BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN
THU HOẠCH, BẢO QUẢN
VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
MÃ SỐ: 05
NGHỀ: TRỒNG BẦU, BÍ, DƯA CHUỘT
Trình độ: Sơ cấp nghề
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN:
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham
khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
MÃ TÀI LIỆU: MĐ 05
Bộ giáo trình gồm 5 quyển:
1) Giáo trình mô đun Chuẩn bị điều kiện trước khi trồng
2) Giáo trình mô đun Trồng và chăm sóc bầu
3) Giáo trình mô đun Trồng và chăm sóc bí
4) Giáo trình mô đun Trồng và chăm sóc dưa chuột
5) Giáo trình mô đun Thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm
Để hoàn thiện bộ giáo trình này chúng tôi đã nhận được sự chỉ đạo, hướng
dẫn của Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Nông nghiệp và PTNT; Tổng cục dạy nghề -
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Sự hợp tác, giúp đỡ của các nhà khoa
học, cán bộ kỹ thuật của các Viện, Trường, cơ sở sản xuất bầu, bí, dưa chuột,
Ban Giám Hiệu và các thầy cô giáo Trường Cao đẳng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Bắc Bộ. Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Vụ Tổ chức
cán bộ - Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục dạy nghề, Ban lãnh đạo các Viện,
Trường, các cơ sở sản xuất, các nhà khoa học, các cán bộ kỹ thuật, các thầy cô
giáo đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi để
hoàn thành bộ giáo trình này.
3
Giáo trình mô đun “Thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm” giới thiệu
thời điểm thu hoạch các loại bầu, bí, dưa chuột, cách thức bảo quản các loại cây
đó, các hình thức bán sản phẩm bầu, bí, dưa chuột bằng hình thức: Giới thiệu
sản phẩm, chuẩn bị địa điểm bán hàng, thực hiện bán hàng, hạnh toán hiệu quả
sau khi trồng bầu, bí, dưa chuột.
Trong quá trình biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những sai sót,
chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các
cán bộ kỹ thuật, các đồng nghiệp để giáo trình hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
5 Hình số 5.1.1: Bầu giai đoạn thu hoạch
1.2. Phương pháp thu hoạch, bảo quản
Tiêu chuẩn bầu thu hoạch để làm giống: Trái to, cân đối, mang đầy đủ
đặc trưng, đặc tính của giống, thu hái những trái ở vị trí thấp vì những hạt trái
đó có năng suất và chất lượng hạt giống cao
Hình 5.1.2: Thu hoạch bầu
Phương pháp thu hoạch: Dùng dao sắc hoặc kéo cắt dứt khoát ở vị trí
cuống quả.
Thao tác khi thu hái, sắp xếp và vận chuyển phải hết sức nhẹ nhàng. Kịp
thời loại bỏ những quả bị sây sát, giập nát v.v. Có thể bao bọc quả bằng giấy
chuyên dụng, màng lưới xốp để có thể vận chuyển và bảo quản được bầu lâu
hơn, xa hơn và an toàn.
Lưu ý: Khi thu bầu, do va đập trong khi sắp xếp, vận chuyển, quả bị sây
sát, bị giập sẽ là môi trường tốt cho bệnh hại xâm nhiễm, hô hấp tăng lên gây
hư thối và giảm chất lượng.
6
1.3. Tiêu chuẩn chất lượng bầu
- Quả tươi, màu trắng nhạt đến đậm,
- Không có bệnh, côn trùng và những chất không tốt trên bề mặt trái.
Hình số 5.1.3. Quả bầu đủ tiêu chuẩn thu hoạch
1.4. Bảo quản hạt giống bầu
Muốn lấy giống phải để trái già, dây nào để trái giống thì không cho trái
tươi nửa. Chọn trái tốt gần gốc, giữ cho đến khi dây tàn, Vỏ trái chuyển sang
2.4. Bảo quản giống bí xanh
Muốn lấy giống phải để trái già, dây nào để trái giống thì không cho trái
tươi nửa. Chọn trái tốt gần gốc, giữ cho đến khi dây tàn, Vỏ trái chuyển sang
vàng, hóa gổ. Thu trái giống về treo nơi thoáng mát cho hạt bên trong chín đầy
đủ, cắt bỏ đầu và cuối trái, bổ phần giữa lấy hạt rửa sạch, phơi khô rồi cất giữ
trong chai lọ kín.
3. Thu hoạch, bảo quản bí đỏ
3.1. Giai đoạn thu hoạch thích hợp
Nếu ăn ngay hoặc tiêu thụ nhanh tại điạ phương có thể thu trái non
(khoảng 30 ngày sau khi đậu trái), trái thu non hái được nhiều trái và dây lâu
tàn. Nếu để dự trử lâu nên thu khi trái thật già vỏ cứng có màu vàng, có lớp
sừng, có phấn, cuống vàng và cứng (khoảng 3 - 4 tháng sau khi trồng) tùy theo
giống 9 Hình số 5.1.6: Thời điểm thu hái bí đỏ trái non và bí đỏ thu hái chín già
3.2. Phương pháp, bảo quản thu hoạch
Thao tác khi thu hái, sắp xếp và vận chuyển phải hết sức nhẹ nhàng. Kịp
thời loại bỏ những quả bị sây sát, giập nát v.v.
Dùng dao cắt cả cuống đem về bôi vôi vào mặt cắt giữ nơi thoáng mát.
Năng suất 20 - 30 tấn/ha.
Lưu ý: Khi thu hái bí đỏ thu hái non, quả rất mềm do va đập trong khi sắp xếp,
vận chuyển, quả bị sây sát, bị giập sẽ là môi trường tốt cho bệnh hại xâm
nhiễm, hô hấp tăng lên gây hư thối và giảm chất lượng.
11
Hình số 5.1.8: Ngọn bí đủ tiêu chuẩn thu hái
5. Thu hoạch dưa chuột
5.1. Giai đoạn thu hoạch thích hợp
- Giống sớm:
Sau khi trồng
được 35 ngày thì
thu hoạch trái.
- Giống trung
và giống muộn
thu hoạch sau khi
trồng được 50-60
ngày. Thời gian
sinh trưởng của
dưa chuột thay
đổi từ 65-70
ngày, 100-110
ngày tùy thuộc
đặc điểm của
giống. Hình số 5. 1.9: Quả dưa chuột vào giai đoạn thu hoạch
5.2. Phương pháp thu hoạch, bảo quản
12
Hình số 5.1.10: Thu hoạch dưa chuột
- Học viên thực hiện
Bài thực hành 2: Thu hoạch bí xanh.
Mục đích:
Giúp học viên thực hiện được các biện pháp thu hoạch bí xanh
Yêu cầu:
- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ để thu hoạch bí xanh
- Thực hiện được thành thạo các khâu thu hoạch bí xanh
Dụng cụ và vật tư
*Dụng cụ:
Dao, kéo, liềm, thúng, xảo, sọt, quanh gánh, xe cải tiến.
*Vật tư:
Ruộng bí xanh đến thời kỳ thu hoạch
Phương pháp
14
- Giáo viên hướng dẫn, làm mẫu
- Phân thành nhóm 3- 4 người/nhóm
- Học viên thực hiện
Bài thực hành 3: Thu hoạch bí đỏ lấy quả và hạt.
Mục đích:
Giúp học viên thực hiện được các biện pháp thu hoạch bí đỏ
Yêu cầu:
- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ để thu hoạch bí đỏ
- Thực hiện được thành thạo các khâu thu hoạch bí đỏ
Dụng cụ và vật tư
*Dụng cụ:
Dao, kéo, liềm, thúng, xảo, sọt, quanh gánh, xe cải tiến.
*Vật tư:
Ruộng bí đỏ đến thời kỳ thu hoạch
Phương pháp
Ruộng dưa chuột lấy ngọn đến thời kỳ thu hoạch
Phương pháp
- Giáo viên hướng dẫn, làm mẫu
- Phân thành nhóm 3- 4 người/nhóm
- Học viên thực hiện Ghi nhớ:
- Xác định đúng thời điểm thu hoạch bầu, bí, dưa chuột để đảm bảo chất lượng
tốt.
- Quan sát hình thái bên ngoài quả, thân lá để xác định đúng thời kì thu
hoạch.
-Thu hoạch vào thời điểm khi trời nắng ráo.
16
Bài 2: QUẢNG BÁ GIỚI THIỆU SẢN PHẨM
Mã bài: MĐ5- 02
Mục tiêu:
Học xong bài này học viên có khả năng
- Xác định được sự cần thiết phải quảng bá sản phẩm khi bán hàng
- Thiết kế được các chương trình và lựa chọn được hình thức quảng bá
loại sản phẩm của mình ra thị trường
A. Nội dung
1. Giới thiệu sản phẩm bầu, bí, dưa chuột sản xuất theo hướng Viet
Tạp chí
- Chọn lọc độc giả, khu vực
- Có chất lượng tái tạo
- Gắn bó với độc giả trong thời
gian lâu
- Thời gian gián đoạn dài
giữa hai lần xuất bản
Truyền thanh
- Sử dụng rộng rãi
- Linh động về khu vực địa lý
- Chi phí thấp
- Đánh vào tai của người
nghe
- Ít gây chú ý hơn ti vi
- Thời gian ngắn
Truyền hình
- Kết hợp tốt âm thanh, hình
ảnh, màu sắc.
- Bao quát số lượng lớn khán
giả
- Gây chú ý về tâm lý, hấp dẫn,
thú vị
- Không chọn được khán giả
- Có thể nhàm chán, bỏ qua
- Thời gian ngắn
- Chi phí cao
Quảng cáo
ngoài trời
- Linh động, lặp lại cao
Marketing là hình thức kinh doanh nhằm đạt mục tiêu của các doanh
nghiệp thông qua việc cung ứng vượt mức về các yêu cầu của khách hàng và
thực hiện tốt việc đáp ứng các nhu cầu của khách hàng hơn là chạy theo các
phương thức cạnh tranh.
2.2. Chức năng của marketing trong kinh doanh các sản phẩm bầu, bí,
dưa chuột
Chức năng cung cấp, hấp dẫn, thu hút và thỏa mãn tốt mọi nhu cầu của
khách hàng tiêu dùng sản phẩm bầu, bí, dưa chuột ở mọi thị trường trong và
ngoài nước.
Chức năng kết nối giữa sản xuất với tiêu dùng cuối cùng về các loại sản
phẩm bầu, bí, dưa chuột. Đối với đa số các sản phẩm công nghiệp, vai trò của
marketing đã trở nên vô cùng quan trọng, tuy nhiên đối với các sản phẩm bầu,
bí, dưa chuột theo hướng VIETGAP như hiện nay thì vai trò của marketing
trong các kênh phân phối hầu như còn rất mới mẻ. Do tính đồng nhất tường đối
của các sản phẩm, nên việc xây dựng thương hiệu và quản lý thương hiệu là rất
khó khăn và càng khó hơn cho các hoạt động marketing. Tuy nhiên, các sản
phẩm bầu, bí, dưa chuột là những hàng hóa không bảo quản được nhiều và tích
lũy được lâu, nhanh bị hư hỏng chính vì vậy mà rất cần tới chức năng quan
trọng của marketing. Đây là một vấn đề khó song không phải là vấn đề không
thể thực hiện được đối với các loại bầu, bí, dưa chuột thông thường.
Chức năng của marketing trên kênh phân phối sản phẩm là làm cho các
dòng chảy của các sản phẩm bầu, bí, dưa chuột và các dịch vụ từ người sản
19
xuất đến người tiêu dùng cuối cùng được thông suốt, trật tự nhanh chóng, đến
đúng địa điểm, thời gian và người nhận với chi phí vận chuyển trên mỗi đơn vị
sản phẩm thấp hơn tỷ lệ sản phẩm hư hỏng giảm đi đáng kể, doanh lợi cao hơn
cho toàn kênh và trong mỗi khâu của kênh, đồng thời thanh toán trở lại đúng
giá, nhanh gọn sòng phẳng, dứt điểm và thuận tiện.
Theo chức năng trên thì các dòng chảy trên kênh phân phối gồm có các
Như vậy, việc phân khúc thị trường các loại sản phẩm sẽ giúp những
khách hàng trong một khúc thị trường sẽ có sự đồng nhất (tương đối giống
nhau) về nhu cầu hoặc ước muốn hoặc có những phản ứng giống nhau trước
20
những kích thích marketing. Việc phân khúc như vậy cũng sẽ giúp doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm bầu, bí, dưa chuột lựa chọn một hoặc một
vài phân khúc làm thị trường mục tiêu, làm đối tượng ưu tiên cho những nỗ lực
marketing của doanh nghiệp mình.
b. Yêu cầu chung của việc phân khúc thị trường
Khi thị trường sản phẩm bầu, bí, dưa chuột đã được phân khúc, các
doanh nghiệp sẽ nhằm vào một mục tiêu rõ ràng và cụ thể hơn và có hiệu lực
hơn. Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc phân chia thị trường các
loại sản phẩm tổng thể càng nhỏ sẽ càng có lợi. Vì vậy, điều quan trọng nhất
trong việc phân khúc thị trường là phải phát hiện được tính không đồng nhất
giữa các nhóm khách hàng và số lượng khách hàng trong mỗi khúc phải đủ khả
năng bù đắp lại những nỗ lực marketing của doanh nghiệp thì việc phân đoạn
mới có hiệu quả.
Tóm lại, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các loại sản phẩm bầu, bí,
dưa chuột có thể đáp ứng tốt các nhu cầu về sản phẩm của một nhóm khách
hàng và có lợi nhuận thì nhóm khách hàng đó chính là một phân khúc thị
trường có hiệu quả.
Tóm lại, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các loại có thể đáp ứng tốt
các nhu cầu về sản phẩm của một nhóm khách hàng và có lợi nhuận thì nhóm
khách hàng đó chính là một phân khúc thị trường có hiệu quả.
3.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu
Thị trường mục tiêu là việc lựa chọn những nhóm khách hàng tiềm năng
mà doanh nghiệp sẽ phục vụ với các sản phẩm nhất định. Khi lựa chọn thị
trường mục tiêu, cần làm rõ một số vấn đề như:
- Loại sản phẩm nào sẽ được bán để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
4.2. Đối với sản phẩm
Xuất phát từ các áp lực cạnh tranh, sự thay đổi thị hiếu người tiêu
dùng buộc các nhà sản xuất phải đổi mới sản phẩm của mình để tiếp tục phát
triển. Đối với các loại sản phẩm như bầu, bí, dưa chuột, đổi mới thực chất là
một bản sao chép hoặc những bản mới của những sản phẩm hiện có.
4.3. Phát triển sản phẩm mới
Theo đà phát triển ngày càng cao của kinh tế xã hội thì đời sống của
người dân cũng không ngừng được nâng cao. Theo đó nhu cầu và thị hiếu của
người tiêu dùng sẽ đòi hỏi cao hơn đối với hầu hết các loại sản phẩm. Sẽ có
những nhu cầu về một loại sản phẩm mới cả về số lượng và chất lượng chứ
không phải là đổi mới nữa.
Việc phát triển sản phẩm mới thường tuân theo các bước sau:
Bước 1: Tìm kiếm và lựa chọn ý tưởng cho sản phẩm mới
Bước 2: Nghiên cứu thiết kế mẫu và thử nghiệp sản phẩm mới
Bước 3: Phát hành và phổ biến sản phẩm mới. Giai đoạn này rất quan
trọng và nó liên quan đến một số vấn đề sau:
- Thời điểm để tung sản phẩm chính thức vào khi nào
- Địa điểm tung sản phẩm mới ở đâu
- Đối tượng khách hàng mà doanh nghiệp tập trung bán sản phẩm mới
- Cách thức tung sản phẩm mới và các hỗ trợ cần thiết trên thị trường
5. Một số chiến lược về giá của các loại sản phẩm
22
5.1. Những yếu tố ảnh hưởng tới việc xác định giá của sản phẩm
a. Yếu tố nội bộ
Khi một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm nào đó đã
xác định được thị trường mục tiêu, xác định được vị trí của sản phẩm trên thị
trường thì điều đó có nghĩa là chiến lược marketing hỗn hợp trong đó có chiến
lược giá sẽ thực hiện được một cách thuận lợi hơn nhiều. Khi doanh nghiệp đã
xác định rõ mục tiêu thì việc đánh giá sản phẩm sẽ dễ dàng hơn
rất khó đo lường.
23
Trên cơ sở định giá ban đầu cho các loại sản phẩm, các nhà sản xuất kinh
doanh các loại sản phẩm có thể điều chỉnh giá dựa vào những lợi thế về sản
phẩm của mình thông qua một số chiến lược giá cả:
5.3. Một số chiến lược giá cả
Chiến lược hớt váng sữa: đây là chiến lược tập trung vào một số thị
trường nhỏ nhưng lợi nhuận cao. Chiến lược này thường áp dụng đối với một
số sản phẩm bầu, bí, dưa chuột cao cấp phục vụ cho ít khách hàng, các nhà
hành, khách sạn cao cấp và phục vụ cho xuất khẩu. Áp dụng chiến lược này,
các doanh nghiệp thường đặt giá cao nhất cho sản phẩm, tới mức tiêu thụ giảm
xuống thì doanh nghiệp lại giảm giá để thu hút thêm các khách hàng mới.
Chiến lược giá xâm nhập: đây là chiến lược đối lập với chiến lược vớt
váng sữa, các doanh nghiệp sản xuất cung ứng sản phẩm ra thị trường thường
định giá ban đầu thấp để nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường với doanh số
lớn và nhờ đó các doanh nghiệp vẫn thu được lợi nhuận như mong muốn.
Chiến lược chủ động thay đổi giá cả: đối với một số các sản phẩm có lợi
thế so sánh về nhu cầu lúc trái vụ hay lúc khan hiếm trêm một số thị trường, khi
đó các doanh nghiệp sản xuất cung ứng sản phẩm nên chớp cơ hội để tăng giá
lên. Tuy nhiên, các sản phẩm bầu, bí, dưa chuột không thể bảo quản và tích lũy
lâu như một số sản phẩm công nghiệp khác. Vì thế, khi nhu cầu trên thị trường
giảm sút, chúng ta nên có biện pháp điều chỉnh lại năng lực sản xuất cung ứng,
không nên áp dụng chiến lược bán phá giá như một số sản phẩm công nghiệp
khác.
Chiến lược định giá bán tại cửa các trang trại: người mua sẽ phải thanh
toán toàn bộ chi phí vận chuyển các sản phẩm ra từ cửa trang trại (nơi giao
hàng của người bán) tới địa điểm cuối cùng của người mua. Ưu điểm của chiến
lược này là người bán không phải lo chi phí vận chuyển. Nhược điểm là người
bán dễ bị mất khách háng nếu các đối thủ cạnh tranh áp dụng các mức giá và
Dựa vào sự phân tích mục tiêu quảng bá, ngân sách dành cho quảng bá,
thị trường mục tiêu, các nhà quản trị marketing cần lựa chọn phương tiện
quảng bá phù hợp với sản phẩm, thời gian, địa điểm tiến hành quảng cáo sản
phẩm.
Hiện nay, các sản phẩm bầu, bí, dưa chuột được quảng bá trên nhiều
phương tiện truyền thông. Với lợi thế hình ảnh sản phẩm đẹp được quảng cáo
trên các tạp chí, các tờ rơi, ti vi, các web site trên internet,
7. Giám sát và đánh giá kết quả quảng bá.
Việc đánh giá hiệu quả quảng cáo không có phương pháp tính toán
chính xác. Mặc dù số tiền chi cho hoạt động quảng cáo là rất lớn nhưng không
thể tính được số tiến đó đạt hiệu quả về doanh thu, lợi nhuận là bao nhiêu. Một
cách hợp lý để đánh giá hiệu quả quảng cáo là xem những mục tiêu đề ra của
quảng cáo có thể đạt được hay không.
B. Câu hỏi và bài tập
Bài tập 1: Thiết kế mẫu tờ rơi quản cáo cho sản phẩm bầu, bí, dưa chuột
- Công việc của nhóm: Thiết kế tờ quản cáo
- Nguồn lực cần thiết: Giấy, bút màu, bút viết
- Địa điểm: Lớp học
- Cách thức: chia nhóm nhỏ (3- 5 học viên/nhóm)
- Thời gian cần thiết để thực hiện công việc: 3 giờ
- Phương pháp đánh giá: Giáo viên quan sát thực hiện của học viên, các
nhóm tự đánh giá cho nhau