Tìm hiểu về thị trường rau quả Việt Nam
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu đặc trưng của mỗi vùng
miền đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc đa dạng hoá sản phẩm rau quả, diện tích trồng
rau, quả của nước ta tăng nhanh trong những năm gần đây.
Theo dự báo của FAO (Tổ chức Lương Nông LHQ), nhu cầu tiêu thụ rau quả của thế
giới tăng bình quân 3,6%/ năm trong khi sản lượng rau quả chỉ tăng 2,8%/năm. Điều này
cho thấy cung vẫn chưa đủ cầu. Tuy nhiên, rau quả Việt Nam vẫn chủ yếu phục vụ thị
trường trong nước, xuất khẩu rau quả ra nước ngoài đã và đang gặp nhiều khó khăn do bạn
hàng yêu cầu chặt chẽ về chất lượng, cạnh tranh gay gắt.
Khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO, xuất hiện những cơ hội mới và
thách thức mới trên nhiều lĩnh vực, ngay cả những lĩnh vực trước đây ta không có. Hoàn
cảnh mới đó đòi hỏi phải có bước đi mới, trong đó có cả những bước đi đón đầu. Chúng ta
phải nhìn ra thị trường toàn cầu để tìm phương hướng phát triển cho cả nước, không nên
hạn chế trong thị trường nội địa. Trong thời gian tới, cần xác định triển vọng xuất khẩu rau
quả Việt Nam là gì và giải pháp nào để phát triển? do đó chúng tôi chọn đề tài "Tìm hiểu
về thị trường rau quả Việt Nam nhằm ...???
II. Nội Dung
2 Thị trường rau quả Việt Nam.
2.1 Đặc điểm của rau quả Việt Nam.
2.2 Thực trạng của thị trường rau quả Việt Nam.
• Tình hình tiêu thụ của rau quả Việt Nam trong thời gian qua.
2. Tình hình tiêu thụ trong nước
Theo một số nghiên cứu về tình hình tiêu thụ các loại rau quả của Việt Nam trong
thời gian qua, các loại rau quả được tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống (95% số hộ tiêu
thụ), cà chua (88%) và chuối (87%). Hộ gia đình Việt Nam tiêu thụ trung bình 71 kg rau
quả cho mỗi người mỗi năm. Rau chiếm 3/4.
Thành phần tiêu thụ rau quả cũng thay đổi theo vùng. Đậu, su hào và cải bắp là
những loại rau được tiêu thụ rộng rãi hơn ở miền Bắc; trong khi cam, chuối, xoài và quả
khác lại được tiêu thụ phổ biến hơn ở miền Nam. Sự tương phản theo vùng rõ nét nhất có
thể thấy với trường hợp su hào với trên 90% số hộ nông thôn ở miền núi phía Bắc và Đồng
b. Chất lượng chưa cao
Chất lượng rau quả của ta còn thấp và chưa đồng đều, nguyên nhân chủ yếu là do giống,
phương pháp canh tác còn yếu, vườn tạp nhiều, trình độ phòng bệnh, chăm sóc kém, dư
lượng trừ sâu còn nhiều. Bên cạnh đó, công nghệ chế biến lạc hậu, thiếu các phương tiện
vận chuyển lạnh, phương tiện bảo quản hiện đại cũng là nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực
tới chất lượng rau quả. Một nguyên nhân nữa là do các tiêu chuẩn chất lượng của Việt
Nam tương đối lạc hậu so với các tiêu chuẩn quốc tế.
c. Thiếu thương hiệu
Hiện nay, nông sản Việt nam nói chung và rau quả xuất khẩu nói riêng vẫn chưa có thương
hiệu mạnh. Chính vì thế việc bán dưới dạng thô hoặc sơ chế chưa tạo ra giá trị cao.
Các thị trường nhiều triển vọng
thị trường Đài Loan - một thị trường tiềm năng với thị hiếu tương đối đa dạng và không
đòi hỏi quá cao về chất lượng, và đang được đánh giá là thị trường có nhiều thuận lợi, với
các mặt hàng chủ yếu như cải bắp, dưa chuột, cà chua, nấm, chuối, thanh long, vải và xoài.
Hiện nay, Đài Loan là thị trường trung gian cho rất nhiều loại sản phẩm của Việt Nam xuất
khẩu sang các thị trường châu Âu, Mỹ và Đông Á.
Các thị trường xuất khẩu truyền thống như Trung Quốc, do sắp bước vào mùa hè nên nhu
cầu nhập khẩu về các loại quả nhiệt đới của Việt Nam đang tăng cao.
Tại thị trường Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hồng Kông, theo dự báo của Bộ Nông nghiệp
Hoa Kỳ (USDA), do tác động của các yếu tố như sự thay đổi cơ cấu dân số, thị hiếu tiêu
dùng và thu nhập dân cư…tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2000-2010,
đặc biệt là các loại rau ăn lá.
2.3 Cơ hội và thách thức:
2.3.1 Cơ hội
• Gia nhập vào WTO
Gia nhập WTO, thị trường rau quả Việt Nam có điều kiện thâm nhập vào thị trường rau
quả thế giới. Rau quả xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu mức hàng rào thuế quan thấp nhất,
cùng với việc nhiều hàng rào phi thuế quan sẽ được bãi bỏ, thị trường tiêu thụ rau quả sẽ
có khả năng không ngừng mở rộng cả về quy mô và không gian thị trường.
cơ hội đổi mới công nghệ