TÊN ĐỀ TÀI
”ĐÔ THỊ VIỆT NAM TỪ THỜI LẬP QUỐC ĐẾN THẾ KỈ 19”
I. Bối cảnh :
I.1. Giới thiệu tóm tắt vị trí địa lý và tự nhiên :
a)Vị trí địa lý:Việt Nam (tên chính thức : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là một quốc gia nằm ở
phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á. Việt Nam phía bắc giáp Trung Quốc,
phía tây giáp Lào và Campuchia, phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía đông và phía nam giáp biển
Đông .
b)Điều kiện tự nhiên:
• Địa hình: Địa hình của Việt Nam khá đặc biệt với hai đầu phình ra (Bắc bộ và
Nam bộ) ở giữa thu hẹp và kéo dài (Trung bộ). Địa hình miền Bắc tương đối phức tạp. Địa
hình Trung bộ với dải Trường Sơn trải dọc phía tây về giải đồng bằng hẹp ven
biển. Địa hình Nam Bộ bằng phẳng, thoải dần từ đông sang tây là vựa lúa của cả nước, hàng
năm đang tiếp tục lấn ra biển hàng trăm mét.
• Sông ngòi: Hai con sông lớn Hồng Hà và Cửu Long bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam
(Trung Quốc) bồi đắp lên hai châu thổ lớn là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông
Cửu Long. Việt Nam cònc ó h ệ th ố n g s ô n g n g ò i p h â n bổ đ ề u k h ắ p từ bắc
t ớ i n a m v ớ i l ư u vực lớ n , hình thành nền văn minh lúa nước lâu đời của người Việt
bản địa.
• Khí hậu:Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao
và độ ẩm lớn,chia ra làm hai đới khí hậu lớn:
- Miền Bắc(từ đèo Hải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt ,
chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam.
- Miền Nam (từ đèo Hải Vân trở vào) do ít chịu ảnh hưởng của giómùa nên khí hậu
nhiệt đới khá điều hòa, nóng quanh năm và chia thành hai mùa rõ rệt (mùa khô và
mùa mưa).
I.2. Giới thiệu tóm tắt lịch sử giai đoạn xây dựng :
• Giai đoạn nhà nước sơ sử :
1.Nước Văn Lang : cách đây hơn 4000 năm
các tộc người Việt cổ (Bách Việt) đã xây dựng
Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và một số vùng Tây Nguyên Vương quốc Cham Pa
suy tàn từ đầu thế kỷ 15 sau cuộc can thiệp do quân đội nhà Minh Sau khi quân đội nhà
Minh rút về, vương quốc Chăm Pa được phục hồi nhưng chia thành 2 tiểu vương quốc: Tiểu
vương quốc Vijaya (Đồ Bàn: 1428-1471) và Tiểu vương quốc Panduranga (Phan Rang: 1433-
1832).
• Tiểu vương quốc Vijaya bị quân đội Đại Việt tiêu diệt dưới sự chỉ huy của vua Lê Thánh Tông
năm 1471
• Năm 1693, Nguyễn Hữu Cảnh đã một lần chinh phục Tiểu vương quốc Panduranga, đổi tên
Chiêm Thành quốc thành Thuận Thành trấn.
4.Nước Chân Lạp( hay còn gọi là Cao Miên) :là nhà nước đầu tiên của người Khmer tồn tại trong
giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802 trên phần phía nam của bán đảo Đông Dương gồm
cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện đại.Các vương quốc láng giềng xung
quanh vào thời kỳ ban đầu là Chăm Pa ở phía đông, Phù Nam ở phía nam và Dvaravati (thuộc Thái
Lanngày nay) ở về phía tây bắc.
Ban đầu Chân Lạp là một nhà nước chư hầu của Phù Nam.Trong thế kỷ 7 (khoảng giai đoạn 612-
628), nhà nước này đã xâm chiếm toàn bộ Phù Nam, nhưng lại hấp thu nền văn hóa của họ.Trong
thế kỷ 8, Chân Lạp bị chia thành hai tiểu quốc là Lục Chân Lạp (với trung tâm của Lục Chân Lạp khi đó
là tỉnhChampasak ngày nay của Lào) và Thủy Chân Lạp (tương ứng với khu vực đồng bằng sông Cửu
Long ở Việt Nam và miền nam Campuchia ngày nay).
Vua Cao Miên là Nặc Ông Nguyên băng hà năm 1758. Nội chiến ở Cao Miên xảy ra . Các vua Cao
Miên lại sang triều Nguyễn dâng đất cầu cứu. Thế là Nặc Ông Thuận (Thommo Réchea) hiến Sóc
Trăng, Bạc Liêu. Nặc Ông Tôn (Ang Tong) hiến hết đất từ núi Thất Sơn, Sa Ðéc, Kiên Giang và Long
Xuyên về sau đều thuộc chủ quyền chúa Nguyễn.Từ đây chấm dứt cuộc nam tiến của dân tộc Việt
Nam.
3 | P a g e
Ghi chú : Lãnh thổ của Chân LẠp, Phù Nam , Lâm Ấp so với Việt Nam hiện tại
• Giai đoạn thuộc địa đến hết thế kỉ 19 :Đến giữa thế kỷ 19, cùng với các nước ở Đông
Dương, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Trong Thế chiến thứ hai, phát xít Nhật chiếm
Việt Nam và toàn thể Đông Dương, ngay sau khi hay tin đế quốc Nhật đầu hàng quân Đồng
Minh, Việt Minh đã giành lại chính quyền từ tay Nhật. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí
968-980
980-1009
• Đại Cồ Việt.Triều Đinh
(Đinh Bộ Lĩnh)
• Đại Cồ Việt .Triều Tiền Lê
Kinh đô Hoa Lư (xã Trường Yên _
Hoa Lư_ tỉnh Ninh Bình)
1010-1225 Đại Việt .Triều Lý Kinh đô Thăng Long(Hà Nội)
1225-1400 Đại Việt .Triều Trần
Đại Ngu.Triều Hồ ( Hồ Quý
• Thành Long Phượng (Hà Nội)
4 | P a g e
1400-1407
1407-1413
1414-1427
Ly)
Triều Hậu Trần
Thời thuộc Minh (Trung
Quốc)
• Thành nhà Hồ hay Tây Đô(Vĩnh
Lộc _Thanh Hóa)
1428-1527 Đại Việt .Nhà Lê Sơ
• Đông Kinh (Hà Nội)
• Lam Kinh hay còn gọi là Tây Kinh.
(Thọ Xuân , Thanh Hóa)
1527-1789 Đại Việt.
Nhà Mạc , nhà Hậu Lê
• Thành Xích Thố (Xã Xích Thố
,Hoành Bồ , Quảng Ninh)
• Thành Cẩm Phả (Cẩm Phả, Quảng
• Thành phố Đà Nẵng…
5 | P a g e
192-1832 Lâm Ấp _Hoàn
Vương_Chiêm Thành
_Chăm Pa
Tồn tại như một quốc gia
độc lập tại miền Trung
Việt Nam , sau đó bị sáp
nhập vào Đại Việt dưới
thời nhà Nguyễn .
• Kinh đô Trà Kiệu
• Mỹ Sơn
• Khu di tích Đồng Dương
• Thành cổ Châu Sa(Quảng Ngãi),
thành Đồ Bàn(Bình Định),thành
Hóa Châu(Huế)
Bối cảnh hình thành :Các đô thị cổ Việt Nam ban đầu được hình thành trên cơ sở các trung tâm
chính trị và quân sự, ở đó các tòa thành phục vị cho mục đích phòng thủ và bên trong là nơi đồn trú
của các thế lực phong kiến. Bên cạnh phần "đô" còn tồn tại phần "thị"; là nơi tập trung các thợ thủ
công sản xuất ra các hàng hóa tiêu dùng và những cư dân làm nghề buôn bán trao đổi hàng hóa cần
thiết, đó là những người không sản xuất nông nghiệp. Như vậy thành thị đã ra đời, mang tính chất
chính trị quân sự và kinh tế. Các trung tâm này đóng vai trò chủ đạo của cả nước hay chỉ là trung tâm
ở các địa phương. Đó là các kinh đô của các triều đại phong kiến như Cổ Loa, Thăng Long, Huế và
các lỵ sở cuả quan lại địa phương như tỉnh lỵ, huyện lỵ, phủ lỵ như Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa chưa phát triển tính chất chính trị quân sự chi phối và trội hơn
tính chất kinh tế thương nghiệp. Đến thế kỷ XVI - XVII do ngoại thương phát triển mạnh làm xuất
hiện một số đô thị mang tính chất kinh tế thương mại thuần túy như Phố Hiến, Hội An, Gia Định và
có cấu trúc đô thị tương đối hoàn chỉnh.
I.3. Giới thiệu quan niệm của xã hội ảnh hưởng đến thiết kế tổng mặt bằng:
• Việt Nam nằm trên hệ tọa độ giao lưu giữa các nền văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ , trong
• Ở đô thị cổ Việt Nam,thị dân không có quyền tự quản trong khi ở nhiều nước Châu Âu thời
trung cổ đều có hội đồng quản hạt .Ở Việt Nam chỉ có tầng lớp có địa vị cao nhất là quý
tộc ,quan lại đại diện cho nhà nước quân chủ.
II.1. Chọn lựa vị trí.
• Theo vị trí địa lý : -Đô thị miền núi (Kỳ Lừa, Hưng Hóa),Đô thị cảng ( Vân Đồn , Phố Hiến , Hội
An),Đô thị nội địa (Thăng Long,Huế, Gia Định )
• Theo giai đoạn phát triển :
- Giai đoạn sơ sử:Do tiềm lực đất nước còn kém nên đô thị mang nặng tính quân sự , vị trí chủ
yếu dựa vào địa hình tự nhiên
- Giai đoạn phong kiến:Ảnh hưởng của Nho giáo và hoàng quyền , vị trí chịu ảnh hưởng của
phong thủy
- Giai đoạn thuộc địa :ảnh hưởng của nghệ thuật quy hoạch tây phương
II.2. Quan niệm tổ chức bố cục tổng thể.
• Đô (thành):nơi ở, nơi thiết triều của vua và bộ máy chính quyền Phần đô thành có bố cục
hình học chặt chẽ .Yếu tố "Đô" trong đô thị Việt Nam luôn gắn liền với "Thành", "Dinh",
"Trấn" là những trung tâm cai trị của chính quyền nhà nước quân chủ,
• Thị: nơi cư trú của cư dân, thường có bố cục tự do.Đây là nơi giao lưu của các luồng hàng
trong quan hệ thương mại, nơi tập trung các cư dân buôn bán, tạo thành các "thị"; sau đó do
nhu cầu quản lý, nhà nước phong kiến đặt các cơ sở kiểm soát, các nhiệm sở của mình, dần
hình thành lên đô thị,
II.3. Giới thiệu nghệ thuật quy hoạch
-nghệ thuật phong thủy Trung Hoa
- nghệ thuật thành quân sự Vauban
- triết lý nho giáo, phật giáo , ấn độ giáo , thiên chúa giáo.
III. Giới thiệu thành phố tiêu biểu :
III.1)Đô thị từ thời lập nước đến hết thời kì Tiền Lê:Thành Cổ Loa
"tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử
xây dựng thành lũy của người Việt cổ"
• Về mặt quân sự: thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và
chống ngoại xâm,là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh
- Các vòng tường thành không phải đều do đắp xây mà nhiều đoạn vốn là gò đất tự nhiên. Tường
thành được đắp nối các gò vốn có hoặc đắp thêm trên các gò theo thế tự nhiên mà thành.
8 | P a g e
- Cách đắp đào đất ngay cạnh tường phía ngoài mà đắp cao dần lên. Phần đất bị đào sâu trở thành
hào ngoài. Khi đắp người ta tất có đập, đầm, nhưng không dùng gậy nhồi kỹ như kiểu trình tường
(một cách đắp thành của Trung Quốc).
b) Tường thành là vòng tường thành còn được bảo vệ chu đáo nhất trong cả ba vòng, đặc biệt là
phần phía bắc Một điểm độc đáo hầu như chưa thấy ở đâu là vòng tường ngoài và vòng tường giữa
được đắp bằng nhau ở phía nam tạo thành một quãng trống làm cửa ra vào.
c) Tường thành trong mang dáng vẻ khác hẳn hai vòng tường trên, có hình chữ nhật nghiêm chỉnh.
Đáng lưu ý là quanh tường thành trong có đắp 12 ụ đất nhô ra phía ngoài gọi là "hỏa hồi". Hỏa hồi
được đắp rất cân xứng. Mỗi tường ngang hai chiếc, mỗi tường dọc bốn chiếc (hai dài, hai ngắn). Tính
cân đối còn thể hiện ở cả gián cách giữa các hỏa hồi của các tường đối diện. Hỏa Hồi ở hai tường dọc
đều được bố trí như nhau
d) Những gò đất.Trong phạm vi ba vòng thành cũng như bên ngoài có nhiều gò đất tròn, dài, có khi
thành dải dài.,đây là những ụ, lũy phòng vệ, là những pháo đài tiền vệ.
2.Hào ngoài:Cả ba vòng tường thành đều có hào ngoài.
• Hào thành ngoài phía tây nam và nam, lợi dụng con sông Hoàng chảy gần sát với thành. Phía
tây nam từ gò Cột Cờ, phía đông từ Đầm Cả, người xưa đã đào khắp ven phía ngoài tường
thành. Như vậy nước sông Hoàng có thể chảy thông khắp thành.
• Hào thành giữa nối với hào thành ngoài ở Cột Cờ và Đầm Cả. Ơở quãng Đầm Cả qua cổng
Cửa Song, hào này còn nối liền với năm con lạch chảy tựa bàn tay xòe phạm vi thành giữa.
Như vậy sông Hoàng cũng cung cấp nước cho cả vùng hào thành giữa và hệ thống lạch trong
thành.
• Hào thành ngoài và giữa ngày nay đã bị bồi lấp nông đi và trở thành những dải ruộng chiêm,
rộng trung bình từ 10 đến 30 mét.
• Hào thành trong cũng được đào xung quanh tường thành. Hào thành trong là một vòng hào
khép kín nối với sông Hoàng bằng một trong năm lạch nước ở thành giữa
3.Cửa thành
• Vòng thành trong chỉ mở một cửa chính giữa tường thành phía nam. Thành trong lại được
• Vùng bảo vệ đặc biệt có diện tích 3 km² gồm toàn bộ khu vực bên trong thành Hoa Lư, trong
vùng có các di tích lịch sử: đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền Vua Lê Đại Hành, lăng vua Đinh,
lăng vua Lê, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, bia Câu Dền, chùa
Kim Ngân, hang Bim, chùa Cổ Am, chùa Duyên Ninh, phủ Chợ, sông Sào Khê, một phần khu
sinh thái Tràng An và các đoạn tường thành, nền cung điện nằm dưới lòng đất
• Vùng đệm có diện tích 10,87 km² gồm cảnh quan hai bên sông Sào Khê và quần thể Tràng
An. Trong vùng có các di tích lịch sử: động Am Tiên, hang Quàn, hang Muối, đình Yên Trạch,
chùa Bà Ngô, hang Luồn, hang Sinh Dược, hang Địa Linh, hang Nấu Rượu, hang Ba Giọt, động
Liên Hoa, đền Trần, phủ Khống, phủ Đột, hang Bói
• Các di tích liên quan trực tiếp gồm các di tích không nằm trong 2 vùng trên nhưng có vai trò
quan trọng đối với quê hương và sự nghiệp của triều đại nhà Đinh như chùa Bái Đính, cổng
Đông, cổng Nam, động Thiên Tôn, động Hoa Lư, đền thờ Đinh Bộ Lĩnh
Đền Vua Đinh Tiên
Hoàng
Đền Vua Lê Đại Hành Chùa Nhất Trụ Phủ Vườn Thiên
Cổng Đông
QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HOA LƯ
Cổng Nam
Đền Vua Lý Thái Tổ
Tràng An
Đền thờ Phất Kim Chùa Bái Đính
10 | P a g e
Động Am Tiên Động Thiên Tôn Đền thờ Đinh Bộ Lĩnh Chùa Bàn Long
III.2.d)Nghệ thuật bố cục :
• Thành thiên tạo :Kinh đô Hoa Lư được bao bọc bởi nhiều ngọn núi, các triều vua đã dựa
theo địa hình tự nhiên cho đắp 10 đoạn tường thành nối các núi đá, dựng nên thành Hoa Lư
với diện tích hơn 300 ha. Toàn bộ công trình chủ yếu được các vua Đinh, Lê dựa vào thiên
nhiên hiểm trở làm chỗ dựa, mang nặng tính chất quân sự, không câu nệ vào hình dáng,
kích thước.
• Tại khu vực đền vua Lê, Các nhà khảo cổ đã khai quật một phần nền cung điện thế kỷ X. Kết
vào khoảng thế kỷ 16, khi Đông Kinh trở thành một đô thị sầm uất, có cả người Châu Âu đến buôn
bán, thì trong dân gian bắt đầu gọi Đông Kinh là Kẻ Chợ.
Thành Đông Kinh về cơ bản vẫn giữ nguyên lối bố cục của Thăng Long Lý – Trần :
-Lớp trong thành là nơi ở và làm việc của vua và triều đình.
-Lớp ngoài là nơi ở của quan lại,sĩ phu và dân chúng
-Các cung điện ,lầu gác được xây dựng nhiều ở Hoàng thành
Thành Đông Kinh(Thời Lê Sơ)
Cấu trúc thành Đông Kinh gồm ba vòng:
-Đại La thành coi như một bộ phận hữu cơ của cả thành Đông Kinh.Bên ngoài vòng thành Đại La
trong thời Lê còn xuất hiện thêm những hào lũy vào thời chiến sự xảy ra tại Đông Kinh.Những phần
làm thêm ngoài thành Đại La sẽ làm tăng thêm mức độ phức tạp cho cấu trúc kinh thành,song không
làm thay đổi nguyên tắc chung của kỹ thuật xây thành.La thành là vòng thứ ba và là vòng ngoài cùng
của Đông Kinh.
-Hoàng thành: là vòng thứ hai của Đông Kinh.Hoàng thành bốn mặt đều được xây bằng đá,chỉ có
đoạn tường từ cửa Đông tới góc Đông Bắc là xây bằng gạch.
+Mặt Bắc là mặt xung yếu,Hoàng thành được xây hai lớp tường song song chạy theo sông Tô
Lịch.Sông Tô Lịch làm nhiệm vụ hào ngoài cho cả mặt tường thành phía Bắc và phía Tây.
+Phía Nam ,thành xây men bờ những hồ nước lớn nên hồ nước lớn cũng giữ vai trò của hào ngoài.
+Góc Đông Nam thành không có hào ngoài sát ngay tường thành.
12 | P a g e
Hoàng thành mở ba cửa:cửa Đông,cửa Nam,cửa Bảo Khánh.Cửa Đông và cửa Nam có xây lầu cửa
bên trên,cửa Bảo Khánh thì không.
Hoàng thành là tuyến phòng thủ chính yếu của Đông Kinh nên đã được bỏ công sức xây dựng kiên cố
nhất.
-Cung thành:là vòng thành trong cùng của Đông Kinh.Cung thành là vòng tường thành nằm lọt giữa
vòng Hoàng thành.Cung thành xây theo hình chữ nhật.
Cung thành chỉ mở hai cửa.Đoan Môn là cửa Nam và cũng là cửa Tiền.Đoan Môn xây cao đẹp và có
lầu cửa bên trên.Cửa Tây xây ở góc Tây Bắc trên mặt tường phía Tây.Cũng có thể gọi đây là cửa
Hậu.Cửa này cũng xây to đẹp,trên có lầu cửa.Cung thành không có hào ngoài.
Kết luận:
+ La thành: 8,64 ha
+ Đàn Nam Giao: 4,32 ha
-Vùng lõi của Thành Nhà Hồ bao gồm phần đất nội thành, tường thành, hào thành và một phần đất
phát triển ra phía ngoài hào thành.
- Đàn Nam Giao: Đây là đàn tế duy nhất may mắn không bị xâm hại bởi các tác nhân tự nhiên cũng
như sự tàn phá của con người sau hơn 600 năm lịch sử .Trong đợt khai quật thứ 4 mới đây, các nhà
14 | P a g e
khai quật đã tìm thấy giếng Ngự Duyên được kè bằng đá, có hình vuông, bốn cạnh bằng nhau. mỗi
cạnh dài khoảng 14m, giếng sâu 9m, được kè bằng đá. Qua việc phát hiện giếng ngọc có thể khẳng
định Nhà Hồ là một trong những triều đại phong kiến sử dụng thành thạo nhất kỹ thuật ghép đá,
gia cố, cắt gọt và lắp ghép. Phát hiện trục đường thần đạo là con đường vua đi lên trung tâm đàn
để làm lễ tế trời cầu cho quốc thái dân an. Con đường thần đạo mới được phát hiện dài khoảng 125
- 130m ở khu vực cấp nền thứ ba. Đường có ba lối đi, lối đi ở giữa nổi cao hơn so với hai lối hai bên.
Vùng đệm :Diện tích vùng đệm:5,480 ha.Vùng đệm thuộc địa phận hành chính của các xã: Vĩnh Long;
Vĩnh Tiến; Vĩnh Quang; Vĩnh Yên; Vĩnh Thành; Vĩnh Phúc; Vĩnh Khang; Vĩnh Ninh và Thị trấn Vĩnh
Lộc.Vùng đệm của khu di sản có diện tích 5.078,5ha; bao gồm cảnh quan tự nhiên (sông, núi và đất
đai), khu dân cư và kiến trúc nhân tạo (nhà cửa, cầu cống, đường giao thông, di tích lịch sử văn hoá,
đầm, hồ)
III.4.c)Đặc điểm nghệ thuật quy hoạch không gian :đặt tòa thành trong (Inner citadel) vào trung
tâm của vùng đồng bằng thung lũng. Hai con sông bao bọc gần như ba mặt phía trước của tòa thành
như hai giải lụa uốn quanh và chính là các yếu tố nước trong thuyết phong thủy của một kinh thành
Phương Đông cổ đại.
• Sông Mã, con sông lớn của tỉnh Thanh Hóa, đi qua miền núi cao Bá Thước, Cẩm Thủy với độ
dốc cao, lòng sông hẹp tạo ra dòng chảy xiết một chiều nhưng khi xuống đến vùng đất Vĩnh
Lộc thì lòng sông rộng mở với nhiều khúc uốn, thủy triều lên xuống Đáng lưu ý trong địa
hình khu vực đệm là các ngọn núi, vừa là những thắng cảnh ngoạn mục, vừa là những yếu tố
thiêng trong thuyết phong thủy khi người xưa lựa chọn xây dựng kinh đô.
• Các núi Đốn Sơn và Thổ Tượng nằm theo trục Tây Bắc - Đông Nam của tòa thành trong (inner
citadel) theo quan niệm phong thủy Trung Hoa cổ đại lại được coi là tiền án và hậu chẩm của
• Cửa Nam là cửa chính (cửa Tiền) của thành. Từ cửa này nhìn thẳng ra vịnh chiếu đúng tới
Cửa Lục phía xa. Cửa được xây dựng theo kiểu thành bao (chữ Hán gọi là ủng thành), nhưng
ở đây ta gặp một cửa thành bao khác. Đoạn thành bao vốn thường được xây vòng ra ngoài
thì ở đây, ngược lại, lại xây lùi vào phía trong. Tường của thành không lệ thuộc vào hướng
của tường thành mặt tây nam này, mà đắp theo đúng hướng nam. Tường thành ở khu vực
cửa Nam được xây kè đá rất vững chắc, có thể nói là vững chắc nhất trong toàn bộ vòng
thành.
• Cửa Đông mở đúng vào chỗ vòng thấp nhất của mặt tường đông bắc. Đây là khe giữa hai quả
đồi. Cửa rộng 2,5 mét. Từ cửa này ra, theo đường khe núi đi vào làng Xích Thổ Cũng có thể
nói đây là con đường rút lui của căn cứ quân sự này
• Cửa Bắc ở ngay cạnh góc bắc rộng 1,5 mét. Ra khỏi cửa, không có lối qua hào mà phải men
đường chân thành đi tới tận góc bắc mới có một chỗ không đào hào để làm lối qua. Xây
dựng theo cách này làm tăng thêm mức độ hiểm trở cho công sự, và có thể coi như một hình
thức sáng tạo của kỹ thuật kiến trúc.
16 | P a g e
• Cửa Tây cũng vậy, ở góc tây của tường thành. Không có lối qua hào để vào thẳng mà phải
men theo chân thành từ góc tây, đi một quãng mới vào được cửa. Cửa rộng 2 mét được làm
qui mô hơn các cửa Đông và cửa Bắc, lối đi lát đá phiến, bậc lên xuống cũng lát bằng đá tảng
lớn.
III.5.c) Giá trị kiến trúc của tòa thành
Trên một địa hình đồi núi gồ ghề, người xưa đã khéo lựa theo thế đất tự nhiên nối các đỉnh gò cao
làm tường thành, lợi dụng khe núi để mở cửa, đào ngòi thông với vịnh để vừa làm hào ngoài vừa làm
đường giao thông. Việc tận dụng và uốn nắn địa hình tự nhiên như vậy quả thật là tài giỏi.Do lợi
dụng tốt địa hình nên tòa thành có thể đẹp và vững chãi phía ngoài tường cao hào sâu nhưng phía
trong nhiều chỗ gần như đất bằng. Xây dựng tòa thành, người xưa đã tính toán chu đáo, phân biệt
mặt mạnh mặt yếu. _mặt yếu có tăng cường công sự, gia cố thân tường, tạo thêm mức độ quanh co
hiểm trở.
Kết luận :Thành Xích Thổ là một căn cứ lớn. Diện tích thành rộng chứng tỏ quân đóng ở đây đông.
Những di tích gạch hoa chứng minh sự có mặt của một kiến trúc sang trọng trong thành. Có thể coi
thành Xích Thổ như một tòa thành điển hình về mặt kỹ thuật kiến trúc của quân đội nhà Mạc.
Kết luận :Thành Hoàng đế không chỉ là căn cứ quân sự mà còn là kinh đô của trung ương Hoàng đế
Nguyễn Nhạc. Trước đây là kinh đô Đồ bàn của Chăm-pa, rồi trụ sở của Quy Nhơn. Quy hoạch thành
thị trung cổ còn để lại dấu vết tổ chức xóm làng, cư dân và nghề nghiệp của vùng ngoại vi thành
Hoàng đế. Bên cạnh phần “ thành” bảo vệ vua quan còn có phần “thị” của nông dân, thợ thủ công
cà thương nhân với những xóm làng, chợ búa và phố phường.So với những kiến trúc quân sự
khác được xây dựng hoặc tu sửa thời Tây Sơn như thành Phú Xuân thì thành Hoàng đế có quy mô
lớn nhất.
III.7)Đô thị thời Nguyễn: cố đô Huế
18 | P a g e
Tổng thể:
Kinh thành xây dựng trong 30 năm (1803-1832)thành có 10 cửa chính để ra vào.Kinh thành nằm bên
bờ sông Hương là một quần thể kiến trúc rộng lớn và đẹp nhất nước ta thời đó .
Năm 1802 vua Gia Long , khởi công xây dựng Hoàng Thành và Tử Cấm Thành .
năm 1805 mới bắt đầu xây dựng kinh thành , quy mô diện tích rất lớn 520ha chu vi 10km .Đặc biệt
vận dụng kiểu kiến trúc phòng ngự Vauban của Pháp . Phòng thành Huế tạo những đường dích dắc ,
gốm các hệ thống :lũy , pháo đài ,giác bảo , đoạn thành nối hai pháo đài ,tường bắn , phản pháo ,
phòng lô , hào, thành giai…Đây là một loại thành lũy được áp dụng ở nhiều địa phương nước Pháp và
các nước lân cận . …
Bố cục:Khởi công xây dựng năm 1805 , kinh thành Huế được quy hoạch bên bờ bắc sông Hương ,
xoay mặt về hướng nam , với diện tích mặt bắng 520ha có 10 cửa chính gồm :
-Cửa chính bắc (còn gọi là cửa hậu,nằm ở mặt sau kinh thành ).
-Cửa tây bắc (còn gọi cửa An Hòa ,tên làng ở đây).
-Cửa Chính Tây
-Cửa tây Nam9cu7a3 hậu ,bên phải kinh thành )
-Cửa chính nam(còn gọi cửa nhà Đồ ,do gần đó có Võ Khố ,nhà để đồ binh khí , lập thời Gia Long )
-Cửa Quảng Đức
-Cửa Thể Nhơn(tức cửa ngăn , do trước đây có tường xây cao ngăn thành con đường dành cho vua
ra bến sông .
19 | P a g e
-Cửa Đông nam (còn gọi là cửa thượng tứ , do có Viện thượng Kỵ và tàu ngựa nằm phía trong cửa )
tháng. Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung tâm của đất nước.
• Triệu Tổ MiếuTriệu Tổ miếu còn gọi là Triệu Miếu, được xây dựng năm Gia Long thứ 3
(1804). Miếu này nằm ở phía bắc của Thái Miếutrong hoàng thành Huế, là miếu thờ Nguyễn
Kim, thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng.
• Hưng Tổ MiếuHưng Tổ Miếu còn gọi là Hưng Miếu là ngôi miếu thờ cha mẹ vua Gia Long
(ông Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc Côn) và bà Nguyễn Thị Hoàn, vị trí ở tây nam
Hoàng thành Huế|hoàng thành (cách Thế Miếu chừng 50 mét về phía Bắc).
• Thế Tổ MiếuThế Tổ Miếu thường gọi là Thế Miếu tọa lạc ở góc tây nam bên trong Hoàng
thành Huế, là nơi thờ các vị vua triều Nguyễn. Đây là nơi triều đình đến cúng tế các vị vua
quá cố, nữ giới trong triều (kể cả hoàng hậu) không được đến tham dự các cuộc lễ này.
• Thái Tổ MiếuThái Tổ Miếu còn gọi là Thái Miếu là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn
Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc đông
nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế Tổ Miếu ở phía tây nam.
• Cung Diên ThọCung Diên Thọ tên ban đầu là cung Trường Thọ, các tên khác là Từ Thọ, Gia
Thọ, Ninh Thọ; được bắt đầu xây dựng năm 1803 để làm nơi sinh hoạt của Hoàng Thái
Hậu của triều Nguyễn.
• Cung Trường SanhCung Trường Sanh hay Cung Trường Sinh (còn có tên gọi khác là Cung
Trường Ninh), được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ nhất (1821) ở phía Tây Bắc Hoàng
thành với vai trò ban đầu là hoa viên, nơi các vua triều Nguyễn mời mẹ mình đến thăm thú
ngoạn cảnh. Về sau cung được được chuyển thành nơi ăn ở sinh hoạt của một số bà hoàng
thái hậu và thái hoàng thái hậu
• Hiển Lâm CácHiển Lâm Các được xây dựng vào năm 1821 và hoàn thành vào năm 1822 thời
vua Minh Mạng nằm trong khu vực miếu thờ trong hoàng thành Huế, cao 17m và là công
trình kiến trúc cao nhất trong Hoàng Thành. Đây được xem là đài kỷ niệm ghi nhớ công tích
của các vua nhà Nguyễn và các quan đại thần có công lớn của triều đại.
• Cửu ĐỉnhCửu Đỉnh của nhà Nguyễn là chín cái đỉnh bằng đồng đặt ở trước Hiển Lâm Các đối
diện với Thế Miếu, phía tây nam Hoàng hành Huế. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một
vị hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài
đỉnh cũng khác nhau. 9 đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh,
Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và Huyền Đỉnh.
nằm bên trong Tử Cấm Thành, là một nhà hát dành cho vua, hoàng thân quốc thích, các
quan đại thần xem biễu diễn các vở tuồng. Đây được xem là nhà hát cổ nhất của ngành sân
khấu Việt Nam.
III.8)Quy hoạch kiến trúc Chăm Pa ở Việt Nam
A.Mô tả tổng thể
A.III.8.1. Vị trí của Vương quốc Chăm pa
- Vương quốc Chăm pa ( 192-1832): Cực thịnh của Chăm Pa lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi
Hoành Sơn ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía
Tây của nước Lào ngày nay.( theo Wikipedia)
Lãnh thổ lúc cực thịnh của Chămpa Phân tích đặc điểm miền Trung Việt Nam
A.III.8.2. Các thời kỳ phát triển
- Vương quốc Chăm pa ( 192-1832) tồn tại liên tục qua các tên gọi:
+ Lâm Ấp (tồn tại từ năm 192 - 605) : tại vùng đất Quảng Bình đến Quảng Nam. chịu ảnh hưởng của
Trung Quốc nhiều hơn là ảnh hưởng của Ấn Độ, nhưng cuối giai đoạn phát triển nhà nước đã tổ chức
xã hội theo sự phân quyền của Ấn Độ.
22 | P a g e
+ Hoàn Vương ( tồn tại từ năm 757 đến 859) thủ đô là Virapura ( nghĩa là thành phố hùng tráng): văn
minh và văn hóa Ấn Độ đã được phát triển từ Nam lên Bắc,
+ Chiêm Thành ( tồn tại từ năm 877 đến 1693): đây là giai đoạn từ vương triều thứ 6 đến vương
triều thứ 14, vương quốc Chăm pa bắt đầu suy yếu bị ảnh hưởng của người Việt từ phía Bắc và cuối
cùng vương quốc Chăm pa trở thành một phần lãnh thổ của người Việt.
A.III.8.3. Các đặc điểm văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến quy hoạch kiến trúc
- Trong kiến trúc của người Chăm, tháp Chăm hay Kalang hay đền tháp là nơi thờ các vị thần theo
quan niệm tôn giáo của người Ấn Độ thể hiện nơi Meru nơi ngự trị của các thần thánh, do đó mà các
đô thị hay tập trung ở vùng đồi núi cao hoặc công trình luôn có bệ nền cao để thể hiện tư tưởng ngự
trị đó.
- Trong bộ ba thần thánh thì thần Ấn giáo Silva được đề cao hơn cả, Silva là thần tượng trưng cho
sức mạnh tàn phá của tự nhiên được tượng trưng bằng ngẫu tượng Linga .
- Tuy nhiên, một bản sắc tâm linh văn hóa độc đáo của mẫu hệ Chăm pa mà dù sự Ấn độ hóa có
mạnh đến đâu cũng không xóa được,
Hệ thống phòng thành Cổ Lũy có ba
vòng thành:
Luỹ Cổ Luỹ
Thành Bàn Cờ
Thành Hòn Yàng.
( nguồn Wikipedia)
Thành Hoàng đế hay Tra thành là nơi
đóng đô của quân Tây Sơn trên nền
móng của thành Vijaya của người
Chăm pa cổ, hiện nay dấu vết thành
Chăm pa không còn nữa mà chỉ còn di
tích của thành thời Tây Sơn
B.III.2 Bố cục thành Chăm pa:
- Xuất phát từ ảnh hưởng của Ấn Độ giáo nên mặt bằng công trình của kiến trúc Chăm thường bố
cục theo hướng thẳng đứng trục Bắc Nam, cửa chính mở ở hướng Đông, trong đó tháp giữa thờ
thần Siva, tháp phía Bắc thờ thần Visnu , tháp phía Nam thờ thần Brahma ( như tháp Dương Long,
tháo Hòa Lai, tháp Chiên Đàn,…).
- Một đặc điểm quy hoạch kiến trúc nổi bật của tháp Chăm nữa là, thay vì xây dựng trên những lớp
nền cao, các tháp Chăm thường xây dựng trên những quả đồi cao có vị trí chế ng cả một vùng.
Trong bố cục tổng thể đa số bố cục theo kiểu trung tâm, các tháp phụ bố trí đố xứng hoặc không đối
xứng ở xung quanh, các tháp không có cùng một bệ chung ( hoặc có ít trường hợp) mà gần như mọc
thẳng từ dưới đất lên.
a. Giai đoạn cổ điển: thế kỷ V-VIII:
- Khu thánh địa Mỹ Sơn có kiểu bố cục đặc trưng như sau:Các nhóm tháp đều có một ngôi đền nằm
ở chính giữa,Trước mặt đền là một cổng vào có 2 cửa trổ hướng Đông-Tây nối liền một căn nhà dài
để đón khách hành hương chuẩn bị tế lễ.Bên cạnh công trình chính là những công trình phục vụ tế
lễ, cất chứa lễ vật hoặc có bễ nước chứa làm lễ thánh tẩy.Mỗi nhóm tháp đều có những bức tường
dày tạo nên sự khác biệt của nhóm này với nhóm khác.
b. Giai đoạn từ thế kỷ thứ IX đến thế kỹ thứ XII
b.1Khu di tích Đồng Dương: