PHẦN II
ĐỀ TÀI NCKH SINH VIÊN
Tên Đề Tài:
Nghiên Cứu Giải Pháp Xử Lý Nền Đường Khi Đi Qua Vùng Đất Yếu Bằng
Trụ Xi Măng - Đất
1
Đặt vấn đề
Xử lý nền đất yếu là một vấn đề không mới nhưng chưa bao giờ cũ trong lĩnh
vực xây dựng nói chung và chuyên ngành xây dựng cầu đường nói riêng. Hiện nay
có rất nhiều phương pháp xử lý được áp dụng để cải tạo nền đất yếu. Tuy nhiên
không phải phương pháp nào cũng đem lại hiệu quả tốt nhất.
Một trong những phương pháp cải tạo đất yếu hiện nay đó là trụ đất–ximăng (Đ–
XM). Đây là một phương pháp với khả năng ứng dụng tương đối rộng rãi trong xây
dựng như: làm tường hào chống thấm cho đê đập, gia cố nền móng cho cáccông
trình xây dựng, ổn định tường chắn, chống trượt mái dốc, gia cố đất yếu xung quanh
đường hầm, gia cố nền đường, mố cầu dẫn So với một số giải pháp xử lý nền hiện
có, công nghệ cọc Đ–XM có ưu điểm là khả năng xử lý sâu đến 50m, thích hợp với
các loại đất yếu từ cát thô cho đến bùn yếu. Thi công được cả trong điều kiện nền
ngập sâu trong nước hoặc điều kiện hiện trường chật hẹp, trong nhiều trường hợp đã
đưa lại hiệu quả rõ rệt so với các giải pháp xử lý khác.
Hiện nay trên thế giới phương pháp này đã được áp dụng rất phổ biến tuy nhiên ở
nước ta phương pháp này được xem là khá mới mẻ và chưa thật sự áp dụng rộng rãi
nhất là trong công tác xử lý nền đường trên nền đất yếu.
Đề tài này chủ yếu đi sâu vào tìm hiểu một cách tổng quan phương pháp tính toán
thiết kế, kiểm tra ổn định cọc xi măng đất và xác định các biện pháp thi công.Áp
dụng phương pháp xử lý nền đất yếu bằng cọc xi măng-đất vào việc xử lý đất yếu
của tuyến đường đô thị nối khu đô thị sinh thái Hòa Quý và cầu Hòa Xuân. Đề tài hi
vọng sẽ đóng góp thêm những kiến thức để phát triển hơn nữa phương pháp xử lý
nền đất yếu bằng trụ xi măng đất.
Đề tài nghiên cứu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về các phương pháp xử lý nền đất yếu
- Có khả năng chịu lực thấp ( 0,5 – 1,0 kG/cm
2
)
- Cường độ chống cắt nhỏ và thường tăng dần theo độ sâu
- Hầu như hoàn toàn bão hòa nước, có hệ số rỗng lớn ( thường )
- Biến dạng nhiều khi chịu tác động của tải trọng ngoài và biến dạng tùy thuộc
thời gian chất tải
- Tính thấm nước kémvà thay đổi theo sự biến dạng của đất yếu
- Mô-đun tổng biến dạng bé( E
0
≤ 50kG/cm
2
)
Các công trình xây dựng trên nền đất yếu buộc phải có các biện pháp xử lý để công
trình đảm bảo ổn định khai thác bình thường.
Đất yếu có nhiều nguồn gốc khác nhau( khoáng vật hoặc hữu cơ) như đất sét
yếu, đất cát yếu, bùn, bùn than, đất thải… Chúng được tạo thành ở các điều kiện
khác nhau như trầm tích ven biển, vịnh biển, đầm hồ, đầm tam giác châu thổ hoặc
hình thành do dất tại chỗ ở những vùng đầm lầy có mực nước ngầm cao, có sự tích
đọng thường xuyên…
3
2 Các biện pháp xử lý nền đất yếu:
Việc xử lý khi xây dựng công trình trên nền đất yếu phụ thuộc vào điều kiện
như: Đặc điểm công trình, đặc điểm của nền đất… Với từng điều kiện cụ thể mà
người thiết kế đưa ra các biện pháp xử lý hợp lý. Có nhiều biện pháp xử lý cụ thể
khi gặp nền đất yếu như:
- Các biện pháp xử lý về kết cấu công trình
- Các biện pháp xử lý về móng
- Các biện pháp xử lý nền
Đối với các công trình cầu đường, đặc biệt là công trình đường thì việc xử lý về nền
+ Giếng sâu*
+ Đá dăm/sỏi thoát nước**
Cố kết đất sét
*Hạ mực nước
trong lớp cát để
làm khô hoặc tăng
áp lực cố kết có
hiệu trong lớp đất
sét nằm trên lớp
cát
** Xử lý chống
hóa lỏng
4
Nén
+ Đóng cọc
+ Phương pháp cọc cát nén chặt
+ Phương pháp đầm rung
+ Đầm nặng (Phương pháp cố kết động)
+ Nổ mìn (Nén chặt bằng nổ mìn)
+ Phương pháp tạo sốc điện
Tỉ trọng của cát
rời
Gia cố hóa học và
điện hóa
+ Phương pháp trộn sâu
+ Bơm trộn vữa
+ Gia cố điện hóa
Bao gồm gia cố
vật liệu lớp đệm
Xử lý nhiệt
khối lượng vật liệu
làm móng
Lớp đất yếu có
chiều dày<3m,
không sử dụng
khi nền đất có
mực nước ngầm
cao vì đệm cát
kém ổn định,hạ
mực nước ngầm
tốn kém
2 Phương pháp
đầm chặt đất
(cố kết động)
Đầm chặt lớp đất
mặt bằng đầm rung
hoặc bằng các khối
nặng10-15T
Tăng cường độ,
sức chịu tải, giảm
tính nén lún của
đất nền
Đất có lỗ rỗng
lớn, cát tơi, đất
chưa nén chặt
3 Phương pháp
gia tải nén
trước
Chất tải trọng bằng
hoặc lớn hơn tải
Cho nước trong lỗ
rỗng của đất thấm
qua lớp vải địa kỹ
thuật vào lõi chất
dẻo, lõi này là
đường tập trung và
dẫn nước thoát ra
khỏi nền đất yếu
Tăng tốc độ cố kết,
giảm độ rỗng, tăng
dung trọng, tăng
sức chịu tải
Chiều dày lớp đất
yếu lớn, độ thấm
của nền đất nhỏ
6 Phương pháp
gia cường
nền đất yếu
bằng cọc tre
và cọc tràm
Cọc tre, cọc tràm
để đóng xuống nền
đất cần được gia cố
Tăng khả năng
chịu tải và giảm độ
lún của đất nền
Nền đất luôn ở
trạng thái ẩm ướt,
công trình có tải
trọng không lớn,
Như vậy ta thấy đối với mỗi phương pháp xử lý nền đất yếu đều có ưu nhược
điểm và phạm vi áp dụng riêng do đó cần cân nhắc dựa trên các yếu tố như điều
kiện địa chất, môi trường, thời gian thi công… mà đưa ra giải pháp xử lý sao cho
đạt hiệu quả và kinh tế nhất.
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU BẰNG TRỤ XI MĂNG – ĐẤT
2.1. Tổng quan về phương pháp xử lý nền đất yếu bằng trụ xi măng đất:
2.1.1. Sơ lược về lịch sử phát triển trụ xi măng đất:
6
2.1.1.1. Trên thế giới:
Phát triển cọc xi măng đất bắt đầu tại Thụy Điển và Nhật Bản từ những năm
60 của thế kỉ trước.Trong khoảng thời gian đó thì cọc đất - vôi cũng được ra đời ở
Thụy Điển. Phương pháp trộn ướt dùng vữa xi măng cũng được Nhật Bản áp dụng
trong những năm 70. Sau đó phương pháp này được phổ biến ra thế giới.
Tại Châu Âu, công nghệ cọc Đ-XM được nghiên cứu và ứng dụng bắt đầu ở Thụy
Điển và Phần Lan bắt đầu từ năm 1967. Nước ứng dụng công nghệ Đ-XM nhiều
nhất là Nhật Bản và các nước vùng Scandinaver. Tại Nhật Bản tính chung trong giai
đoạn 1980-1996 có 2345 dự án, sử dụng 26 triệu m
3
BTĐ. Riêng từ 1977 đến 1993,
lượng đất gia cố bằng xi măng ở Nhật vào khoảng 23,6 triệu m3 cho các dự án
ngoài biển và trong đất liền, với khoảng 300 dự án (Theo số liệu thống kê của hiệp
hội CDM Nhật Bản).
Tại Trung Quốc, công tác nghiên cứu bắt đầu từ năm 1970. Tuy nhiên từ
trước đó nước này cũng đã học hỏi kinh nghiệm về cọc xi măng đất của Nhật Bản.
2.1.1.2. Ở Việt Nam:
Ở nước ta, Viện khoa học công nghệ xây dựng (IBST) là đơn vị đầu tiên đưa
chất gia cố là xi măng vào (khởi thủy của phương pháp là cọc vôi). Tại Việt Nam
phương pháp này được nghiên cứu từ những năm đầu của thập kỉ 80 với sự giúp đỡ
của viện Địa Kĩ Thuật Thụy Điển (SGI).
0.6 100000 Trộn khô
4
Hầm chui đường sắt vành đai
đường Láng – Hòa Lạc
Km7+358
0.6 150000 Trộn khô
5 Đường băng sân bay Cần Thơ 300000 Trộn ướt
Hình 2.1: Khoan cọc xi măng đất gia cố nền đường đầu cầu Trần Thị Lý
Hình 2.2: Thi công hạng mục cọc vữa xi măng đất - Khu vui chơi giải trí
Tuyên Sơn – Đà Nẵng
8
Hình 2.3: Thi công xử lí nền bằng cọc vữa xi măng đất dự án Đường Liên cảng
Cái Mép-Thị Vải
Hình 2.4: Thi công hạng mục cọc vữa xi măng đất – Dự án cảng Sao Mai – Bến
Định, thành phố Vũng Tàu
2.1.2. Khái niệm về phương pháp trụ xi măng đất:
Cọc xi măng đất (hay còn gọi là cột xi măng đất, trụ xi măng đất) (Deep soil
mixing columns, soil mixing pile)
Về vấn đề tên gọi là “cọc”, “cột” hay là “trụ” thì hiện nay có 2 cách gọi tùy theo các
nước:
- Gọi tên là cọc xi măng đất thì có học viện kĩ thuật châu Á A.I.T, Trung Quốc
- Gọi tên là trụ hay cột xi măng đất thì có các nước như Mỹ, Nhật và một số
nước sử dụng phương pháp này ở châu Âu.
Riêng ở Việt Nam thì tên gọi thay đổi tùy theo cách gọi của mỗi người. Tuy
nhiên theo một số nhà khoa học thì việc dùng tên gọi “cọc” chỉ nên dành cho những
9
loại cọc có cường độ lớn hơn rất nhiều so với cọc xi măng đất như cọc BTCT, cọc
thép…
Về khái niệm thì trụ xi măng đất là hỗn hợp giữa đất ngun trạng nơi gia cố
và xi măng được phun xuống nền bởi thiết bị khoan. Mũi khoan được khoan xuống
- Thi công nhanh, kỹ thuật thi công không phức tạp, không có yếu tố rủi ro cao.
Tiết kiệm thời gian thi công đến hơn 50% do không phải chờ đúc cọc và đạt đủ
cường độ đối với các công trình sử dụng móng cọc. Tốc độ thi công cọc rất
nhanh.
- Hiệu quả kinh tế cao, giá thành hạ hơn nhiều so với phương án cọc đóng
- Rất thích hợp cho công tác xử lý nền, xử lý móng cho các công trình ở các khu
vực nền đất yếu như bãi bồi, ven sông, ven biển
- Thi công được trong điều kiện mặt bằng chật hẹp, mặt bằng ngập nước
- Địa chất nền là cát rất phù hợp với công nghệ gia cố ximăng, độ tin cậy cao
- Biến dạng nền đất rất nhỏ vì vậy giảm thiểu ảnh hưởng của lún đối với các công
trình lân cận; tăng sức kháng cắt ổn định nền móng công trình
- Dễ dàng điều chỉnh cường độ bằng cách điều chỉnh hàm lượng xi măng khi thi
công
- Dễ quản lý chất lượng, hạn chế ô nhiễm môi trường do ít có chất thải trong quá
trình thi công
Nhược điểm của phương pháp:
Hiện nay giá thành thi công trụ xi măng đất vẫn còn khá đắt hơn so với một
số phương pháp xử lý nền đất yếu khác. Do đó đây là một trở ngại không nhỏ để
thuyết phục các chủ đầu tư sử dụng biện pháp này để xử lý đất yếu. Và phương
pháp này cũng còn khá mới đối với nước ta do đó nó cũng chưa được phổ biến. Tuy
nhiên với những ưu điểm vượt trội như trên thì việc áp dụng rộng rãi phương pháp
này trong một tương lai gần là hoàn toàn khả thi.
2.2. Tính toán thiết kế trụ xi măng đất:
2.2.1. Các phương pháp tính toán thiết kế trụ xi măng đất:
Hiện nay việc tính toán trụ xi măng đất có 3 quan điểm chính sau:
Quan điểm xem trụ xi măng đất làm việc như cọc:
Với quan điểm này đòi hỏi cọc phải có độ cứng tương đối lớn và các cọc phải đưa
xuống tầng đất chịu tải. Nếu tính theo sơ đồ này thì lực từ móng truyền xuống sẽ
chủ yếu đi vào các cọc(đất nền dưới móng không chịu tải). Với cọc đưa xuống tầng
chịu lực, có thể dùng phương pháp tính với cọc ma sát để tính.
1 Kiểu tường, 2 Kiểu kẻ ô, 3 Kiểu khối, 4 Kiểu diện
1 2 3 4
5 6 7 8
Hình 2.9: Bố trí trụ trộn ướt trên biển
1 Kiểu khối , 2 Kiểu tường, 3 Kiểu kẻ ô, 4 Kiểu cột, 5 Cột tiếp xúc, 6
Tường tiếp xúc, 7 Kẻ ô tiếp xúc, 8 Khối tiếp xúc
Hình 2.10: Bố trí trụ trùng nhau trộn ướt, thứ tự thi công
2.3. Công nghệ thi công trụ xi măng đất:
2.3.1. Nguyên tắc gia cố đất nền:
Cọc Đ-XM được gia cố là hỗn hợp giữa đất nguyên trạng nơi gia cố với hỗn
hợp ximăng được phun xuống thông qua thiết bị khoan trộn. Cột gia cố tạo thành
bởi hỗn hợp đất tại chỗ và chất kết dính, mà thông thường là vôi và ximăng. Mũi
trộn được đưa xuống đất bằng cách khoan xoay, khi tới độ sâu thiết kế, mũi trộn đảo
chiều ngược lại và đồng thời rút dần lên, trộn đất tại chỗ với chất gia cố. Trong suốt
13
quá trình rút lên, hỗn hợp chất gia cố được phun vào bằng khí nén ở đầu mũi trộn,
tới cao độ đầu cột thì dừng lại.
Hình 2.11: Công nghệ thi công cọc xi măng - đất
Việc hình thành cường độ xảy ra thông qua quá trình ninh kết của hỗn hợp
Đ– XM. Khi ximăng được trộn với đất, ximăng phản ứng với nước tạo ra Canxi
hyđrôxit Ca(OH)2 từ đó kết hợp với đất nền tạo ra keo ninh kết CSH, đây là quá
trình Hydrat hoá. Phản ứng này diễn ra nhanh và mạnh toả ra một nhiệt lượng lớn
và giảm bớt lượng nước có trong đất gia cố.Hợp chất Hydrat này tạo ra một hỗn hợp
liên kết các thành phần hạt trong đất gia cố hình thành lên khoáng chất nền bền
vững, cứng.
Ximăng + H2O → Keo CSH + Ca(OH)2.
Hiện nay có hai công nghệ thi công phổ biến đó là công nghệ trộn ướt khoan phụt
vữa cao áp Jet – Grouting và công nghệ trộn khô Dry Jet Mixing.
2.3.2. Công nghệ trộn ướt Jet – grouting:
2.3.2.1. Lịch sử phát triển:
Hình 2.14: Các loại cánh thi công đất trộn xi măng ướt ở Châu Âu
2.3.2.2. Miêu tả công nghệ
Hiện nay trên thế giới đã phát triển 3 công nghệ trộn ướt đó là công nghệ đơn
pha (S), công nghệ hai pha (D) và công nghệ (T).
a, Công nghệ đơn pha – công nghệ S
Vữa phụt ra với vận tốc 100m/s vừa cắt đất vừa trộn vữa, tạo ra trụ xi măng đất
đồng đều vào độ cứng cao và hạn chế đất trào ngược lên. Công nghệ này dùng cho
các đường kính trụ nhỏ từ 0,4 – 1,2m.
Hình 2.15: Công nghệ đơn pha
17
b, Công nghệ hai pha – công nghệ D
Hỗn hợp vữa đất – xi măng được bơm vào với áp suất cao và được bao bọc bởi một
tia khí nén. Dòng khí nén sẽ làm giảm ma sát và cho phép vữa xâm nhập sâu vào
trong đất, do vậy tạo ra được trụ có đường kính lớn.
Công nghệ này chủ yếu dùng để thi công các tường chắn, hào chắn.
Hình 2.16: Công nghệ hai pha
c, Công nghệ 3 pha – công nghệ T
Không giống như 2 công nghệ đầu tiên, công nghệ này ban đầu nước được
bơm vào với áp suất cao và khí nén bao bọc xung quanh dòng nước để đẩy khí ra
khỏi đất. Sau đó vữa được bơm qua vòi riêng biệt nằm dưới vòi khí – nước.
Công nghệ 3 pha dùng để làm các cột, các tường ngăn chống thấm.
Hình 2.17: Công nghệ 3 pha
Tùy thuộc vào từng loại đất mà các công nghệ khoan phụt này có thể tạo ra trụ có
đường kính lên đến 5m.
2.2.3.3. Phương pháp thi công
Công tác khoan thực hiện bằng khoan xoay và xối nước qua cần khoan và mũi
khoan đặc biệt. Sau khi đưa mũi khoan đến cao độ thiết kế, quá trình phụt vữa bắt
đầu. Vữa được phụt qua vòi phun với áp suất và vận tốc cao, làm phá vỡ kết cấu của
đất và tạo thành trụ hỗn hợp xi măng đất. Trong suốt quá trình phụt vữa, cần khoan
vừa xoay vừa rút lên dần.
Xi Măng
Phụ Gia
Hình 2.19: Sơ đồ cơng nghệ trộn ướt
Trộn ướt dùng vữa xi măng. Khi cần có thể cho thêm chất độn ( cát và phụ gia).
Khối lượng vữa thay đổi được theo chiều sâu. Khi chế tạo trụ trong đất rời dùng
khoan guồng xoắn liêntục có cánh trộn và cánh cắt hình dạng khác nhau, có đủ cơng
suất để phá kết cấu đất và trộn đềuvữa.
Có thể ngưng trộn khi vữa chưa bắt đầu đơng cứng, khởi động trộn lại tại độ sâu ít
nhất 0.5 m trong đất đã xử lý.
Bơm để chuyển vữa đến lỗ phun cần phải có đủ cơng suất (tốc độ truyền và áp lực)
để truyền lượng vữa thiết kế an tồn.
Ưu điểm của cơng nghệ trộn ướt khoan phụt vữa cao áp:
+ Phạm vi áp dụng rộng, thích hợp mọi loại đất từ bùn sét đến sỏi cuội
+ Có thể xử lý các lớp đất yếu một cách cục bộ, khơng ảnh hưởng đến các lớp đất
tốt
+ Có thể xử lý dưới móng hoặc kết cấu hiện có mà khơng cần ảnh hưởng đến cơng
trình
+ Thi cơng được trong nước
+ Mặt bằng thi cơng nhỏ, ít chấn động, ít tiếng ồn, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến các
cơng trình lân cận
+ Thiết bị nhỏ gọn, có thể thi cơng trong khơng gian có chiều cao hạn chế, nhiều
chướng ngại vật
Nhược điểm của cơng nghệ trộn ướt khoan phụt vữa cao áp:
+ Có thể gây trương nở nền và gây ra các chuyển vị q giới hạn trong lòng đất. Áp
lực siêu cao còn có khả năng gây nên rạn nứt nền đất lân cận và tia vữa có thể lọt
vào các cơng trình ngầm sẵn có như hố ga tầng hầm lân cận.
+ Đối với nền đất chứa nhiều túi bùn hoặc rác hữu cơ thì axit humic trong đất có thể
làm chậm hoặc phá hoại q trình ninh kết hỗn hợp xi măng đất.
2.3.3. Cơng nghệ trộn khơ (Dry Jet Mixing):
20
+ Sử dụng thiết bị thi công đơn giản
+ Công nghệ không cần nước cho quá trình tạo vữa dung dịch cho nên làm công
trường sạch sẽ hơn và giảm thiểu khối lượng phá hoại công trình
+ Ngoài ra, công nghệ còn sử dụng một hệ thống khép kín để vận chuyển và bơm xi
măng vào trong đất. Do đó chỉ có một lượng bụi nhỏ được thải ra ngoài không khí
22
làm giảm ô nhiễm môi trường. Quá trình hoạt động an toàn và ít tạo rung động cũng
như tiếng ồn.
+ Máy trộn mà được sử dụng có tính cơ động cao và có thể dễ dàng di chuyển đến
vị trí trộn kế tiếp trên công trường. Hệ thống ống dẫn vật liệu trộn tự động nên tiết
kiệm nhân công mà vẫn đảm bảo được sự hiệu quả.
+ Hàm lượng xi măng sử dụng ít hơn công nghệ trộn ướt.
+ Quy trình kiểm soát chất lượng đơn giản hơn công nghệ trộn ướt.
Nhược điểm của phương pháp DJM:
+ Do cắt đất bằng các cánh cắt cho nên gặp hạn chế trong đất có lẫn rác, đất sét,
cuội sỏi hoặc khi cần xuyên qua các lớp đất cứng hoặc tấm bê tông
+ Không thi công được nếu phần xử lý ngập trong nước
+ Chiều sâu xử lý trong khoảng 15-20m
2.3.4. Kết luận:
Phương pháp tạo trụ xi măng đất theo công nghệ trộn ướt có thể áp dụng cho
mọi loại đất nền, trong đó phạm vi xử lý kinh tế với nền từ bùn đến sỏi sạn (đường
kính hạt từ 60mm trở xuống).
Việc lựa chọn công nghệ nào để thi công tùy thuộc vào tính chất của từng
loại đất, điều kiện thi công cũng như năng lực nhà thầu và giá thành thi công. Đối
với công nghệ thi công trộn khô do hàm lượng xi măng được sử dụng thấp hơn
trong công nghệ thi công trộn ướt do đó cần cân nhắc để có thể giảm giá thành sản
xuất.
2.3.5. Một số đơn vị nhà thầu thi công cọc xi măng đất tại Việt Nam:
Hiện nay ở nước ta một số đơn vị nhà thầu đã tiếp thu công nghệ xử lý nền đất
yếu bằng trụ xi măng đất trên thế giới và tiến hành áp dụng thi công vào các công
2.4.1. Các thí nghiệm trong phòng:
Thông qua thí nghiệm xác định được hàm lượng chất kết dính và phụ gia cần thiết
để tạo được một loại đất gia cố có các chỉ tiêu kĩ thuật hợp lý để phục vụ cho tính
toán thiết kế.
Giá trị cường độ thiết kế của đất gia cố là kết quả của mẫu thí nghiệm ở tuổi 28
ngày. Để xác định được giá trị này ta phải thực hiện với nhiều tổ mẫu với hàm
lượng xi măng khác nhau. Với mỗi loại tổ hợp không được nhỏ hơn 3 mẫu. Cần xác
định các chỉ tiêu cơ lý của trụ xi măng đất sau:
+ Chỉ tiêu cơ lý γc, ωc, εc…
+ Chỉ tiêu cường độ (chịu cắt, chịu nén)
+ Modun biến dạng của đất trộn xi măng
Một số thí nghiệm trong phòng:
- Thí nghiệm xác định sức kháng nén của mẫu đất – xi măng (phương pháp
trộn khô)
- Thí nghiệm xác định sức kháng nén của mẫu đất – xi măng (phương pháp
trộn ướt)
- Thí nghiệm phân tích hóa nước
24
- Thí nghiệm xác định hàm lượng xi măng
2.4.2. Các thí nghiệm ngoài hiện trường:
Mục đích: kiểm tra chất lượng, quá trình phát triển cường độ, khả năng chịu tải của
cột đất-xi măng tại hiện trường để kiểm tra giá trị thiết kế, qua đó có thể điều chỉnh
lại thiết kế cho phù hợp với điều kiện thiết kế.
Để thiết kế cột xi măng đất ngoài những thí nghiệm khoan khảo sát ngoài hiện
trường nên có một số thí nghiệm kèm theo như sau:
-Thí nghiệm xuyên tĩnh có đo áp lực nước lỗ rỗng CPTU
-Thí nghiệm nén cố kết
-Thí nghiệm cắt cánh
-Thí nghiệm trộn đất tại chỗ với xi măng theo tiêu chuẩn của Thuỵ điển
Sau khi khi thi công ngoài hiện trường cần có một số thí nghiệm hiện trường như