10 THP
)
Để hoàn thành được khóa luận này cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi
còn được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy - Th.s Nguyễn Quốc Pháp.
Ngoài ra tôi còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Sử -
Địa, các cán bộ Thư viện Trường Đại Học Tây Bắc.
PH
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI………………………………………………… ……… 1
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ……………………………………….………2
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI, MỤC ĐÍCH VÀ ĐÓNG GÓP CỦA
ĐỀ TÀI……………………………………………………………………………….3
4. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 5
5. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI………………………………………………… …… 5
C
2.1.3. Nội dung……………………………………………….………….………….27
2.2. NHỮNG NHÂN VẬT, TUYẾN NHÂN VẬT CẦN TẠI BIỂU TƯỢNG CHO
HS KHI DẠY HỌC “LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUYÊN THUỶ ĐẾN THẾ KỶ
X”, SGK LỚP 1O THPT, (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)…………………………28
2.3. YÊU CẦU ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ KHI DẠY HỌC
PHẦN “LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUYÊN THUỶ ĐẾN THẾ KỶ X”, SGK LỚP
1O THPT, (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)………………………………………….29
.
3.1. THÔNG QUA MIÊU TẢ, TƯỜNG THUẬT ĐỂ TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ
NHÂN VẬT LỊCH SỬ………………………………………………… …………32
3.2. SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN ĐỂ TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ NHÂN
VẬT LỊCH SỬ 36
3.3. SỬ DỤNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ, TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ TẠO BIỂU
TƯỢNG NHÂN VẬT LỊCH SỬ…………………………………………… …….40
3.4. TỔ CHỨC CHO HS THAM QUAN THỰC TẾ, TỰ SƯU TẦM TÀI LIỆU VỀ
NHÂN VẬT………………………………………………………………… ……44
……………………………………………………….………… 46
……………………………………………… ………48
Hồ…Lịch sử không chỉ giáo dục cho HS tình cảm yêu ghét trong đấu tranh giai
cấp mà còn bồi dưỡng cho các em năng lực đối xử với mọi người xung quanh,
biết yêu quý cái đẹp, yêu lao động, sự căm thù quân cướp nước và chủ nghĩa anh
hùng cách mạng, khơi dậy ở HS sự thông cảm sâu sắc và lòng kính yêu đối với
quần chúng nhân dân. Bởi vì lịch sử chính là “cô giáo của cuộc sống”, giúp các
em có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và kế tục xứng đáng sự nghiệp
cách mạng dân tộc của cha ông trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, chất lược giáo dục nói chung, chất lượng
dạy học lịch sử nói riêng vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu xây dựng và
phát triển đất nước. Cải cách giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp nâng cao
chất lượng dạy học lịch sử đang là vấn đề đặt ra cấp thiết.
Cũng như những bộ môn khác, dạy học Lịch sử luôn quán triệt phương
châm "thông qua dạy chữ để dạy người". Tuy nhiên nhiều ý kiến của các nhà
2
giáo dục khẳng định việc giáo dục lịch sử hiện nay còn hàn lâm, giáo điều, nặng
về hô khẩu hiệu. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học bộ môn.
Những điều tra xã hội học đều cho một kết quả đáng buồn là thế hệ trẻ ngày nay
tỏ ra rất mơ hồ về lịch sử, về truyền thống dân tộc, thiếu niềm tin cách mạng.
Một bộ phận không nhỏ thanh, thiếu niên dễ bị "hấp dẫn" bởi những trào lưu văn
hóa ngoại nhập, xa rời với lịch sử, văn hóa dân tộc, nhất là những giá trị đã hun
đúc nên sức sống của dân tộc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Có
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn thực trạng trên, trong đó nguyên
ngân hàng đầu là việc giáo dục lịch sử ở trường phổ thông còn nhiều tồn tại.
Vấn đề đặt ra cấp thiết hiện nay là làm thế nào để khắc phục được những
lạc hậu về phương pháp dạy học, có những giải pháp đúng đắn để nâng cao hiệu
quả giáo dục trong dạy học lịch sử nhất là lịch sử dân tộc nhằm đáp ứng được
những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn.
Trong khóa trình Lịch sử dân tộc thì phần “Lịch sử Việt Nam từ thời
nguyên thủy đến thế kỉ X” trong chương trình sách giáo khoa Lịch sử lớp 10
đủ về tạo biểu tượng lịch sử, khái niệm, phân loại, cũng như các biện pháp tạo
biểu tượng lịch sử. Các tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò của việc tạo biểu tượng
trong việc hoàn thành mục tiêu dạy học bộ môn, coi đó là bước đầu tiên của giai
đoạn nhận thức cảm tính, là cơ sở để giáo dục và giúp HS đi sâu tìm hiểu bản
chất của sự kiện lịch sử, là một khâu quan trọng để hình thành khái niệm trong
dạy học lịch sử. Cũng trong công trình này PGS. TS Trịnh Đình Tùng cũng đã
đưa ra những vấn đề khái quát nhất về biểu tượng lịch sử, đưa ra một số con
đường và biện pháp sư phạm để thực hiện tốt hệ thống các phương pháp dạy học
lịch sử ở trường phổ thông. Trong đó có những biện pháp tạo được biểu tượng
lịch sử hiệu quả như: sử dụng đồ dùng trực quan, hay công tác thực tế, thực hành
chuyên môn…Tất cả cũng đã góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng
dạy và học ở trường phổ thông.
Trong cuốn “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” do các tác
giả Phan Ngọc Liên - Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Thị Côi - Trần Vĩnh Tường
đồng chủ biên. Bài viết của TS Đặng Văn Hồ - Khoa lịch sử - Đại học sư phạm -
Đại học Huế với nhan đề “tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử để giáo dục tư
tưởng, tình cảm cho học sinh” đã nêu lên những lí luận cơ bản về tạo biểu tượng
nhân vật lịch sử, vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử,
các nguyên tắc và một số biện pháp cụ thể. Bên cạnh đó, bài viết của TS Đặng
Thanh Toán “Tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh trong giáo dục
lịch sử để giáo dục cho học sinh tinh thần quốc tế chân chính” là một ví dụ làm
sáng tỏ những vấn đề lí luận về tạo biểu tượng nhân vật.
Trong cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS
phần lịch sử Việt Nam” và cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường
THPT” tập 1 phần lịch sử Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Thị Côi chủ biên cho
chúng ta nắm được những nội dung lịch sử và phương pháp sử dụng hệ thống
kênh hình trong dạy học phần lịch sử Việt Nam. Giúp GV lựa chọn các phương
pháp phù hợp tạo biểu tượng cho HS.
GS.TS. Nguyễn Thị Côi trong cuốn: “Các con đường biện pháp để nâng
Do điều kiện và trình độ còn hạn chế nên đề tài chỉ giới hạn ở việc đề xuất
một số biện pháp tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục khi dạy học phần “Lịch sử Việt Nam từ nguyên thủy đến thế kỷ X”, SGK
Lớp 10 trường THPT, (chương trình chuẩn) khi thực hiện những bài học nội
khóa ở trên lớp.
Việc điều tra thực tiễn chỉ tiến hành trong phạm vi một số trường phổ
5
thông ở các huyện trong tỉnh Sơn La và một số trường ở các tỉnh lân cận như
Hòa Bình, Điện Biên…
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đề tài đi sâu vận dụng những nguyên tắc,
đề xuất một số biện pháp tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, nhằm nâng cao hiệu
quả giáo dục khi dạy học phần “Lịch sử Việt Nam từ nguyên thủy đến thế kỷ
X”, Lớp 10 trường THPT, (chương trình chuẩn).
Góp phần khẳng định tầm quan trọng của việc tạo biểu tượng lịch sử trong
dạy học lịch sử ở trường phổ thông, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục bộ môn.
Nâng cao nhận thức của GV và HS trong dạy học lịch sử. Đồng thời, làm
tài liệu tham khảo cho giảng viên, giáo viên, sinh viên cũng như quá trình giảng
dạy của bản thân ở trường phổ thông sau này.
4. .
.
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục nói
chung và giáo dục lịch sử nói riêng, lý luận của các nhà nghiên cứu giáo dục,
giáo dục lịch sử.
Trên cơ sở khóa luận thuộc chuyên ngành “Phương pháp dạy học lịch sử”.
Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung: nghiên cứu tài
1.1.
L
1.
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ
sở lý luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của
giáo dục phổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng, nội dung của
môn học và tình hình, nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ
thể. Một cách cụ thể, mục tiêu giáo dục của bộ môn lịch sử ở Trường THPT
được thể hiện thông qua các mặt sau:
Về kiến thức: nắm được những kiến thức cơ bản về các sự kiện lịch sử
tiêu biểu trên cơ sở củng cố phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở trung
học cơ sở, hợp thành một hệ thống kiến thức về phát triển của lịch sử từ thời
nguyên thủy đến nay.
Về kỹ năng: Tiếp tục hoàn thành các kỹ năng cần thiết cho học tập lịch sử
như: có quan điểm lịch sử khi xem xét các sự kiện, nhân vật lịch sử, làm việc
với SGK và các nguồn sử liệu, biết phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá…có
năng lực tự học, phát hiện, đề xuất giải quyết vấn đề giúp HS nâng cao năng lực
tư duy và thực hành.
Về giáo dục hướng thái độ: Thông qua dạy học lịch sử giáo dục cho HS về
quan điểm lập trường, tư tương, phẩm chất đạo đức nhân cách tình cảm, theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tri thức lịch sử không chỉ có tác
dụng giáo dục trí tuệ mà còn giáo dục cả tư tưởng, thái độ, góp phần tích cực
vào việc đào tạo con người Việt Nam toàn diện.
Mối quan hệ của ba mục tiêu trên: Mục tiêu của bộ môn lịch sử ở nhà
trường THPT là cung cấp kiến thức cơ bản, hệ thống về lịch sử phát triển hợp
quy luật của dân tộc và xã hội loài người trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước
để càng quý hơn con người, dân tộc và văn hoá Việt Nam. Tuy nhiên, Lịch sử có
ưu thế và sở trường trong việc giáo dục thế hệ trẻ, thực hiện “dạy chữ để dạy
người”. Bộ môn đã góp phần xóa bỏ những quan niệm không đúng về “môn
chính” và “môn phụ”, từ đó xóa bỏ tình trạng “học lệch”, “học tủ” của đa số
những HS ở trường phổ thông hiện nay, góp phần hoàn thiện chất lượng giáo
dục hiện hành. Như vậy môn lịch sử có thể và cần phải góp phần vào việc giáo
dục HS.
Ví dụ, HS có thể tìm thấy cũng như học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ
Lịch sử và áp dụng vào cuộc sống, ngoài Lịch sử ra không có bộ môn nào khác
có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục lòng yêu nước, ý chí vươn lên, tự lực tự
cường trong cuộc sống cũng bởi vì “Lịch sử là bút tích của sự chiến thắng”…Cứ
9
mỗi tấm gương anh dũng của các chiến sĩ hi sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc
lại giáo dục cho HS về trách nhiệm của bản thân đối với quê hương đất nước,
không chỉ là biết ơn mà còn phải giữ gìn và phát triển nó. Các sự kiện về sự tàn
ác, dã man…của bọn cướp nước và bán nước hình thành cho các em lòng căm
phẫn mạnh mẽ. Hay cuộc sống lầm than cơ cực của nhân dân ta hình thành cho
các em thái độ đồng cảm sâu sắc và biết trân trọng những cái mà mình đang
có…
Lịch sử không chỉ là quá khứ mà còn là sự kết tinh của các giá trị mà
những thế hệ sau cần tiếp nối và phát huy. Lịch sử đặc biệt có ý nghĩa trong việc
giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần nhân văn…Đó là những giá trị dễ bào
mòn trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại là hành trang vô giá cho thế hệ trẻ trong
điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới hôm nay và mai sau. Điều này, ngay từ
thời cổ đại đã được con người khẳng định: “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống”,
“Lịch sử là bó đuốc soi đi đến tương lai”.
Xuất phát từ mục tiêu đào tạo chung và vai trò, ý nghĩa của bộ môn, dạy
học lịch sử ở trường phổ thông phải cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản có
hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người. Trên
vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ, đây vừa là một ưu thế và cũng
là một vấn đề hết sức quan trọng mà chúng ta cần phải quan tâm. Cần phải có
những biện pháp tích cực hơn nữa để cho Lịch sử phát huy được hết sức mạnh
bộ môn của mình, để giải quyết một phần nào đó thực trạng dạy và học ở trường
phổ thông hiện nay nói chung cũng như dạy và học Lịch sử nói riêng. Một trong
số đó là biện pháp tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
Một trong những nội dung quan trọng của bộ môn lịch sử là cung cấp kiến
thức cho HS.
Kiến thức là những hiểu biết của chúng ta về quá khứ đã được khoa học
xác minh tính đúng đắn. Kiến thức của bộ môn lịch sử là kiến thức khoa học đã
được biên soạn theo mục đích giáo dục giảng dạy nhà trường phổ thông mang
tính cơ bản và hệ thống.
Bên cạnh những đặc điểm chung của kiến thức khoa học đó là sự phản ánh
của thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người, nó phát triển từ thấp tới
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ hiện tượng đến bản chất theo cấu tạo: từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến nhận thức.
Xuất phát từ đặc thù của đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu,
phương pháp tiếp cận nên kiến thức lịch sử có những đặc điểm riêng. Tất cả các
sự kiện lịch sử đều diễn ra trong quá khứ, HS không thể quan sát một cách trực
tiếp mà phải tưởng tượng lại từ đó phát triển được trí tượng của HS.
Để xác định tính đúng đắn các biện pháp sư phạm nhằm giúp HS nắm
vững kiến thức lịch sử trước tiên chúng ta phải hiểu rõ những đặc điểm của kiến
thức lịch sử. Khác với kiến thức của bộ môn khoa học khác, kiến thức lịch sử có
những đặc điểm nội bật đó là: 11
1. Tính quá khứ
Lịch sử có tính quá khứ bởi nó là tất cả những sự kiện đã xảy ra, không
4. Tính hệ thống (tính logic)
Khoa học lịch sử bao gồm các sự kiện hiện tượng về cơ sở kinh tế, đấu
tranh xã hội, vừa bao gồm cả nội dung của kiến trúc thượng tầng, tình hình sản
12
xuất và quan hệ sản xuất…Nội dung tri thức lịch sử như vậy rất phong phú đề
cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người. SGK Lịch sử ở trường phổ
thông tuy giản lược song cũng phải bao quát được các mặt đó. Những nội dung
tri thức lịch sử đó lại có mối liên hệ chằng chịt, phức tạp. Điều này đòi hỏi
người GV phải luôn luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc, trước sau của vấn
đề lịch sử cũng như mối quan hệ ngang, nội tại giữa các mặt chính trị, kinh tế,
văn hóa để cung cấp cho HS những tri thức lịch sử khoa học mang tính hệ thống
và hoàn chỉnh, nêu được cái logic (cái bản chất, cái lõi của lịch sử), dễ hiểu (cái
lôgic). Quan điểm này được chủ tịch Hồ Chí Minh diễn tả:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
5. Tính thống nhất giữa “sử” và “luận”
Theo chương trình chuẩn cơ bản kiến thức lịch sử gồm hai phần: “sử và
luận”. Trong dạy học phần sử và luận phải luôn luôn thống nhất với nhau. Đó là
nguyên tắc thể hiện ở hai khía cạnh:
Thứ nhất: tất cả những sự kiện đều phải được gọi tên, bình luận và đánh
giá. Thứ hai: mọi sự bình luận đánh giá gọi tên luôn luôn phải căn cứ vào sự
kiện hoặc sự vận động và tính chất của sự kiện, không được áp đặt phỏng đoán.
Ví dụ: cùng sự kiện phong trào nông dân Tây Sơn có người gọi là “phong trào”,
người lại gọi là giặc cỏ, muốn biết nó là cái gì chúng ta phải căn cứ vào sự kiện.
Giữa các đặc điểm trên của kiến thức lịch sử có mối liên hệ nội tại thống
nhất với nhau. Trong dạy học lịch sử chúng ta phải chú ý đến tất cả những đặc
điểm để có những biện pháp phù hợp, nếu xử lý không thỏa đáng những vấn đề
đó thì đó chỉ là những giả thuyết vô căn cứ, không truyền thụ những tri thức lịch
sử khoa học cho HS, không bồi dưỡng, phát triển được năng lực trí tuệ và giáo
định cho mình một thế giới quan, phát triển tình cảm lành mạnh, nhân sinh quan
đúng đắn. Thế giới quan của chúng ta là thế giới quan Macxit-Leninit. Giáo dục
con người là giáo dục thế giới quan, tức là giáo dục lý tưởng, giáo dục lòng tin.
Kiến thức lịch sử cùng với kiến thức của nhiều môn học khác giúp HS có cơ sở
khoa học đúng đắn để xác định niềm tin và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.
Thế giới quan khoa học và tình cảm đạo đức là những định hướng của con
người đối với thế giới, đối với cuộc sống để có thái độ đúng đắn, hành động phù
hợp với yêu cầu phát triển của xã hội. Bộ môn lịch sử góp phần tích cực vào
việc giáo dục cho HS tình cảm, niềm tin vững chắc vào sự phát triển của dân tộc
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, tin tưởng vào thắng lợi tất yếu
của con đường mà chúng ta đã lựa chọn đó là con đường chủ nghĩa xã hội.
Giáo dục truyền thống dân tộc:
Bộ môn lịch sử ở trường THPT có khả năng giáo dục cho HS tình cảm với
gia đình, quê hương, đất nước, nhân loại. Trong đó giáo dục về những truyền
thống quý báu của dân tộc về lòng yêu thương đồng bào, trọng nhân nghĩa, quý
lao động, anh hùng, dũng cảm…Phải nắm vững kiến thức lịch sử và truyền
14
thống đấu tranh kiên cường của cha ông ta để từ đó xác định rõ trách nhiệm của
mình trong cuộc sống hiện tại. Đó là sự kết hợp của tình cảm và lý trí.
Trong chương trình giáo dục lịch sử ở nhà trường phổ thông nổi bật là
truyền thống yêu nước. Đây là sở trường ưu thế của bộ môn lịch sử trong việc
giáo dục thế hệ trẻ, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm.
Lòng yêu quê hương đất nước là vốn quý báu của mỗi dân tộc, mỗi dân
tộc có những nét đặc sắc riêng của truyền thống yêu nước. Lòng yêu nước của
nhân dân ta được hình thành trong lao động sản xuất và chiến đấu bảo vệ tổ
quốc, giải phóng dân tộc, phát triển trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
hiện nay. Chủ nghĩa yêu nước trở thành một tiêu chí đánh giá mọi con người
trong nước từ xưa đến nay. Chủ nghĩa yêu nước - một động lực phát triển của
dân tộc.
thức cụ thể về việc lao động đã làm cho con người thoát thai khỏi thế giới động
vật, hình thành và phát triển xã hội, những kiến thức về vai trò của công cụ lao
động sản xuất, về ý nghĩa của cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học kỹ
thuật đối với sự phát triển của xã hội. Từ đó giáo dục cho HS biết yêu quý lao
động, kính yêu nhân dân lao động, tạo sự hứng thú và say mê đối với sáng chế
và phát minh, đồng thời giữ gìn và phát huy thành quả lao động.
Ý nghĩa của việc giáo dục truyền thống lao động trong dạy học lịch sử còn
thể hiện ở tác dụng của nó đối với việc giáo dục hướng nghiệp cho HS, đặc biệt
là trong giáo dục lịch sử địa phương. Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện
nay, cần chuẩn bị tốt cho thế hệ trẻ về tinh thần, thái độ lao động. Bộ môn lịch
sử có tác dụng quan trong việc bồi dưỡng cho HS quan điểm, tinh thần thái độ
đúng với người lao động, tôn trọng và bảo vệ của công, say mê với khoa học, kỹ
thuật, rèn luyện phương pháp lao động hợp lý đạt năng suất cao.
Giáo dục ý thức tôn trọng, bảo vệ, phát huy nền văn hóa dân tộc và tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại.
Văn hóa gắn liền với lịch sử. Dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hóa
lâu đời không chỉ về lao động sản xuất, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mà còn xây
dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.
Văn hóa là một bộ phận hữu cơ của lịch sử dân tộc, nó có quan hệ khăng
khít và gắn bó chặt chẽ với chính trị - kinh tế - xã hội…văn hóa không chỉ là yếu
tố cấu tạo nên lịch sử mà nó còn làm cho lịch sử phong phú, trở thành một động
lực cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Văn hóa gắn liền với lịch sử nó là
bằng chứng xác minh tính đúng đắn về lịch sử đã qua.
Vì vậy khi nghiên cứu học tập lịch sử không thể không tìm hiểu các vấn đề
về văn hóa, khoa học giáo dục. Những sự kiện văn hóa, khoa học, kinh tế không
chỉ làm cho HS hiểu lịch sử một cách toàn diện, sâu sắc mà còn có tác dụng giáo
dục thẩm mỹ. Lịch sử không chỉ có những sự kiện đau thương về chiến tranh mà
còn là bức tranh tuyệt đẹp về lao động và sáng tạo. Lịch sử đẹp vì nó phản ánh
cuộc sống lao động và chiến đấu sự chiến thắng của văn minh, tiến bộ đối với
tàm bạo, phản động. Nó phản ánh việc đào tạo, giáo dục những con người có
sinh sống, hoạt động, phải tìm hiểu họ đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp.
Cá nhân có vai trò thúc đẩy sự phát triển của lịch sử song xét cho cùng sự
thành công của cá nhân là do biết kết hợp sức mạnh của quần chúng.
Trên cơ sở trình bày nội dung các vấn đề nêu trên GV tiến hành giáo dục
cho HS lòng biết ơn với những người có công với dân tộc, với giai cấp, góp
phần vào sự tiến bộ của xã hội loài người. Lòng biết ơn thể hiện ở chổ hiểu rõ
công lao, sự đóng của tổ tiên trong quá trình dựng và giữ nước, trân trọng thành
quả cha ông ta để lại, giữ vững và phát huy trong cuộc sống hiện tại.
17
Phần “Lịch sử Việt Nam từ nguyên thuỷ đến thế kỷ X’’ là một phần học
mang giá trị giáo dục rất cao, nó thể hiện được hầu hết những nội dung giáo dục
mà bộ môn yêu cầu. Mỗi bài thậm chí trong một bài lại đan xen những nội dung
giáo dục khác nhau, nó đặc biệt quan trọng đối với HS trong quá trình học tập ở
trường phổ thông.
1.1.2.
1.1.2.1. ?
Do đặc điểm của nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ
trực quan sinh động mà bắt đầu từ việc nắm tài liệu, sự kiện và tạo biểu tượng
lịch sử. Do đó tạo biểu tượng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá
trình dạy học lịch sử.
Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiện, các nhân vật lịch sử, điều
kiện địa lý, thời gian, địa điểm, các mối quan hệ xã hội…Được phản ánh trong
óc HS với những nét chung nhất, điển hình nhất. Có rất nhiều cách phân loại
biểu tượng lịch sử, theo các nhà giáo dục có thể phân loại các loại sau:
Biểu tượng về hoàn cảnh địa lý: Một sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra
trong một không gian nhất định. Không gian của sự kiện có thể là một khu vực
địa lý rộng lớn, chẳng hạn như chiến trường Châu Âu trong chiến tranh thế giới
thứ hai, hoặc hẹp hơn như địa điểm của một trận đánh hay một cuộc khởi nghĩa.
Bà Trưng, phân tích vai trò của Hai Bà Trưng trong cuộc chiến đấu giành lại độc
lập dân tộc của đất nước ta.
Biểu tượng lịch sử về thời gian, cụ thể hóa thời điểm xảy ra sự kiện lịch
sử, xác định về thời gian là một đặc điểm của việc nhận thức một sự kiện lịch
sử. Điều này được thực hiện khi chúng ta phân tích một sự kiện lịch sử mà
không thể xác định mốc thời gian chính xác.
Biểu tượng lịch sử về những quan hệ xã hội của con người. Đây là vấn đề
khá phức tạp và có phần trừu tượng của khoa học lịch sử. Muốn có được biểu
tượng về nó thì HS phải có tư duy cao và nhiệm vụ của người GV là tạo điều
kiện tối đa cho quá trình tư duy của HS. Nếu làm tốt, chúng ta sẽ tạo cho HS
những biểu tượng cụ thể về đời sống con người, về mối quan hệ giai cấp, về
những mâu thuẫn trong xã hội…qua các thời đại khác nhau.
Những biểu tượng trên không tách rời nhau mà có mối quan hệ mật thiết
với nhau tạo thành hệ thống trọn vẹn về bức tranh lịch sử. Trong đó biểu tượng
về nhân vật lịch sử giữ vai trò quan trọng nhất bởi thông qua nhân vật nó có thể
nói nên những sự kiện cũng như các mối quan hệ xung quanh nó.
Vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng.
Tạo biểu tượng là giai đoạn thứ hai của quá trình nhận thức lịch sử. Nó là
cơ sở cho HS đi sâu vào tìm hiểu bản chất thông qua việc hình thành khái niệm
để rút ra quy luật. Việc tạo biểu tượng có ý nghĩa giáo dục đối với HS, vì thông
qua những hình ảnh cụ thể, sinh động có sức gợi cảm mới có tác động mãnh mẽ
đến tư tưởng, tình cảm của các em. Tạo biểu tưởng có ý nghĩa, tác dụng trên cả
ba mặt: kiến thức, kỹ năng, giáo dục thái độ.
19
Về kiến thức: Có được các biểu tượng là HS có được hình ảnh cụ thể về
các sự kiện cụ thể về mặt thời gian, không gian, diễn biến. Tạo cơ sở để HS đi
sâu vào tìm hiểu mối quan hệ bản chất bên trong. Có biểu tượng là có hình ảnh
về quá khứ.
Về kỹ năng: Để tạo biểu tượng lịch sử HS tiến hành hàng loạt các thao tác
20
cụ thể hóa những sự kiện để tạo biểu tượng lịch sử.
Thứ sáu: Sử dụng tài liệu lịch sử địa phương là biện pháp quan trọng của
việc cụ thể hóa những kiến thức chung về mặt lịch dân tộc làm cho các em lĩnh
hội được cách dễ dàng những khái niệm phức tạp, những kết luận, những khái
quát khoa học, tạo được những biểu tượng rõ ràng có hình ảnh. Việc sử dụng tài
liệu lịch sử địa phương giúp HS “trực quan sinh động” quá khứ lịch sử dân tộc.
Nó còn làm cho quá khứ xích lại gần với nhận thức của HS.
Thứ bảy: Sử dụng tài liệu về tiểu sử của các nhân vật. Mỗi bài học lịch sử
đều khắc họa cho HS những nhân vật lịch sử cụ thể, kể cả nhân vật chính diện
và nhân vật phản diện. Lịch sử là do con người sáng tạo ra vì vậy không thể có
lịch sử mà thiếu yếu tố của con người. Mặt khác sự hoạt động của cá nhân lịch
sử phản ánh ở mức độ nhất định lịch sử của một dân tộc, của quần chúng nhân
dân. Vì vậy, tài liệu về tiểu sử của các nhân vật có tác dụng cụ thể hóa sự kiện
lịch sử.
Việc sử dụng tài liệu lịch sử của cá nhân lịch sử được tiến hành bằng
nhiều cách. Có nhiều lúc không cần thiết trình bày toàn bộ tiểu sử của nhân vật
mà chỉ cần nêu đặc trưng, tính cách của nhân vật đó.
Thứ tám: Hình tượng hóa một số hiện tượng lịch sử nhằm giúp HS dễ tiếp
thu nội dung, bản chất chất của hiện tượng. Đối với hiện tượng hay mối quan hệ
giữa các vấn đề phức tạp mà HS cần nắm vững, nếu chỉ giải thích về lý luận thì
các em sẽ không có biểu tượng cụ thể vì vậy phải hình tượng hóa hiện tượng đó.
Cách nêu hình tượng như trên giúp HS có biểu tượng khá cụ thể về một
vấn đề phức tạp mà nếu bằng lý luận, diễn giảng sẽ làm cho bài học khô khan,
hiệu quả giờ học kém.
Trên đây là các biện pháp tạo biểu tượng nhân vật lịch sử cho HS. Cung
cấp cho HS những sự kiện lịch sử cụ thể sinh động để tạo biểu tượng. Đây là
bước đầu tiên quan trọng trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, là điều
kiện cơ bản để hình thành khái niệm. Không chỉ dừng lại ở đó, việc tạo biểu