ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÙI ĐĂNG BIÊN
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP
HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Bảng 2.12: Diễn biến sử dụng đất nông nghiệp huyện Phù Cừ 54
ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Tấc độ tăng trưởng GDP thực tế của huyện Phù Cừ 2006-2012 27
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp năm 2006 và năm 2012 41
Biểu đồ 2.3: Lao động đang làm việc trong ngành nông nghiệp
49
5. Kết cấu đề tài: 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG NÔNG NGHIỆP 5
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững nông nghiệp 5
1.1.1. Các khái niệm: 5
1.1.1.1. Khái niệm về phát triển bền vững 5
1.1.1.2. Khái niệm về nông nghiệp 7
1.1.1.3. Khái niệm về phát triển bền vững nông nghiệp 8
1.1.2. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 11
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển bền vững nông nghiệp
13
1.2. Cơ sở thực tiễn: Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển
bền vững nông nghiệp 14
1.2.1. Kinh nghiệm của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định 14
1.2.2. Kinh nghiệm của huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình 18
1.2.3. Kinh nghiệm của huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương 20
1.2.4. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP
CỦA HUYỆN PHÙ CỪ 25
2.1. Những điều kiện tác động đến sự phát triển bền vững nông nghiệp
của huyện Phù Cừ 25
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 25
2.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội và văn hoá 26
2.1.3. Một số chính sách của tỉnh, huyện về phát triển nông nghiệp 35
2.2. Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp của huyện Phù Cừ 37
2.2.1. Phát triển bền vững về kinh tế 37
2.2.2. Phát triển bền vững về xã hội 48
2.2.3. Phát triển bền vững về nguồn tài nguyên và môi trường 54
2.3. Đánh giá chung 60
2.3.1. Thành tựu 60
70% lao động xã hội. Diện tích đất tự nhiên của Việt Nam trên 33 triệu ha thì
đất nông nghiệp chỉ chiếm 28,4% và bình quân đầu người có xu hướng thấp
dần do dân số còn tăng và đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp lại rất hạn
chế, chủ yếu ở các vùng đồng bằng. Vì vậy, nếu không biết sử dụng đất đai
một cách khoa học thì dễ bị suy thoái, tài nguyên đất ngày càng kiệt quệ và
không thể phát triển một nền kinh tế bền vững, thu nhập của nông dân ngày
càng thấp đi. Để phát triển sản xuất nông nghiệp thì cần phải có một chế độ
canh tác bền vững trong hệ thống nông nghiệp. Bởi nông nghiệp không chỉ
đảm bảo đời sống và xã hội, ổn định chính trị mà còn tạo ra tiền đề vật chất
cần thiết để mở mang phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế xã hội
khác. Nông nghiệp là ngành sử dụng chủ yếu hai nguồn tài nguyên thiên
nhiên quan trọng bậc nhất đối với sự tồn vong của loài người đó là đất và
nước. Khi dân số tăng mạnh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cuộc sống
con người càng tăng lên, do vậy nông nghiệp có những tác động ngày càng to
lớn đối với môi trường. Chính vì vậy, phát triển nông nghiệp, đặc biệt phát
triển kinh tế bền vững nông nghiệp đang là vấn đề hết sức quan trọng đặt ra
cho các nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp.
Với ngành nông nghiệp huyện Phù Cừ trong những năm qua đã đạt
được tốc độ tăng trưởng khá và ổn định; giá trị sản xuất nông nghiệp giai
đoạn 2006-2012 tăng bình quân 6,3%; cơ cấu cây trồng, con vật nuôi chuyển
dịch theo hướng tăng năng suất, chất lượng cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nền nông nghiệp huyện
vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Đó là phát triển chưa bền vững, thể hiện ở
sự chuyển dịch chậm cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng thấp, việc ứng
2
dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất, chất lượng cây trồng, con vật
nuôi còn hạn chế, chưa gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm…
Chính vì vậy, tôi đã chọn vấn đề “Phát triển bền vững nông nghiệp
huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” làm đề tài tốt nghiệp cao học, trong đó phân
tích, đánh giá những điều kiện phát triển kinh tế, các chính sách đã và đang
Cừ, tỉnh Hưng Yên.
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2006 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch
sử, các phương pháp chủ yếu sau đây được sử dụng để thực hiện đề tài:
* Phương pháp thu thập thông tin:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Nguồn thông tin này chủ yếu
dựa vào các sách tham khảo, các công trình khoa học, luận văn, luận án đã
được công bố, các văn bản chính sách nhằm làm rõ một số vấn đề cơ bản về
lý luận và thực tiễn có liên quan tới phát triển bền vững nông nghiệp.
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: gồm những thông tin, số liệu
thu thập được của địa phương để làm cơ sở thực tiễn cho việc phân tích và
đánh giá thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp của huyện Phù Cừ.
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: nhằm thu thập thông tin qua
các cán bộ lãnh đạo, các cán bộ chủ chốt của địa phương. Phương pháp này
rất quan trọng và đặc biệt hữu ích trong việc nắm bắt các thông tin tổng quát
cũng như cụ thể của địa bàn nghiên cứu.
* Phương pháp phân tích thông tin:
- Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng để nghiên cứu các vấn đề
liên quan tới phát triển bền vững nông nghiệp như: các nguồn lực phát triển
4
(như đất đai, lao động, khoa học công nghệ), phát triển sản xuất nông nghiệp,
vấn đề môi trường
- Phương pháp phân tích thực chứng: là phương pháp được dựa trên
những số liệu, thông tin thu thập được từ thực tế phát triển bền vững nông
nghiệp của huyện Phù Cừ.
- Phương pháp phân tích định tính: được sử dụng nhằm kiểm định và
làm rõ những kết quả nghiên cứu về thực trạng phát triển bền vững nông
nghiệp của huyện Phù Cừ, từ đó rút ra những kết luận về những thành tựu,
hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế. Dựa trên những kết
mục tiêu khác nhau về xã hội, môi trường đã không được chú trọng đúng
mức, dẫn đến sự bất bình đẳng trong xã hội, khoảng cách giàu nghèo ngày
càng gia tăng, môi trường sống và môi trường sinh thái bị phá huỷ. Do vậy đã
có một sự thay đổi về quan niệm và hành động, và quan niệm về phát triển
bền vững ra đời
Có nhiều khái niệm về phát triển bền vững. Từ năm 1980, khái niệm
phát triển bền vững được đưa ra trong báo cáo “Chiến lược bảo tồn thế giới”
do Uỷ ban Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN) đề xuất, đó là “Sự phát triển
nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng
những nhu cầu thiết yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái”.
Sau đó khái niệm phát triển bền vững đã được bổ sung và có nội dung bao
quát hơn. “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những
nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến những khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ tương lai”.
6
Đến nay, khái niệm phát triển bền vững ngày càng được bổ sung và
hoàn chỉnh. Tổng hợp những quan điểm đó có thể hiểu rằng “Phát triển bền
vững là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt
của sự phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thỏa mãn được nhu
cầu xã hội hiện tại nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế
hệ tương lai”.
* Nội dung của phát triển bền vững
Sự phát triển bền vững của một nền kinh tế hay một ngành kinh tế phải
đảm bảo được ba yếu tố trụ cột về: phát triển kinh tế bền vững, xã hội bền
vững và môi trường bền vững, ba yếu tố này phát triển không tách rời mà có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau phát triển.
- Về kinh tế: một nền kinh tế bền vững phải thể hiện ở sự tăng trưởng
và phát triển lành mạnh của tất cả các ngành kinh tế, đặc biệt là các ngành
kinh tế liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tránh sự mất cân đối
giữa các khu vực làm tổn hại đến mỗi ngành sản xuất.
hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi nông
dân. Không có cơ giới hoá trong nông nghiệp sinh nhai.
Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được
chuyên môn hoá trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử
dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản
phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn,
bao gồm cả việc sử dụng hoá chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo
giống, nghiên cứu các giống mới. 8
1.1.1.3. Khái niệm về phát triển bền vững nông nghiệp
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về bền vững nông nghiệp,
trong đó có khái niệm của Tổ chức Sinh thái và Môi trường thế giới đưa ra rất
đáng được quan tâm bởi tính tổng hợp và khái quát cao của nó: “ Bền vững
nông nghiệp là nền nông nghiệp thỏa mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện
nay, mà không giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau”. Tuy nhiên, bền
vững nông nghiệp chỉ có ý nghĩa tương đối. Chẳng hạn trong khoảng thời
gian 20 – 25 năm, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng một cách ổn định thỏa
mãn được nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nông sản trong nước và xuất khẩu. Như
vậy có thể được coi là nông nghiệp tương đối bền vững. Song có thể xảy ra
những biến cố ( về kinh tế, về thiên tai…), khi đó con người lại phải điều
chỉnh để tạo ra phương thức bền vững mới.
Vậy phát triển bền vững nông nghiệp là gì? Có thể khái quát khái niệm
này như sau: Phát triển bền vững nông nghiệp là việc quản lý có hiệu quả các
nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy trì
hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên (FAO). Nói một cách cụ thể phát triển bền vững nông nghiệp là phải
giải quyết một cách đồng bộ trên cả ba mặt: kinh tế, xã hội, môi trường.
* Nội dung của phát triển bền vững nông nghiệp
nghiệp, điều đó được thể hiện các tiêu chí sau:
+ Sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông
nghiệp.
+ Năng suất và hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp ngày càng
cao.
+ Sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực (vốn, lao động, đất đai).
10
- Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội: là việc đảm bảo cho người
nông dân có công ăn việc làm ổn định, nâng cao thu nhập, cải thiện chất
lượng cuộc sống, góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm dần khoảng cách giữa
người giàu và người nghèo trong nông thôn; nâng cao trình độ văn minh về
đời sống vật chất và tinh thần cho người nông dân; hạn chế các tệ nạn xã hội;
đảm bảo ổn định xã hội.
Nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện công bằng xã hội, các chỉ
tiêu thu nhập bình quân đầu người, chỉ số hưởng thụ về giáo dục và chỉ số về
chăm sóc y tế, việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
- Phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường: là sự khai thác hợp
lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn
chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, đảm bảo cân bằng
hệ sinh thái, giữ nguồn nước ngầm trong sạch. Điều đó có nghĩa là con người
sử dụng tài nguyên phong phú của thiên nhiên nhưng không được tàn phá
thiên nhiên.
Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tái tạo môi trường sinh thái phát triển
bền vững nông nghiệp là khai thác hợp lý, không làm ô nhiễm suy thoái và
hủy hoại môi trường, duy trì được chất lượng đất đai, giữ sạch nguồn nước
đảm bảo và hạn chế tối đa vấn đề ô nhiễm môi trường.
Như vậy, một nền nông nghiệp phát triển bền vững phải đảm bảo được
mục đích là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về
kinh tế, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người mà không hủy diệt đất
đai, không làm ô nhiễm môi trường, đảm bảo lợi ích cho các thế hệ mai sau.
phương tiện vận tải hoạt động. Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế
12
khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị
giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thế, theo ý muốn chủ
quan, nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có
thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của
loài người về nông sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết
quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp
sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho
ruộng đất càng ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi
đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm.
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật
nuôi. Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo quy luật sinh học nhất
định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) . Chúng rất nhạy cảm với yếu tố
ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực
tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm
cuối cùng. Cây trồng và vật nuôi và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất
đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực
tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho
chu trình sản xuất sau. Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi
hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những
giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất
lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương.
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là nét đặc thù điển
hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt tái sản xuất nông nghiệp
là quá trình tái tạo sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự
nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại
không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp.
Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá
13
yếu tố này tăng lên.
- Chính sách quản lý: Các chính sách về phát triển nông nghiệp có ảnh
hưởng to lớn đến sự phát triển bền vững, bao gồm: chính sách đất đai và thuế
sử dụng đất; chính sách tín dụng và lãi suất tín dụng; chính sách khuyến nông;
các chính sách về khoa học công nghệ; chính sách hỗ trợ lao động…góp phần
thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Sự phối hợp đồng bộ các chính sách
trên là điều kiện căn bản để phát triển bền vững nông nghiệp.
- Truyền thống văn hóa: Sức mạnh của giá trị truyền thống, của đạo lý
dân tộc sẽ hạn chế xu hướng sùng bái lợi ích vật chất, sùng bái tiền tệ, nghĩa
là hạn chế xu hướng hàng hóa và đồng tiền “xuất hiện với tính cách là lượng
có khả năng xuyên tạc bản chất con người cũng như những mối liên hệ khác”
dẫn tới suy thoái xã hội, giảm động lực của sự phát triển.
1.2. Cơ sở thực tiễn: Kinh nghiệm của một số địa phương về phát
triển bền vững nông nghiệp
1.2.1. Kinh nghiệm của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Huyện Xuân Trường nằm ở phía đông bắc tỉnh Nam Định phía bắc giáp
tỉnh Thái Bình, phía nam giáp huyện Hải Hậu, phía đông giáp huyện Giao
Thuỷ, phía tây giáp huyện Trực Ninh đều thuộc tỉnh Nam Định. Xuân Trường
là huyện đồng bằng châu thổ sông Hồng, địa hình bằng phẳng, đất đai phì
nhiêu, màu mỡ, được bao bọc bởi ba con sông lớn (phía bắc là sông Hồng,
phía tây là sông Ninh Cơ, phía đông là sông Sò) và có tỉnh lộ 489 chạy qua,
trên địa bàn huiyện còn có hệ thống sông ngòi, mương máng chằng chịt, rất
thuận lợi cho giao thông vận tải và tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp,
huyện có tổng diện tích 112,8km
2
và dân số 185.407 người (năm 2008).
15
Là một huyện trọng điểm lúa của tỉnh Nam Định, Xuân Trường có diện
tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 71%. Người nông dân ở Xuân Trường có
truyền thống thâm canh lúa nước, tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học kỹ
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo
hướng sản xuất hàng hóa để nâng cao giá trị thu được trên đơn vị diện tích.
Huyện đã thực hiện giữ vững truyền thống thâm canh tăng năng suất lúa, để
bảo đảm an ninh lương thực trên địa bàn, đổi mới cơ cấu giống, cơ cấu mùa,
đẩy mạnh sản xuất vụ đông trên đất lúa - lấy cây đậu tương làm chủ lực nhằm
mục đích cải tạo, bồi bổ đất trong điều kiện thiếu nguồn phân hữu cơ nghiêm
trọng. Ðồng thời, ngành nông nghiệp huyện cũng khuyến khích áp dụng nhiều
phương thức, cách làm để thay đổi tập quán thu hoạch lúa của nông dân,
nhằm chống ô nhiễm môi trường. Ðảng ủy chỉ đạo tăng cường các hoạt động
của Ban nông nghiệp xã, thị trấn theo chức năng, nhiệm vụ quy định; triển
khai tích cực và có hiệu quả các nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới theo lộ
trình và tiến độ. Thực hiện tốt công tác quy hoạch nông nghiệp (quy hoạch
vùng sản xuất lúa bảo đảm giữ vững an ninh lương thực, quy hoạch vùng
chăn nuôi - thủy sản, vùng rau màu và các loại cây hàng hóa ) gắn với quy
hoạch nông thôn mới theo đúng tiêu chí do Chính phủ quy định. Khuyến
khích và triển khai có hiệu quả việc dồn điền, đổi thửa trong nông nghiệp, tiến
tới tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền
vững. Kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp
như sản xuất rau sạch, sản xuất lúa giống, lúa xuất khẩu, sinh vật cảnh, trang
trại Ðể phát triển bền vững ngành chăn nuôi, huyện đã làm tốt công tác
phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn cho đàn gia súc, gia cầm. Năm
17
2012 huyện có tổng đàn lợn đạt 82.500 con, đàn trâu 900 con, đàn bò 1.800
con; đàn gia cầm: 495.000 con; diện tích nuôi trồng thủy sản là 811 ha, sản
lượng đạt 1.866 tấn. Là địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên
tai, huyện cũng đã xây dựng và thực hiện tốt các kế hoạch phòng, chống lụt
bão, tăng cường công tác quản lý về đê điều. Bên cạnh mục tiêu phát triển
kinh tế, địa phương cũng rất quan tâm đến công tác quy hoạch sử dụng đất,
trong đó coi trọng việc quản lý quy hoạch sử dụng đất, nhất là quản lý quy
hoạch đất giãn dân theo định hướng đã được chỉ đạo. Công tác quy hoạch và
cao và phát triển
1.2.2. Kinh nghiệm của huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình nằm (chính giữa phía Bắc tỉnh) tại
hai ngã ba ranh giới giữa tỉnh Thái Bình với hai tỉnh: Hưng Yên, Hải Dương
và với hai tỉnh Hải Dương, Hải Phòng. Phía Đông Nam giáp huyện Thái
Thụy, phía Nam giáp huyện Đông Hưng, phía Tây Nam giáp huyện Hưng Hà.
Góc phía Tây giáp huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên. Phía Tây Bắc giáp các
huyện: Thanh Miện và Ninh Giang của tỉnh Hải Dương. Phía Đông Bắc giáp
huyện Vĩnh Bảo của thành phố Hải Phòng. Con sông Luộc chảy men theo gần
như toàn bộ ranh giới với các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên. Sông Hóa nằm trên
ranh giới với huyện Vĩnh Bảo. Trên khắp địa bàn huyện có một mạng lưới các
con sông nhỏ nhận nước từ sông Luộc và sông Hóa đổ vào sông Diêm Hộ
(trong đó có nhánh chính của sông Diêm Hộ). Cực nam của huyện là xã Đồng
Tiến (giáp ranh hai huyện Đông Hưng và Thái Thụy), cực bắc của huyện là xã
An Khê (giáp ranh hai huyện: huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương xã An Mỹ
giáp ranh với huỵện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng). Huyện Quỳnh Phụ là
một huyện đồng bằng, diện tích tự nhiên là 205,6 km².
19
Giai đoạn 2006-2010 kinh tế huyện Quỳnh Phụ phát triển khá mạnh
mẽ: Tổng giá trị sản xuất năm 2010 là 3.617 tỷ đồng, tăng 16,7% so với năm
2006; tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2006-2010 là 12,1%. Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Năm 2012 nông nghiệp chiếm 24%, so
với năm 2006 giảm 10,27%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là 59%,
thương mại - dịch vụ là 17%
Đối với sản xuất nông nghiệp, huyện hướng ưu tiên vào 4 nhóm giải
pháp trọng tâm. Đó là tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu giống lúa và thời
vụ gieo cấy, phấn đấu gieo cấy từ 90% trở lên các giống lúa ngắn ngày ở vụ
xuân và loại bỏ hoàn toàn các giống dài ngày ở vụ mùa.
Đồng thời mở rộng diện tích lúa chất lượng cao làm hàng hoá ở các
xã được quy hoạch như An Thanh, An Mỹ, An Hiệp, An Dục, Quỳnh Bảo
thiết bị (máy cày, máy thu hoạch, máy bơm nước, máy gieo hạt…) xây dựng
các mô hình sản xuất tiên tiến; đầu tư các loại giống cây trồng, vật nuôi cho
năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế cao; chú trọng các loại giống mới có
khả năng phòng chống dịch bệnh cao; quan tâm đến công tác phòng chống
dịch bệnh cho gia súc, gia cầm, nhất là việc tiêm phòng và chủ động dập tắt
dịch khi xảy ra trên địa bàn.
1.2.3. Kinh nghiệm của huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
Huyện Gia Lộc là một huyện nằm phía tây nam của tỉnh Hải Dương với
tổng diện tích 112 km² và dân số 147.322 người. Địa hình Gia Lộc là đồng
bằng, đất nông nghiệp chiếm 67% diện tích. Về giao thông, đường 17 chạy
qua địa phận huyện và đường thủy trên sông Thái Bình; là huyện có xuất phát
điểm làm nông nghiệp là chính, nhưng hiện nay đã trở thành huyện có kinh tế
phát triển nhanh, đóng góp rất lớn cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hải