BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ HỮU NHÂN CÔNG TÁC BẢO HIỂM Y TẾ
CHO NGƯỜI NGHÈO TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 60.31.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2014
ọc liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người trong cuộc sống, cũng như trong quá trình lao động
luôn phải chịu ảnh hưởng và chịu sự tác động của môi trường. Môi
trường thay đổi sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, nên ốm đau
bệnh tật là khó ai tránh khỏi. Chính vì vậy được bảo vệ và chăm sóc
sức khoẻ là một nhu cầu tất yếu của mọi người xã hội.
Bến Tre là một tỉnh còn nghèo, điều kiện kinh tế xã hội còn
nhiều khó khăn, ngoài việc phát triển nền kinh tế xã hội nâng cao mức
sống người dân, thì tỉnh còn chú trọng quan tâm đến việc chăm lo sức
khỏe cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Xuất phát từ yêu cầu
thực tiển đó, em đã chọn đề tài “Công tác Bảo hiểm y tế cho người
nghèo tỉnh Bến Tre” làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ
của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác BHYT.
- Nghiên cứu thực trạng công tác BHYT cho người nghèo trên
địa bàn tỉnh Bến Tre.
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác BHYTcho người
nghèo trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: BHYT cho người nghèo
- Phạm vi nghiên cứu: BHYT cho người nghèo trên địa bàn tỉnh
Bến Tre từ năm 2008 đến 2013.
- Chương 1: Cơ sở lý luận về BHYT cho người nghèo
- Chương 2: Thực trạng về BHYT cho người nghèo tại Bến Tre
- Ch
ương 3: Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác
BHYT cho người nghèo tại Bến Tre
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM Y
TẾ
1.1.1.Khái niệm, bản chất và nguyên tắc của BHYT
a. Khái niệm
Chính sách về BHYT được Đảng và Nhà nước ta tổ chức thực
hiện từ năm 1992. Ngày 14/11/2008 Luật BHYT được Quốc hội nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua. Khái niệm về BHYT
được hiểu là:“BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh
vực CSSK, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện
và các đối tượng có trách nhiệm phải tham gia theo quy định của Luật
BHYT”.
b. Bản chất
BHYT là một phần thuộc hệ thống BHXH Việt Nam.
BHYT sẽ đảm bảo cho những người tham gia BHYT phòng
tránh bệnh tật, chữa trị và khôi phục sức khỏe sau bệnh tật.
BHYT giúp người tham gia BHYT khắc phục sự thiếu hụt về tài
chính, đáp ứng nhu cầu KCB của mọi người dân.
BHYT góp phần nâng cao chất lượng và công bằng trong KCB.
Thứ hai: BHYT giúp cho người tham gia khắc phục khó khăn
cũng như ổn định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm
đau.
Thứ ba: Bảo hiểm y tế mang tính nhân đạo và đoàn kết theo
phương châm: “Lá lành đùm lá rách”.
Th
ứ tư: BHYT làm tăng chất lượng khám chữa bệnh và quản lý
y tế thông qua hoạt động quỹ BHYT đầu tư. 5
Thứ năm: BHYT còn có tác dụng góp phần giảm nhẹ gánh nặng
cho ngân sách Nhà nước.
Thứ sáu: Chỉ tiêu phúc lợi xã hội trong mỗi nước cũng biểu hiện
trình độ phát triển của nước đó.
Thứ bảy: BHYT còn góp phần đề phòng và hạn chế những bệnh
hiểm nghèo theo phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Thứ tám: BHYT còn góp phần đổi mới cơ chế quản lý y tế.
1.1.4. Mối quan hệ giữa BHYT và chế độ chăm sóc y tế cho
người nghèo
Chăm sóc sức khỏe nghĩa là nhằm giải quyết những vấn đề sức
khoẻ có tính phổ biến và quan trọng của cộng đồng. Phương châm là
thực hiện kết hợp phòng bệnh (chăm sóc sức khoẻ ban đầu, y tế dự
phòng) với điều trị bệnh tật (khám, chữa bệnh). Nếu công tác chăm sóc
khoẻ ban đầu làm tốt, phòng bệnh đạt hiệu quả cao thì tỉ lệ bệnh tật và
tử vong giảm xuống, các chi phí khám, chữa bệnh cũng giảm và làm
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động BHYT.
1.2. NỘI DUNG CÔNG TÁC BẢO HIỂM Y TẾ CHO
NGƯỜI NGHÈO
những giải pháp được đặt ra hàng đầu là phải đẩy mạnh và nâng cao
chất lượng dịch vụ y tế, thái độ phục vụ, đáp ứng nhu cầu KCB ngày
một tăng lên theo sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội người dân.
Cải cách thủ tục hành chính trong việc khám chữa bệnh, trong
thanh toán chi phí KCB. Tạo điều kiện tốt nhất cho người nghèo và
người dân không phải chờ đợi lâu, mất thời gian. Nâng cao ý thức,
trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, phối hợp chặt chẽ với các cơ sở KCB
hướng dẫn người bệnh thực hiện đúng, đủ các thủ tục khám, chữa bệnh
BHYT.
1.2.4. Qu
ản lý việc sử dụng thẻ BHYT của người nghèo 7
Trong các năm gần đây thì công tác BHYT cho người nghèo đã
và đang mang lại nhiều kết quả rất tốt, qua đó đáp ứng nhu cầu KCB
của người nghèo.
Công tác xác định và lập danh sách cho người nghèo ở một số
địa phương còn diễn ra chậm, còn thiếu soát.
Phải thưởng xuyên tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra giám sát
việc thực hiện công tác BHYT cho người .
- Công tác cấp thẻ BHYT được tiến hành chặt chẽ đãm bảo thẻ
BHYT đến tận tay người nghèo đúng lúc, đủ số lượng .
1.2.5. Tăng cường công tác giáo dục ý thức trách nhiệm cho
người nghèo
Trên thực tế thẻ BHYT đã và đang chưa phát quy hết vai trò và
lợi ích của nó, đặc biệt là công tác thẻ BHYT cho người nghèo
Đẩy mạnh công tác tuyên tuyền đa dạng với nhiều hình thức,
như báo, đài, phương tiện thông tin đại chúng…Nội dung tuyên tuyền
các ngành các cấp và toàn xã hội.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác BHYT cho người
nghèo
- Nhân tố về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu,
tài nguyên thiên nhiên.
- Nhân tố về điều kiện kinh tế: tình hình phát triển, cơ cấu kinh
tế.
- Nhân tố về điều kiện xã hội: Nhân khẩu, tập quán, tôn giáo,
truyền thống và trình độ nhận thức của từng cộng đồng dân cư…
Trình độ đội ngũ công chức đóng vai trò rất quan trọng trong
công tác BHYT
đặc biệt là BHYT cho người nghèo.
1.3.3. Kinh nghiệm bảo đảm BHYT cho người nghèo tại một
số địa phương 9
a. Tỉnh Tiền Giang
b. Tỉnh Vĩnh Long
c. Bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Bến Tre
Việc mua thẻ BHYT cho người nghèo là chính sách lớn của
Đảng và Nhà nước, hợp lòng dân để người nghèo chẳng may bị ốm
đau được KCB ở các tuyến dễ dàng nhất là các trường hợp bệnh nặng
rất tốn kém nhưng cũng được BHYT lo đầy đủ.
Vì vậy cần tạo môi trường thuận lợi hơn để người nghèo được
tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế, góp phần làm cho chính sách
BHYT cho người nghèo phát huy hết ý nghĩa. Qua đó từng bước hoàn
thiện để tiến tới lộ trình BHYT.
động, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, đồng thời góp một
phần đáng kể vào ngân sách địa phương.
Toàn tỉnh hiện có trên 2.886 doanh nghiệp và hơn 44.000 hộ kinh
doanh cá thể đăng ký hoạt động trên các lĩnh vực. Bến Tre đã hình
thành Khu công nghiệp Giao Long và Khu công nghiệp An Hiệp đưa
vào hoạt động thu hút nhiều dự án đầu tư vào tỉnh. Qua các năm tỷ lệ
tăng trưởng kinh tế của tỉnh không ngừng gia tăng cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Giá trị sản xuất các lĩnh vực của tỉnh Bến Tre
từ năm 2008 – 2013
Đơn vị: tỷ đồng
Năm Tổng
Nông - lâm
- thủy sản
Công
nghiệp
TM-DV
2013 56.568 25.334 17.828 13.406
2012 51.352 23.091 15.553 12.708
2011 46.006 20.965 13.148 11.893
2010 42.496 20.767 11.449 10.280
2009 38.531 19.469 10.135 8.927
2008 34.486 17.632 8.977 7.897 11
“Nguồn: Niên giám thống kê 2013”
Tuy qua các năm gần đây kinh tế Bến Tre đều có sự tăng trưởng,
nhưng Bến Tre vẫn là một tỉnh còn nghèo so với mặt bằng chung của
nghèo
Tỷ lệ
%
Tỷ lệ
nghèo
thành thị %
Tỷ lê
nghèo
nông thôn
%
2013 1,275,548
11.823 8.77 5.23 11.64
2012
1,258,501 158,948 12.63
6.78 13.29
2011 1,257,670
195,945 15.58
7.93 16.43
2010
1,256,707
với mặt bằng chung của cả nước. Do đó Bến Tre cần cố gắng hơn nữa
trong việc giảm nghèo và kiểm soát tốc độ tăng dân số, tập trung phát
tri
ển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. 13
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BHYT CHO NGƯỜI NGHÈO
TẠI TỈNH BẾN TRE THỜI GIAN QUA
2.2.1. Thực trạng việc cung ứng thẻ BHYT cho người nghèo.
Cụ thể ta có bảng số liệu sau:
Bảng 2.3: Tình hình Cấp phát thẻ BHYT cho người nghèo
năm 2008 - 2013
Năm Tổng số thẻ Số thẻ người nghèo Tỷ lệ%
2013
853.524
109,862
12.87
2012
704,666
132,704
18.81
34.14
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội tỉnh Bến Tre)
Qua bảng số liệu 2.3 ta thấy tình hình cung ứng thẻ BHYT cho
người nghèo qua các năm từ 2008 đến 2013 tăng lên đáng kể. Năm
2008 từ 83.191 thẻ thì đến năm 2013 tăng lên 110.816 thẻ. Tuy số thẻ
BHYT cấp ra nhiều hằng năm đều tăng lên nhưng tỷ lệ người nghèo
qua các năm đều giảm đáng kể, cụ thể là năm 2008 số thẻ phát cho
người nghèo chiếm 34,14 % so với tổng số thẻ phát ra, đến năm 2013
thì giảm còn 12,98% tổng số thẻ phát ra.
Từ những số liệu bảng 2.3 trên ta thấy được số người nghèo
qua các n
ăm đều được kéo giảm, tỷ lệ người nghèo được cấp phát
thẻ BHYT ngày càng cao. Từ đó ta có thể kết luận là việc cung
ứng thẻ BHYT cho người nghèo của tỉnh Bến Tre trong các năm 14
qua được thực hiện rất có hiệu quả, đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho
nghèo trong tỉnh.
2.2.2. Thực trạng tổ chức mạng lưới BHYT tạo thuận lợi cho
người nghèo.
Thực trạng việc tổ chức mạng lưới BHYT cho người nghèo
trong tỉnh Bến Tre nhiều năm qua được triển khai thực hiện đã và đang
mang lại nhiều kết quả.
Do vậy mạng lưới BHYT được triển khai và tổ chức rất chặt chẽ
từ tỉnh đến đại phương, từ đó số lượng người nghèo có thẻ luôn được
cải thiện thiện, đảm bảo 100% người nghèo có thẻ BHYT, cụ thể ta có
bảng số liệu 2.4:
nội trú
Số lượt khám
ngoại trú
BQ số ngày
điều trị nội trú
2013
126.537
244.305 8,73
2012
93.458
241.464 8,89
2011
82.857
192.769 9,49
2010
102.581
249.591 9,32
2009
69.742
130.777 8,43
2008
39.855
85.146 7,85
2009 10 11 110
2010 10 11 110
2011 11 12 109.9
2012 13 14 107.7
2013 14 15 107.1
“Nguồn: Số liệu từ phòng Kiểm tra BHXH Bến Tre”
Tuy công tác kiểm tra đối chiếu vẫn được tiến hành thường
xuyên nhưng vẫn còn tồn tại và khó kiểm soát được một số vấn đề sau
như: tình trạng kê khống đơn thuốc, chiếm dụng quỹ BHYT tại một số
bệnh viện vẫn còn gây thất thoát ngân sách và âm quỹ BHYT tế. Từ đó
làm ảnh hưởng chăm sóc sức khỏe khám chữa bệnh của người nghèo
và người dân, gây khó khăn cho công tác quản lý sử dụng thẻ BHYT
của người nghèo nói riêng và BHYT cho các đối tượng khác nói
chung.
2.2.5. Thực trạng công tác giáo dục ý thức trách nhiệm cho
người nghèo
- Người nghèo vẫn chưa phát quy và hiểu hết vai trò của thẻ
BHYT trong khám ch
ữa bệnh và chăm sóc sức khỏe.
Ngoài việc chưa phát quy vai trò của thẻ BHYT thì người nghèo,
thì một số vần đề của người nghèo cần phải được giải quyết, giáo dục ý 17
thức. Trong đó công tác tuyên truyền là hết sức quan trọng đóng vai trò
rất lớn trong việc nâng cao ý thức người dân. Cụ thể ta có bảng số liệu
sau: Bảng 2.9: Công tác tuyên tuyền bên lĩnh vực BHYT giai đoạn
2008 - 2013
Năm
2012 1 5 4
2013 1 6 5
“Nguồn: Sở y tế Bến Tre” 18Bảng 2.11: Số lượt KCB của người nghèo ở các bệnh viện,
phòng khám ngoài công lập
Năm Tổng lượt khám
Số lượt khám của
người nghèo
Tỷ lệ %
2011 273.675 76.657 28,01
2012 286.235 79.983 27,94
2013 297.834 87.234 29,29
“Nguồn: Số liệu báo cáo tổng hợp – sở y tế”
Qua hai bảng số liệu 2.10 và 2.11 ta thấy công tác XHH cũng
góp phần rất lớn trong việc tạo điều kiện cho người dân trong việc.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC BHYT CHO NGƯỜI
NGHÈO TỈNH BẾN TRE
2.3.1.Những kết quả đạt được
Công tác BHYT cho người nghèo ra đời đáp ứng nhu cầu khám
chữa bệnh của ngưởi nghèo, giúp người nghèo có thể tiếp cận với các
dịch vụ y tế hiện đại. Nó là chiếc phao giúp nghèo và đảm bảo cho họ
trong việc KCB và giảm bớt gánh nặng về kinh tế.
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế
- Việc xác định và lập danh sách người nghèo ở tuyến cơ sở diễn
ra rất chậm, còn thiếu soát, sai lệch.
a. Dự báo nghèo
Công tác xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua luôn được Bến
Tre chú trọng và quan tâm, chỉ tiêu hằng năm của tỉnh là người nghèo
sẽ giảm 2%/năm. Phấn đấu đến 2015 số người nghèo sẽ giảm dưới
110.000 người và đến năm 2020 sẽ được kéo giảm xuống 100.000
ng
ười.
- Trong thời gian tới do ảnh hưởng của biến đồi khí hậu, diễn
biến khó lường của thời tiết, nước biển dâng sẽ làm đời sống của nhân 20
dân trong tỉnh sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là người nghèo. Nó
sẽ ảnh hưởng trực tiếp công ăn việc làm, sinh hoạt, sức khỏe của người
dân trong đó người nghèo chịu ảnh hưởng nhiều nhất
.
b. Dự báo về thay đổi môi trường hoạt động y tế
Do thời tiết có những diễn biến phức tạp trong thời gian tới, như
tình hình lũ lụt, nắng nóng, nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe
và xuất hiện nhiều bệnh mới.
c. Dự báo về xu hướng bệnh học
3.1.3. Xác định nhu cầu và phương hướng giải quyết vấn đề
BHYT cho người nghèo ở Bến Tre trong tương lai
a. Xác định nhu cầu BHYT cho người nghèo
Người nghèo rất cần và có nhu cầu rất lớn với thẻ BHYT trong
chức kinh tế, cũng như các tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi trong và
ngoài nước.
3.2.2. Tăng cường củng cố mạng lưới y tế cơ sở:
Mạng lưới y tế cơ sở là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo
đảm cho mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí
thấp, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Chính vì thế mạnh lưới y tế
cơ sở đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc khám chữa bệnh và
chăm sóc sức khỏe của người nghèo và người dân.
3.2.3. Tăng cường công tác quản lý sử dụng thẻ BHYT
3.2.4. Đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, giáo dục
Trước hết, về công tác BHYT cho người nghèo nói riêng và
công tác BHYT nói chung, phải quán triệt đầy đủ và sâu sắc cho các
ngành các c
ấp trong tỉnh. Từ tỉnh đến tuyến cơ sở phải có ý thức và
trách nhiệm về công tác BHYT cho người nghèo, ý thức được rằng đây 22
là một trong các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề an
sinh xã hội.
3.2.5. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe cho
người nghèo
Việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ là nhu cầu thiết yếu của mỗi
người dân và của cả cộng đồng. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng
ngành y tế, mà còn là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng và chính
quyền, của các đoàn thể quần chúng và tổ chức xã hội. Vì vậy, thực
hiện xã hội hoá công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là cần
thiết và phù hợp với xu thế của thời đại.
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
bệnh và chăm sóc sức khỏe của người nghèo và người dân.
Thấy được vai trò quan trọng đó Bến Tre đã chú trọng triển khai
công tác BHYT cho người nghèo đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh
cho người dân.CSSK cho người nghèo thông qua chính sách BHYT là
một chủ trương đúng đắn, thể hiện tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc
của truyền thống “lá lành đùm lá rách”. Điều này hoàn toàn phù hợp
với thực tiễn khi mà đại bộ phận người nghèo của tỉnh ta chưa có cơ
may nào tốt hơn trong việc tự chăm lo sức khoẻ cho mình. BHYT giúp
người nghèo được tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản, được KCB
ngay từ tuyến cơ sở; nhờ đó mà người nghèo được chăm sóc sức khoẻ
kịp thời, bệnh tật được phát hiện sớm, người bệnh có thẻ BHYT khi có
bệnh, cần chữa bệnh không cần phải đi xa, chi phí KCB bình quân thấp
hơn góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
Phần lớn hiện nay các địa phương đã xây dựng được các chính
sách ch
ăm sóc sức khỏe của phụ nữ, trẻ em, người già cô đơn, không
nơi nương tựa. Tăng cường cũng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ