!"!#
$ %&'
()*+
,#)-.-
- 1-
/01#21
Trong chương trình Toán ở tiểu học, Số học là nội dung trọng tâm của toàn bộ
quá trình dạy học toán từ lớp 1 đến lớp 5. Trong đó phép nhân, phép chia các số tự nhiên
là nội dung cơ bản, quan trọng trong nội dung số học. Bởi vì, nhiệm vụ trọng yếu của
môn toán Tiểu học là hình thành cho học sinh kĩ năng tính toán – một kĩ năng rát cần
thiết trong cuộc sống, lao động và học tập của học sinh. Vì vậy giáo viên cần tìm hiểu,
nghiên cứu để dạy tốt cho học sinh bộ môn này.
Hiện nay chương trình sách giáo khoa mới ở Tiểu học có rất nhiều đổi mới về cấu
trúc nội dung, cách thể hiện nội dung nhằm đổi mới phương pháp dạy học. Vì vậy,
người giáo viên cần nắm được cấu trúc của phép nhân, phép chia các số tự nhiên trong
chương trình Toán tiểu học, nội dung và cách thể hiện nội dung phép nhân, phép chia
các số tự nhiên. Bên cạnh đó giáo viên cũng nắm được phương pháp dạy học các nội
dung này theo hướng đổi mới về phương pháp dạy học Toán. Điều này giúp cho việc
dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên đạt chất lượng cao hơn.
Vì những lý do trên, đồng thời để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư
phạm tôi đã chọn đề tài: 3456789:4;7789<=<<>;?@6'A
BC"DED/ CF%&'
G:H?I?JK;
Để giúp giáo viên Tiểu học hiểu rõ hơn cơ sở của việc lựa chọn và sắp xếp các
nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên, đồng thời giúp giáo viên biết được
định hướng của việc lựa chọn và tận dụng các phương pháp dạy học đối với các thể hiện
nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên cần đi vào các vấn đề sau:
.#L9<4MJNOP78967Q6;7R;E67Q6974S9>9:=<T;74M;<U;V:>97V4>
Qua việc tìm hiểu nội dung , phương pháp dạy học các nội dung về phép nhân
phép chia các số tự nhiên ở lớp 4 cần lưu ý những điều sau để dạy tốt các nội dung này
0 Trước khi học phép tính mới ( phép nhân,
phép chia ) học sinh đều có giai đoạn chuẩn bị. Đây là cơ sở cho việc hình thành kiến
thức mới , cầu nối giữa kiến thức đã học và kiến thức sẽ học . Vì vậy, khi dạy học các
bài học trong giai đoạn này , giáo viên cần chuẩn bị kiến thức cho học sinh để làm cơ sở
vững chắc cho các em học những kiến thức mới tiếp theo . Cụ thể là :
- Học sinh được học bài 3;7R;c@4:=9deX<97f:=A; 3;7R;c@4:=<Ug;97L9
<h.ij;kAca3;7R;eX<:=c@4eX<<l;VA. Trước khi học bài nhân với số có hai,
ba chữ số .
- Học sinh được học bài 3974S97:=9deX<97f:=A. Trước khi học bài chia
cho số có hai, ba chữ số .
0 : Phương pháp chủ yếu được sử dụng là làm mẫu trên các
ví dụ cụ thể . Từ đó hướng dẫn học sinh cách đặt tính và tính. Đối với những trường hợp
cần lưu ý như : Phép chia có chữ số 0 ở thương, ước lượng thương chưa hết, nhớ khi
nhân chưa đúng giáo viên thường đưa ra các bài tập dưới dạng trắc nghiệm để học sinh
biết cách làm đúng.
Tóm lại : Với nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 4 để hình
thành kiến thức mới cho học sinh thì phương pháp chủ yếu là trực quan kết hợp làm
mẫu; Để rèn kĩ năng thì phương pháp chủ yếu là thực hành – luyện tập . Tuy nhiên ,
trong quá trình học sinh thực hành luyện tập, giáo viên phải tăng dần mức độ yêu cầu,
độ khó của bài tập ; tạo điều kiện cho học sinh tự huy động kiến thức sẵn có để làm bài,
đồng thới rèn cho học sinh khả năng tự kiểm tra , đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau .
Như vậy , khi sử dụng phương pháp dạy học phép nhân, phép chia số tự nhiên ở
lớp 4 người ta đã quan tâm đến đặc điểm nhận thức của học sinh ( tư duy cụ thể phát
triển hơn tư duy trừu tượng , tri giác bằng nhiều giác quan ) và đã có sử dụng các
phương pháp dạy học kích thích tư duy trừu tượng, khả năng so sánh, khái quát hóa ,
tổng hợp hóa cho học sinh
'[m9i4_e;7K;<7`997J;V9nS789:4;7^K9<4_J789)
- Khả năng tư duy của các em còn chưa phát triển cao
sinh tìm tòi , phát hiện, tự chiếm lĩnh kiến thức . Giáo viên tổ chức sao cho mọi học sinh
đều tham gia họat động học, sao cho học sinh thấy tự mình phát hiện , tìm ra kiến thức
chứ không phải nhìn vào sách giáo khoa hay nghe giáo viên thông báo kết quả có sẵn
trong sách giáo khoa .
Giáo viên hướng dẫn để học sinh sử dụng vốn hiểu biết của mình để hình thành
kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, động viên học sinh tập suy nghĩ , quan sát, diễn đạt,
thực hiện họat động học tập theo cách riêng của mình.
^[0MJ9rJ9G^v;9nSil4e@467YG;V67>6NOP789H^K9<4_J7890
Dạy học trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Thông qua hoạt
động học tập này , học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập , tự trải
nghiệm khám phá, phát hiện vấn đề và tự chiếm lĩnh kiến thức .
9[7T974w;iu;77Y@;V<UM;<U;Vc4w9NOP^a4e@4caNOP<7T97a;7?JPw;<K6E
V4>c4M;9r;)
- 4-
!"
#$%&'(%)*!+
#,( %%/+
#01!"%/%2( %%/+
#(%-345'67(%/7(%/8!+
#$29-:%%;%<-=>2<7?+
%$-%3@)%A/B@!!"
%%B%$-%3+
# !"%$2-%3%C7&D*E+,F3%$%(
,>6!"?%-"5-4%3+
#"$G%42 H65%4!"+
#I(7?!"%$7J%7(%'&%$-%3+
#3!"%'C7;%K8-*E+
>-2)%;'%B%$2-%3C%F!
7;LJ(%2J%BMJ-2J3N+
x[4@4<74wJeX<:=67YG;V67>6NOP789<7Yy;ViYz9:{NL;V<U;VNOP789
những kiến thức về phép nhân , phép chia đã học ở lớp 3 ); hướng dẫn học sinh làm bài
tập để định hướng cho học sinh làm bài
* Giáo viên luôn sử dụng phương pháp thực hành luyện tập trong quá trình rèn
luỵên kỹ năng thực hiện phép nhân , phép chia số tự nhiên . Điều này có lợi cho cả học
sinh lẫn giáo viên : giáo viên không phải giảng giải nhiều , còn học sinh có điều kiện tự
rèn luyện kỹ năng cho mình .
* Giáo viên luôn bám sát và theo dõi từng bước thực hiện tính của học sinh , có
biện pháp sửa sai kịp thời .
* Ngoài ra giáo viên có những điều chỉnh , phân tích kỹ , mở ra các hướng đối
với bài tập rèn luyện kỹ năng tính đưa ra trong sách giáo khoa ( chẳng hạn dạy qua các
trò chơi). Trong quá trình giảng dạygiáo viên biết lựa chọn bài tập hợp lý tùy theo đối
tượng học sinh.
2.Nhược điểm : Bên cạnh những ưu điểm trên , khi dạy học để rèn luyện kỹ năng nhân ,
chia cho học sinh lớp 4 , về phía giáo viên còn một số tồn tại sau :
* Giáo viên còn chưa chú ý phân tích và khai thác triệt để mục tiêu trọng tâm mỗi
tiết học, mỗi bài tập rèn luyện kỹ năng tính cho học sinh.
* Việc dạy học theo định hướng đướng đổi mới đôi lúc còn chưa được chú
trọng .Trong quá trình hình thành các phép nhân , phép chia ngay sau khi giảng giải và
hỏi – đáp , giáo viên thường rút ra qui tắc thực hiện phép toán nhưng ít chú ý đến việc
cho học sinh tự thực hành, tự rút ra qui tắc.
* Nhiều lúc phương pháp luyện tập thực hành bị lạm dụng để luyện kỹ năng tính
cho học sinh bằng cách yêu cầu học sinh làm nhiều bài tập mà chưa chú ý đến những
khó khăn của học sinh để giảng giải cho các em hiểu. Một số tiết học luyện tập còn buồn
tẻ , có nhiều dạng bài tập lặp lại mà giáo viên không đổi mới các hình thức chữa
bài chủ yếu chữa bài một cách đơn điệu. VD: học sinh đứng đọc bài làm hoặc lên bảng
làm và lớp chữa . Vì vậy , không kích thích được hứng thú học tập của học sinh.
* Có lúc giáo viên không cho học sinh tự củng cố lại : cách đặt tính thế nào ?
Thực hiện phép nhân , phép chia thứ tự ra sao ? Vì thế học sinh rất dễ mắc sai lầm khi
thực hiện phép tính , đặt biệt là đối với những phép chia có số 0 ở thương. Chỉ một số ví
dụ ở bài mới thì học sinh rất khó nắm bắt dược cách đặt tính , cách tính , , nên học sinh
-0 {NL;V9>97Z;7<7`9E67YG;V67>6NOP789<]979T9i_789:4;79d<7_<7T9
7a;7EU5<USWj<?JK;pJ4<…9ca<T<7T97a;70
Việc hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới có vai trò rất quan
trọng trong quá trình hình thành và phát triển tư duy toán học của học sinh. Sử dụng các
hình thức phương pháp dạy học tích cực để học sinh có thể thực hành, rút ra kết luận ,
quy tắc và tự thực hành.
VD: Khi dạy bài “ Chia hai số có tận cùng là chữ số 0 ” . Giáo viên nêu vấn đề cần
tìm hiểu ( 320 : 40 = ? ) để học sinh nhận xét tư duy cá nhân trả lời một số câu hỏi giáo
viên gợi ý . Từ đó học sinh có thể đưa ra nhận xét 320 : 40 = 32 : 4 ; Đây chính là
vấn đề cần giải quyết, giáo viên có thể gọi học sinh đại diện lên để đặt tính trong khi các
học sinh khác tự tính vào bảng con.
Nêu ví dụ thứ hai để học sinh tự giải quyết vào phiếu học tập( 32 000 : 400 = ? ) Học
sinh sửa bài và cũng đưa ra nhận xét 32 000 : 400 = 320 : 4 . Từ ví dụ thứ hai này học
sinh rút ra cách thực hiện chia hai số có tận cùng là các chữ số 0 ( Giài quyết bằng cách
đặt tính ) Học sinh tự nêu cách thực hiện .
Học sinh được luyện tập thực hành bằng ba bài tập trong phần thực hành để khắc sâu
kiến thức vừa tìm được (Chú ý khắc sâu kiến thức bằng cách sau mỗi bài tập học sinh
cần nêu lại cách thực hiện).
3. Thay đổi hình thức dạy học để gây hứng thú cho học sinh.
- 7-
4. Theo dõi, nhắc nhở thường xuyên những sai lầm của học sinh (được tích lũy từ
kinh nghiệm dạy học nhiều lượt học sinh)
Khi thực hiện các phép tính nhân, chia ở lớp 4 học sinh thường gặp một số khó khăn
sai lầm sau:
a. Học phép nhân:
Khi nhân số tự nhiên có 3 chữ số với số tự nhiên có 2,3 chữ số có nhớ 2,3….liên
tiếp, học sinh thường chỉ nhớ lna62 dầu tine6 mà không nhớ các lần tiếp theo.
VD : 234
X 24
836
- 8-
†‡!7…967L9)Khi dạy học sinh cách ước lượng thương trong phép chia , cần lưu
ýcho học sinh quy tắc trong phép chia có dư : “ Số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia”.
Giúp học sinh tập ước lượng tìm thương, cụ thể :
467 : 82 =? Có thể ước lượng : 46 : 8 = 5 ( dư 6 )
574 : 82 = ? Có thể ước lượng : 57 : 8 = 7 ( dư 1)
* ) Một sai lầm nữa thường thấy ở học sinh khi học sinh khi học chia viết là :Các em
thường quên chữ số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương.
VD: 2448 24
048 12
0
†‡!7…967L9) Khắc sâu cho các em ở lần chia thứ hai ta có 4 chia 24 được 0 ;
phải viết 0 ở vị trí thứ hai ở thương.
0!"ˆ}
Trong quá trình giảng dạy, áp dụng các phương pháp trên, tôi nhận thấy học sinh lớp
tôi hứng thú học tập. Các em mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài, tính toán nhanh,
chính xác. Học sinh ham học, tự tin, chất lượng học tập được nâng lên một cách rõ rệt.
Trong quá trình học toán, học sinh dần dần biết cách phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức mới
và cách giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống. Sự tiến bộ của các em biểu hiện cụ
thể qua điểm số. Cha mẹ học sinh yên tâm, tích cực ủng hộ việc dạy học của giáo viên.
B0!"%‰
ˆua tìm hiểu những vấn đề trên tôi nhận thấy: giáo viên cần nắm vững sự thể hiện
các nội dung kiến thức toán học lớp 4 nói chung và phần Số học nói riêng ở trong sách
giáo khoa thì chắc chắn việc dạy học sẽ tốt hơn. Có hiểu đúng, chính xác kiến thức thì
giáo viên mới truyền thụ cho học sinh kiến thức đúng được.
- Bằng việc tìm hiểu cách sắp xếp nội dung dạy học trong sách giáo khoa, giáo viên
sẽ thấy được mối liên hệ giữa các bài học. Từ đó chú ý huy động kiến thức học sinh đã
có để học bài mới, đồng thời trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết để làm cơ
sở học tiếp các bài tiếp theo.
- Việc nắm được đăc điểm nhận thức của học sinh, các phương pháp dạy học phép