Một số biện pháp tăng cường giáo dục đạo đức học sinh thông qua việc ra đề văn nghị luận xã hội - Pdf 28

Liờn h: Nguyn Vn Hựng T:0946734736; Mail:
A. M U
I. Lí DO CHN TI
Nh chỳng ta ó bit, phm cht o c l mt phn quan trng to
nờn giỏ tr ca mt con ngi. Ch tch H Chớ Minh ó tng núi: "Cú ti m
khụng cú c l ngi vụ dng, cú c m khụng cú ti thỡ lm vic gỡ cng
khú". Th nhng cú mt thc t au lũng hin nay l tỡnh trng xung cp v
mt o c, nim tin, lý tng ca mt b phn hc sinh. Vic hc sinh la
di ụng b, cha m, vụ l i vi thy cụ, b hc, la c quỏn xỏ, gõy g ỏnh
nhau, sa vo cỏc t nn xó hi, thm chớ phm ti khụng phi l him gp
mt s trng . Nguyờn nhõn ca tỡnh trng ny thỡ cú nhiu. Nhng iu d
nhn thy l tui ang "tp" lm ngi ln, nhn thc ca cỏc em thng
chu nh hng rt ln ca mụi trng xung quanh. Trong khi ú thc t xó
hi hin nay vn cũn xy ra nhiu hin tng suy thoỏi v o c di tỏc
ng tiờu cc ca mt trỏi nn kinh t th trng. iu ny ó tỏc ng xu ti
vic tu dng, rốn luyn o c la tui hc trũ.
Vỡ vy vic tng cng giỏo dc o c cho hc sinh hin nay l vn
vụ cựng quan trng, l trỏch nhim ca gia ỡnh, nh trng v ton xó hi.
õy l cụng vic khụng h n gin, ũi hi phi cú ch trng, bin phỏp
thớch hp, cú s ng lũng, nht trớ ca c gia ỡnh, nh trng v ton xó hi.
Là một giáo viên dạy văn trực tiếp giảng dạy ti Trung Tõm GDTX-DN Lang
Chỏnh gn 10 nm tôi tự nhận thấy việc chú trọng tới giáo dục đạo đức cho
học sinh hiện nay ti Trung Tõm ni tụi ang ging dy núi riờng v hc sinh
THPT núi chung không chỉ là việc làm cần thiết mà còn là trách nhiệm lớn
lao, nặng nề khụng ch ca bt c ai.
Do vậy trớc vấn đề này tôi đã chọn viết sáng kiến kinh nghiệm với đề
tài: "Mt s bin phỏp tng cng giỏo dc o c hc sinh thụng qua
vic ra vn ngh lun xó hi ".
1
Tôi hy vọng rằng những nghiên cứu bớc đầu của mình sẽ góp phần tăng
cờng giáo dục đạo đức cho học sinh. Bởi qua thực tế kiểm nghiệm của bản

Trong sut nhng nm ging dy ti Trung Tõm GDTX-DN Lang Chỏnh
tụi nhn thy mt c thự õy l cỏc em hc sinh theo hc ch yu l con
em ng bo dõn tc Thỏi ,Mng c trỳ ti cỏc xó vựng cao.Chớnh vỡ vy cỏc
em phi tr v ớt c s giỏm sỏt qun lý t phớa gia ỡnh.Mt khỏc cỏc bc
ph huynh luụn cú tõm lý cho con em mỡnh i hc v phú thỏc trỏch nhim
cho cỏc thy cụ, nh trng qun lý.Trong nhng nm gn õy mc dự c
s quan tõm ca cỏc cp, ban nghnh v nh nc u t xõy dng cho Trung
Tõm nhiu khu hc ngh khang trang, ký tỳc xỏ rng rói nhng li cha u
t c s vt cht bờn trong nờn dn n tỡnh trng cú ký tỳc nhng hc sinh
vn phi tr ngoi nh dõn.õy cng l mt trong nhng vn lm au
u Ban giỏm c Trung Tõm, cỏc thy cụ trong nh trng khi cha tỡm
c hng gii quyt.Cỏc em tr ngoi thiu s qun lý nờn tỡnh trng la
c quỏn xỏ, b hc i chi in t, bi a ang xy ra, thm chớ ó cú trng
hp hc sinh vng vo t nn xó hi nh trm cp, lụ .Cỏc em ang
tui tp lm ngi ln, li thiu s qun lý cht ch t phớa gia ỡnh nờn rt
d sa vo cỏc t nn. Vic nm bt c suy ngh, tõm t, tỡnh cm ca cỏc
em l vic lm vụ cựng quan trng. Thụng qua nhng bi vn ngh lun xó hi
giỏo viờn cú th hiu c tng hon cnh ca hc sinh, nhng suy ngh ca
cỏc em t ú cú nhng hng iu chnh giỏo dc cho phự hp. Cựng vi
b mụn Giỏo dc cụng dõn thỡ õy l b mụn khụng nhng giỳp cho cỏc em
tip nhn tri thc m cũn hon thin nhõn cỏch bc vo i.Chớnh vỡ vy
tụi chn ti ny lm ti nghiờn cu ca mỡnh. Hi vng s mt phn nh
no y giỳp cho nn giỏo dc o c ca hc sinh Trung Tõm GDTX- DN
ngy cng tt hn.
3
III. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1.Vị trí của nghị luận xã hội trong chương trình dạy học môn văn hiện
nay
Ở bậc học THCS, việc học văn nghị luận xã hội đã được quan tâm ở tất cả
các khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9. Từ năm 2000 khi chương trình văn THPT có

Như vậy việc ra đề văn nghị luận xã hội và yêu cầu làm văn nghị luận
xã hội đối với học sinh Trung Tâm GDTX-DN nói riêng và học sinh bậc
THPT nói chung sẽ có tác dụng nhất định đối với quá trình tự tu dưỡng, rèn
luyện đạo đức của các em và đối với quá trình giáo dục ,dạy dỗ, uốn nắn đạo
đức học sinh của giáo viên. Nếu hai quá trình này kết hợp với nhau một cách
hài hòa thì hiệu quả thu được sẽ rất khả quan.
IV. YÊU CẦU, CÁCH THỨC RA ĐỀ VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO HỌC SINH
TÌM HIỂU ĐỀ.
Đối với giáo viên, một trong những công việc gian khó nhất vẫn là làm
thế nào ra được nhiều đề văn phù hợp với đối tượng học sinh. Đặc biệt là dưới
dạng đề văn nghị luận xã hội. Trên thực tế vì số lượng bài kiểm tra có sử dụng
đề văn nghị luận xã hội không nhiều nên phần lớn giáo viên và người chịu
trách nhiệm ra đề trong các kỳ thi thường dựa vào các đề có sẵn, in trong các
sách. Chẳng hạn như:
* Bình luận câu tục ngữ: "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn"
* Ông cha ta thường nói: "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Em hãy
giải thích câu tục ngữ trên.
Những đề này sẽ có tình trạng học sinh lười suy nghĩ, chỉ tìm cách chép
tài liệu hoặc khuôn theo một mẫu nào đó. Vì vậy dù đề văn có đề cập đến
phạm vi đạo đức lối sống thì cũng ít có hiệu quả trong việc giúp học sinh tự
nhận thức và cũng rất khó khăn đối với mục đích giáo dục của giáo viên là có
thể sát hơn trong việc uốn nắn học sinh.
5
Vì vậy trước vấn đề này tôi mạnh dạn đề xuất một số yêu cầu trong
việc ra đề và định hướng học sinh tìm hiểu đề.
1. Yêu cầu của việc ra đề
Các vấn đề đặt ra trong nghị luận xã hội thường rất rộng nên chúng ta
có thể vận dụng tục ngữ, ca dao, danh ngôn, những sự kiên nổi bật trong đời
sống chính trị xã hội để ra đề. Và theo tôi, ta có thể ra đề kiểm tra nghị luận
xã hội thường xuyên theo yêu cầu của môn học cho cả cấp học chứ không nên

Đề 2: Người xưa có câu: "Nhiều chống càng tốt, nhiều cột càng bền"
Em hãy chứng minh.
Đề 3: Người xưa từng quan niệm: "Một hòn bắt chẳng nên non.
Ba hòn chụm lại nên cồn Thái Sơn"
Em hãy chứng minh.
Hoặc cùng bàn luận về vấn đề biết ơn những người đã tạo dựng những
thành quả cho mình hưởing thụ có thể có các đề như:
Đề 1: Em hãy suy nghĩ về đạo lý: "Uống nước nhớ nguồn"
Đề 2: Ông cha ta từng dạy rằng: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn khoai nhớ kể cho dây mà trồng"
Em hãy giải thích.
Đề 3: Em hãy bình luận câu tục ngữ : "Uống nước sông nhớ mạch
suối".
Một điểm cần lưu ý là khi ra đề văn Nghị luận xã hội hướng tới mục
đích giáo dục đạo đức, giáo viên phải chú ý đến cả mục đích rèn luyện kỹ
năng, thao tác cho học sinh theo yêu cầu của văn nghị luận nói chung như:
giải thích, chứng minh, bình luận
2. Cách thức ra đề văn nghị luận xã hội:
Khi ra đề giáo viên sử dụng phương pháp phân loại để có thể ra những đề
văn phù hợp vừa phát huy tính tích cực lại cũng có thể ngăn chặn đẩy lùi
những tiêu cực.
a. Phân loại đối tượng: Đối tượng được đề cập đến để phân loại ở đây
là học sinh.
*) Đối với tập thể học sinh:
7
Ta nên chọn những vấn đề cập nhật, nóng hổi bức thiết nhất của đời
sống xã hội- Đặc biệt có liên quan đến đạo đức, lối sống, niềm tin, lý tưởng
của học sinh để ra đề. Nhưng cũng cần quan tâm đến những vấn đề chung cho
nhận thức của tất cả học sinh. Theo quan điểm cá nhân thì qua việc ra đề phải
làm thế nào giúp học sinh tái hiện lại được những gì mà các em đã thấy về đời

Những đề văn thuộc dạng này, theo tôi có thể giúp các em nhìn nhận về
xã hội, gia đình, con người và chính bản thân mình để từ đó mà sống, học tập
và làm việc một cách có ích.
- Với những học sinh ngổ ngáo hay bỏ giờ, la cà quán xá, vô lễ với ông
bà, cha mẹ, thầy cô, hay gây gỗ đánh nhau, cờ bạc rượu chè ta cần nắm bắt
những "điểm yếu" của các em để "tấn công" giúp cho các em nhận ra sai lầm
của mình. Ví dụ:
Đề 1: Thang Nhược Sỹ từng quan niệm: "Không lấy bậy - tay thơm,
không nói bậy - miệng thơm, không nghĩ bậy - tâm thơm".
Em hãy giải thích về quan niệm trên.
Đề 2: Có người đã cho rằng: "Tiền bạc là phương tiện của những
người thông minh, là mục đích của những kẻ ngu ngốc"
Em hãy giải thích và chứng minh câu nói trên.
Đề 3: Ê-Pic-Tét (HyLạp) đã từng dạy con rằng: "Không được cho phép
mình hưởng bất kỳ thú vui nào mà chỉ được hưởng những thú vui không có gì
xấu".
Hãy giải thích tại sao ông ấy lại dạy con như thế.
b. Phân loại đề phù hợp với đối tượng và mục đích của việc ra đề (kể
cả mục đích rèn luyện kỹ năng thao tác như giải thích, chứng minh, bình
luận).
Khi phân loại đề, giáo viên phải căn cứ vào tình trạng đạo đức của học
sinh hiện nay để có thể phân ra thành những nhóm đề phù hợp. Qua khảo sát
thực tế tôi nhận thấy học sinh Trung Tâm GDTX-DN hiện nay có nhiều biểu
hiện sa sút về mặt đạo đức lối sống như: không vâng lời ông bà, cha mẹ, nói
dối gia đình lấy tiền la cà quán xá, vô lễ với thầy cô. Không coi trọng việc học
hành, tu dưỡng đạo đức, có tư tưởng sống gấp rất cá nhân, ích kỷ. Có một bộ
9
phận học sinh hiểu rất mơ hồ về lĩnh vực chính trị - xã hội. Chẳng hạn như về
chiến tranh, về lịch sử dân tộc. Có em còn cho rằng: "Đó là bịa thêm chứ
không hoàn toàn là sự thật". Về nghề nghiệp các em không biết cách định

Em hiểu như thế nào về câu tục ngữ trên?
Nhóm 3: Giáo dục lối sống lành mạnh, sống có niềm tin, mục đích lý
tưởng.
Đề 1: Em có suy nghĩ gì về hiện tượng đua đòi ăn chơi của một số bạn
trong trường?
Đề 2: Nhà thơ Tố Hữu thường căn dặn thanh niên: "Thanh niên phải
biết ước mơ và hành động" Em hiểu như thế nào về lời căn dặn đó?
Đề 3: Theo em, sống như thế nào là có lý tưởng?
Nhóm 4: Giáo dục lòng nhân từ, tính tiết kiệm, sự thận trọng, chín chắn
trong mọi việc
Đề 1: Người Việt Nam có câu: "Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói"
Em hiểu như thế nào về câu nói này?
Đề 2: Em hiểu như thế nào về câu tục ngữ: "Ăn có nhai nói có nghĩ".
Đề 3: Giải thích câu tục ngữ: "Có công mài sắt có ngày nên kim"
Nhóm 5: Giáo dục ý thức tự lập, tự chủ và sức mạnh chiến thắng bản
thân.
Đề 1: Có người đã cho rằng: "Trên đường vốn đã có bao nhiêu dấu
chân. Vấn đề là ở chỗ mình phải mạnh dạn bước tới, tìm thấy đường đi cho
riêng mình".
Em hiểu như thế nào về câu nói trên?
Đề 2: L.Lê-ô-nốp cho rằng: "Tất cả mọi chiến thắng đều bắt đầu từ sự
chiến thắng bản thân". Em hãy chứng minh
Đề 3: Người Anh có câu ngạn ngữ: "Nhượng bộ không phải là bạn
mình; nhận lỗi không phải là nhục nhã".
Em hãy cho biết ý kiến của em về vấn đề này.
3. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề (Định hướng)
a. Mục đích
Tìm hiểu đề là bước đầu tiên trong quá trình làm một bài văn nghị
luận. Là bước xác định phương hướng, tìm ra một cái đích mà trong quá trình
làm bài học sinh phải đạt cho được. Nói một cách rõ ràng hơn học sinh phải

Thứ hai: Hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu về mặt hình thức. Đây
thực chất là định hướng về phương pháp làm bài, thể loại làm bài. Thông
thường thì yêu cầu này thường được diễn đạt bằng những từ ngữ cụ thể như:
Giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích nhưng cũng có thể được thể hiện
ở các dạng khác như : hãy làm sáng tỏ, hãy minh họa (kiểu bài chứng minh);
Em hiểu như thế nào? Tại sao lại nói như vậy? Thế nào là? (kiểu bài giải
thích); Hãy cho biết ý kiến? Ý kiến của em như thế nào? Em có suy nghĩ gì?
(kiểu bài bình luận) Có một số trường hợp yêu cầu thể loại bị giấu kín (để
chìm). Chẳng hạn như:
Đề 1: Tác hại của thuốc lá
Đề 2: Không thầy đố mày làm nên
Những đề này khó khuôn vào một thao tác nghị luận cụ thể, người viết
cần phải sử dụng hỗn hợp các thao tác, chủ yếu là giải thích, chứng minh và
bình luận.
Có những đề yêu cầu nội dung đã rõ nhưng không thuộc các kiểu bài
nghị luận đã học. Ví dụ: "So sánh mối quan hệ thầy- trò ở thời phong kiến và
thời hiện đại". So sánh là một thao tác của tư duy logic nhằm chỉ ra những nét
giống và khác nhau của sự vật hiện tượng thông qua những tiêu chí so sánh cụ
thể. Trong văn nghị luận kiểu bài này hàm chứa các thao tác : giải thích, đối
chiếu, liên hệ, chứng minh, bình luận.
Những dạng đề trên rất cần sự hướng dẫn, gợi ý của giáo viên, nếu
không học sinh sẽ khó nắm bắt dẫn đến xác định sai phương pháp làm bài.
Thứ ba: Hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu tài liệu (Còn gọi là
phạm vi dẫn chứng). Đa số các đề văn nghị luận xã hội không thể hiện rõ yêu
cầu này. Do đó việc lấy dẫn chứng không bị bó hẹp, có thể lấy bất kỳ dẫn
chứng nào trong đời sống. Chẳng hạn:
Đề 1: Giải thích câu tục ngữ "Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo"
Phạm vi tài liệu: Dẫn chứng trong đời sống.
Đề 2: "Cách sử dụng thời gian rỗi là thước đo chân chính sự giàu có
của con người" (K. Marx)

a. Phân loại bài làm về mặt hình thức: (Bố cục, kết cấu, chữ viết,
cách dùng từ, diễn đạt…) thành các loại sau:
- Bài làm có hình thức tốt
- Bài làm có hình thức trung bình
14
- Bài làm chưa đạt yêu cầu về hình thức.
b. Phân loại bài làm về mặt nội dung:
- Bài làm đảm bảo yêu cầu nội dung, có thiên hướng tích cực
- Bài làm thể hiện rõ cá tính hoặc bộc lộ những tâm sự thầm kín của các
nhân học sinh.
- Bài làm chưa đạt về nội dung hoặc thể hiện những nhận thức sai lầm.
Khi ra đề văn Giáo viên nên thể hiện dụng ý của mình. Chẳng hạn
trong lớp học sinh có hiện tượng bỏ học, bỏ giờ, cần phải tìm hiểu nguyên
nhân. Nếu ra đề văn đề cập đến vấn đề đó khi chấm bài chúng ta sẽ nắm bắt
được nguyên nhân hoặc ít ra cũng có thể tìm hiểu được tâm tư tình cảm của
đối tượng về vấn đề mà giáo viên đang quan tâm.
Ơ lớp 11B khóa học 2008-20011 khi tôi ra đề văn "Suy nghĩ của em về
nghề nghiệp tương lai", em Lò Thị Diên - một học sinh cá biệt, hay bỏ giờ đã
viết: "Em đã ước mơ trở thành cô giáo để đưa cái chữ đến với những đứa
trẻ nhà nghèo ở bản em. Nhưng đã muộn mất rồi. Em đành để cho mình trượt
dài, trượt mãi sang thế giới bên kia" Đây là bài viết thể hiện tâm lý bi quan,
chán nản, tuyệt vọng do có những nhận thức sai lầm. Nếu không kịp thời phát
hiện "Chữa trị" thì hậu quả sẽ khôn lường.
Như vậy việc phân loại bài làm nhất là về phương diện nội dung có thể
nói là việc làm hữu ích vì thực chất cũng chính là sư phân loại đối tượng học
sinh để tìm ra các đối tượng cần quan tâm giúp đỡ, giáo dục.
2. Trả bài
Chương trình của bộ môn Văn trong nhà trường có một đặc điểm là có
thêm các tiết trả bài. Đây cũng là một tiết học nên giáo viên phải thực hiện
đầy đủ tuần tự các bước lên lớp như:

XL
N.H
Tốt
(Tỷ lệ%)
Khá
(Tỷ lệ%)
Trung bình
(Tỷ lệ%)
Yếu
(Tỷ lệ %)
Kém
(Tỷ lệ%)
2006- 2007 60,3 25,6 13,6 0,5 0,00
2007- 2008 62,5 24,5 12,6 0,4 0,00
2008- 2009 65,5 20,5 13,6 0,4 0,00
2009- 2010 66,3 25,5 7,9 0,3 0,00
2010-2011 68,5 24,3 7,0 0,2 0,00
16
Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức của mỗi người là cả một quá trình thường
xuyên liên tục và phụ thuộc nhiều yếu tố. Vì vậy những con số trên chỉ là
những kết quả bước đầu và cũng chưa nói lên được điều gì lớn. Tuy vậy cũng
là sự động viên, khích lệ bản thân trong quá trình nghiên cứu.
2. Kết quả cụ thể ở một số lớp và cá nhân học sinh.
a . Đối với tập thể lớp
Tôi đã tiến hành ra đề văn nghị luận xã hội thuộc các nhóm đề đã
phân loại cho tất cả các lớp được phân công giảng day.
*Lớp 11B năm học 2009- 2010:
Lớp có một bộ phận học sinh có ý thức học tập kém không nghe lời bố
mẹ, thầy cô. Khi kiểm tra bài viết số 1 tôi đã ra đề: Ngạn ngữ Trung quốc có
câu "Con cái ngoan làm cho cha mẹ hạnh phúc, con cái hư là kẻ đào mồ chôn

nghiệp của học sinh, khi kiểm tra bài viết số 5 tôi đã ra đề : "Suy nghĩ của em
về nghề nghiệp tương lai" . Kết quả khi chấm bài có:
- 20/40 (50%) học sinh đã có định hướng nghề nghiệp.
- 14/ 40 (35%) học sinh còn phân vân chưa biết chọn nghề gì.
- 6/40 (15%) học sinh còn chưa nghĩ đến.
Kết quả trên cho thấy một vấn đề đáng lo ngại nên phần bài tập vận
dụng sau giờ trả bài tôi đã ra đề : "Em hãy giải thích lời căn dặn của Tố Hữu
với thanh niên "Thanh niên phải biết ước mơ và hành động". Từ đó nói lên
ước mơ của mình về nghề nghiệp sau này".
Khi chấm bài, kết quả là:
Kết quả Số lượng Tỷ lệ (%)
Biết định hướng 35/40 87,5
Còn phân vân 5/40
12,5
Chưa nghĩ đến 0
0
Trong đó phần đông các em đã xác định được mục tiêu, lý tưởng sống và
mục đích của việc chọn nghề nghiệp.
*Kết quả rèn luyện đạo đức (Hạnh kiểm) của một vài lớp trong một
vài năm thực hiện thử nghiệm.
Lớp 11A năm học 2009- 2010
XL
T. G
Tốt Khá Trung bình Yếu
SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ
HKI 34/41 82,9 7/41 17,1 0 0 0 0
HK II 37/41 90,2 4/41 9,8 0 0 0 0
CN 37/41 90,2 4/41 9,8 0 0 0 0
Lớp 11C năm học 2010- 2011:
18

nên lễ phép với thầy cô. Đến cuối năm học Bình đã giành lại được tình cảm
tin yêu của thầy cô và bạn bè.
C. KẾT LUẬN ,ĐỀ XUẤT
Việc dạy - học và ra đề văn nghị luận xã hội đang là một vấn đề được
các nhà nghiên cứu quan tâm. Nếu như loại văn này được quan tâm đúng mức
từ nội dung bài học cho đến cách thức ra đề, các bước chấm trả bài thì chắc
chắn sẽ có những tác dụng nhất định đối với việc giáo dục đạo đức học sinh.
19
Nói đến văn Nghị luận xã hội tức là nói đến nhận thức, sự tự ý thức. Vậy nên
việc ra đề văn Nghị luận xã hội với mong muốn giáo dục đạo đức cho học
sinh kết quả có thể thấy ngay được khi các em còn học ở trường nhưng cũng
có thể phải trải qua thời gian và sự trải nghiệm của bản thân các em khi đã rời
khỏi ghế nhà trường.
Thông qua dạng văn này thầy có thể hiểu được trò, trò thể tự hiểu mình,
hiểu được cả những gì thầy dạy và nhận thức được mình phải làm gì. Đó là sự
kết hợp của hai quá trình giáo dục và tự giáo dục mà cái được chính là sự thay
đổi, sự lớn lên trong mỗi học sinh.
Sau một thời gian thử nghiệm, tôi thấy học sinh có những chuyển biến
tích cực về tư cách đạo đức. Vì thế mà việc học tập của học sinh đã có những
tiến bộ nhất định. Có rất nhiều cách thức để giáo dục học sinh. Vấn đề mà tôi
đưa ra chỉ là một khía cạnh nhỏ. Còn chủ yếu là sự giáo dục có sự kết hợp
giữa gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Bởi như ai đó đã nói: "Người thầy
hình thành nhân cách học sinh gần giống như nhà điêu khắc tạo nên tác
phẩm của mình nhưng bằng một thứ chất liệu sống và phải trải qua một qúa
trình tham gia của nhiều người chứ không thể sáng tác một mình"
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status