng giai đoạn
Z
1
là 4,05 mg/l và đối với giai đoạn Z
5
là 6,64 mg/l. Qua kết quả thu được tác giả cho
rằng NH
lột xác biến thành giai đoạn megalopa. Từ giai đoạn này chỉ mất khoảng 7 - 11 ngày để
biến thành cua con.
So với kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả ở các điều kiện thí nghiệm khác nhau cho
thấy, thời gian hoàn thành chu kì ương ấu trùng trong đợt ương này ngắn hơn
Bảng 4.2: Tỷ lệ chuyển giai đoạn
Ngày Giai đoạn chuyển (%)
1 100% Zoea 1
2 90% Zoea 1
xix
3 75% Zoea2
4 100% Zoea 2
5 70% Zoea 3
6 100% Zoea 3
7 30% Zoea 4
8 100% Zoea 4
9 30% Zoea 5
10 100% Zoea 5
11 Xuất hiện Megalop
14 100% Megalop
4.3. Tỷ lệ sống
Trong quá trình ương cua biển, tỉ lệ sống giảm dần qua mỗi giai đoạn biến thái. Tỷ lệ này
càng thể hiện rỏ hơn khi ấu trùng chuyển giai đoạn từ Zoea5 sang Megalop. Theo Trần
Ngọc Hải và Trương Trọng Nghĩa (2004), tỷ lệ sống của ấu trùng sang Megalop tốt nhất
đạt 31%, khi ấu trùng được ương với mật độ 100 con/L. Cùng với mật độ ương 100
con/L, Phạm Văn Quyết (2008) đã báo cáo, tỷ lệ sống từ Zoea
1
đến Megalop dao động
trong khoảng 18,7 – 21,5%. Kết quả của đợt ương này cho thấy, tỷ lệ sống của Megalop
đạt 6,5 % là khá thấp so với các nghiên cứu trước đây. Có lẻ do, ấu trùng được ương với
mật độ cao 300 con/L nên tỷ lệ sống giảm do quá trình ăn nhau của ấu trùng. Ngoài ra, ấu
Chen, H C., Cheng, J H., 1985. Studies on the larval rearing of serrated crab, Scylla
serrata: I. Combined effects of salinity and temperature on the hatching, survival
and growth of zoeae. J. Fish. Soc. Taiwan 12, 70–77 (in Chinese with English
abstract).
Chen, H.C., Jeng, K.H., 1980. Study on the larval rearing of mud crab Scylla serrata.
China Fisheries Montly 329, 3-8.
Cowan, L. 1984. Crab farming in japan and Philippine. Queensland depart megalopant of
industries.
Emilia T. Quinitio , Fe D. Parado-Estepa, 2000. Transport of Scylla serrata megalopae at
various densities and durations. Aquaculture 185 (2000) 63–71
Hamasaki, K., 2002. Effects of temperature on the survival, spawning and egg incubation
period of overwintering mud crab broodstock, Scylla paramamosain (Brachyura:
Portunidae). Suisanzoshoku 50, 301– 308.
Heasman, M.P., Fielder, D.R., 1983. Laboratory spawning and mass rearing of the
mangrove crab Scylla serrata (Forska°l) from first zoea to first crab stage.
Aquaculture 34, 303– 316.
Hill, BJ 1975. Abudance, breeding and growth of crab Scylla serrata in two South
African Estuaries, pp 119-126
Hill,B.J (1980). Effect of temperature on feeding and activity in the crab Scylla serrata,
pp189-192: Mảine Biology 54 by Springu-Venlug 1980
Hoàng Đức Đạt, 2004. Kỹ thuật nuôi cua biển. Nhà xuất bản nông nghiệp
Hoàng Đức Đạt, 1995. Sinh học và nuôi cua biển. Tập huấn nuôi trồng thủy sản ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long.
Ian M. Ruscoe, Colin C. Shelley, Graham R. Williams, 2004. Limiting the use the first
zoeal stage in mud crab ( Scylla serrata Forska°l) larval rearing. Aquaculture
231 (2004) 517-527.
Ian M. Ruscoe, Colin C. Shelley, Graham R. Williams, 2004. The combined effects of
temperature and salinity on growth and survival of juvenile mud crabs (Scylla
serrata Forska°l). Aquaculture 238 (2004) 239–247
Katsuyuki Hamasaki, 2002. Effects of temperature on the egg incubation period, survival
M.Agus Suprayudi, Toshio Takeuchi, Katsuyuki Hamasaki and Jun Hirokawa,
2002.Effect of Artemia feeding schedule and density on the survival and
development of laral mud crab Scylla serrata. Fisheries Science, vol 68,
pp.1295-1303.
Mangapa et al, (1987). The growth of female and male mudcrab Scylla serrata reaised in
brackish-water pond, pp 94-102.
Manjulathe, C and Babu, D. E 1998. Phenomon of moulting and growth in the mud crab
Scylla serrata (Forskal) and Scylla oceanica (Dana) culture in the ponds and
laboratory, pp 76 – 81.
Mary lynn Seneriches – Abiera, Fe Parado-Estepa and Guadiosa AGonzales, 2007. Acute
toxicity of nitrite to mud crab Scylla serrata larvae. Aquaculure research, 2007,
38, 1495-1499 pp
Marichamy, R and S. Rapackiam, 1991. Experimegalopant on larvae rearing and seed
production of the mud crab (Scylla serrata). In report of seminar on mud crab
and trade. Held at surat thani-Thailand. November 5-8, 1991. 135-142pp
xxiv
Nguyễn Thu Dung. 2006. Nghiên cứu ương ghẹ xanh (Portunus pelagicus) bằng các loại
thức ăn khác nhau. Luận văn cao học. Khoa Thủy Sản. Trường Đại Học Cần
Thơ.
Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004. Giáo trình kỹ thuật sản xuất giống và
nuôi giáp xác. Khoa Thủy Sản. Trường Đại Học Cần Thơ.
Nguyễn Cơ Thạch. 1998. Bước đầu thử nghiệm nuôi vỗ cua mẹ và ương ấu trùng cua
xanh (Scylla paramamosain). Tuyển tập báo cáo sinh vật biển toàn quốc lần thứ
nhất. trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia. 475-485.
Nguyễn Cơ Thạch, Trương Quốc Thái, Nguyễn Diễu, Nguyễn Thanh Thúy, Hà Văn Khô,
Đỗ Văn Phiên, 1998. Đặc điểm sinh học sinh sản và quy trình sản xuất cua giống
loài (Scylla paramamosain). Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học công
nghệ - Trung tâm nghiên cứu thủy sản III, 227 – 266.
Nguyễn Lê Tường Vi, 2005. Khảo sát ảnh hưởng của một số dòng vi khuẩn đối với sự
phát triển của ấu trùng cua biển (Scylla paramamosain).