SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THÔNG QUA VIỆC RA
ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI A. Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, phẩm chất đạo đức là một phần quan trọng
tạo nên giá trị của một con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Có
tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm
việc gì cũng khó". Thế nhưng có một thực tế đau lòng hiện nay là tình
trạng xuống cấp về mặt đạo đức, niềm tin, lý tưởng của một bộ phận học
sinh, đặc biệt là học sinh THPT. Việc học sinh lừa dối ông bà, cha mẹ, vô
lễ đối với thầy, cô, bỏ học, la cà quán xá, gây gổ đánh nhau, sa vào các tệ
nạn xã hội, thậm chí phạm tội không phải là hiếm gặp ở các trường.
Nguyên nhân của tình trạng này thì có nhiều. Nhưng điều dễ nhận thấy là
ở tuổi đang "tập" làm người lớn, nhận thức của các em thường chịu ảnh
hưởng rất lớn của môi trường xung quanh. Trong khi đó thực tế xã hội
hiện nay vẫn còn xảy ra nhiều hiện tượng suy thoái về đạo đức dưới tác
còn nghị luận xã hội thì rất ít khi ra".
Trên cơ sở những nghiên cứu đó, tôi đã phát triển thêm ở đề tài này
và chú ý hơn đến vấn đề giáo dục đạo đức học sinh.
III. Đối tượng, phạm vi nghiªn cứu
Đề tài quan tâm tới việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học phổ thông.
Trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này, tôi tập trung nghiên cứu
một vấn đề nhỏ đó là giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua việc ra đề
văn nghị luận xã hội.
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này cần nêu được một số vấn đề mang tính
chất lý luận về: giáo dục; giáo dục đạo đức; Vai trò của Giáo dục đạo
đức; Nghị luận xã hội; Vai trò, tác dụng của đề văn nghị luận xã hội trong
việc giáo dục đạo đức. Đề cập đến yêu cầu, cách thức ra đề, hướng dẫn
học sinh tìm hiểu đề và việc chấm bài, trả bài đối với những đề văn nghị
luận xã hội. Cuối cùng là một số kết quả thử nghiệm trong quá trình
nghiên cứu.
V. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp thử nghiệm,
phân loại, thống kê kết hợp với việc sưu tầm, khảo sát của bản thân trong
quá trình giảng day từ năm 2000 đến nay.
B. Phần nội dung
I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm và vai trò của giáo dục đạo đức.
a. Khái niệm
Giáo dục là khái niệm cơ bản quan trọng trong các khoa học nghiên
cứu về con người. Theo Từ điển Tiếng Việt (Trang 345 NXB Đà N½ng-
Viện Ngôn ngữ học) thì: "Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một
nc¸ch có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng
nào đó làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất, năng lực
trong suốt quá trình dạy- học.
2. Nghị luận xã hội và vai trò của nghị luận xã hội trong
Chương trình Dạy- học bộ môn văn hiện nay
a. Lý thuyết về Nghị luận xã hội
Các sách giáo khoa Làm văn và hướng dẫn giảng dạy đều khẳng
định: "Nghị luận xã hội là dạng văn mà người viết đi vào bàn bạc các vấn
đề thuộc lĩnh vực chính trị xã hội có liên quan tới hoạt động của con
người". Đối tượng của nghị luận xã hội là những vấn đề nảy sinh trong đời
sống chính trị xã hội như đạo đức, lẽ sống, lý tưởng, hạnh phúc, lao động,
tình bạn, tình yêu…thường được thể hiện cô đọng trong các câu tục ngữ,
danh ngôn, các ý kiến nhận định tổng quát.
Mục đích của nghị luận xã hội là đưa những vấn đề trên ra để bàn
bạc, làm sáng tỏ đúng, sai, tốt, xấu…Nhằm tuyên truyền, giáo dục, cổ
động, kêu gọi mọi người tham gia giải quyết những vấn đề nảy sinh trong
đời sống chính trị- xã hội. "Góp phần làm cho đời sống tinh thần của con
người thêm phong phú, tạo cho mỗi người có ý thức chăm sóc cuộc sống
của bản thân mình và xây dựng mối quan hệ trong xã hội, trong cộng
đồng ngày một bền vững hơn, văn minh, tốt đẹp hơn" (Sách giáo khoa
Làm văn Lớp 10- Trang 40- NXB Giáo dục năm 2000).
Việc học làm văn nghị luận xã hội giúp học sinh có năng lực trí tuệ
phát triển, hình thành tư duy hợp lý, khoa học, biết cách tìm tòi và xác
định chân lý; biết cách diễn đạt, phát biểu ý kiến của mình một cách rõ
ràng. SGK Làm văn Lớp 10 còn viết: "Học làm văn nghị luận xã hội còn
xây dùng cho học sinh phương pháp tư duy đúng đắn để hình thành thế
giới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ. Biết đánh giá đúng các
hiện tượng xã hội, biết ứng xử đẹp trong các mối quan hệ với người khác,
biÕt hướng cuộc sống của mình vào những mục tiêu cao cả". Đây chính
- Khối 12: Bình luận xã hội 2 tiết
Cuối tháng 10/2003 trong chuyên đề về việc bồi dưỡng Học sinh
giỏi văn ông Hà Bình Trị (Vụ THPT) cũng đã đề cập đến việc ra đề văn
Nghị luận xã hội thường xuyên ở các tiết kiểm tra dành cho các khối học.
Như vậy vấn đề dạy học văn nghị luận xã hội trong nhà trường
THPT cũng đã được đề cập đến. Và chắc chắn là tất cả các giáo viên dạy
văn ở cấp học này cũng đã thực hiện đúng yêu cầu của chương trình phân
môn. Nhưng ở đây tôi xin nhÂn mạnh hơn đến việc ra đề văn nghị luận xã
hội để có thể có những tác động nhất định đối với việc rèn luyện tu dưỡng
đạo đức của học sinh THPT. Thông qua một số khảo sát tôi nhận thấy:
Sau cải cách giáo dục mà nhất là những năm gần đây (từ 1999 đến nay)
dường như ở hầu hết các kỳ thi nh kiểm tra chất lượng, thi học sinh giỏi,
thi tốt nghiệp THPT và thi vào §H- C§- THCN không hề có các đề văn
nghị luận xã hội, chỉ nặng về nghị luận văn học.
Đối với giáo viên trong quá trình giảng dạy cũng đã lưu ý đến việc
ra đề văn nghị luận xã hội cho cả ba khối học theo yêu cầu của chương
trình môn học nhưng thực hiện chưa thường xuyên hoặc chỉ chiếu lệ mỗi
năm một bài.
Về phía bản thân học sinh, thường có tâm lý ngại làm những đề văn
nghị luận xã hội vì nhiều nguyên nhân:
Thứ nhất: là do các em còn thiếu kiến thức hiểu biết xã hội.
Thứ hai: là do các em còn ngại thể hiện tư tưởng tình cảm của
mình (Trong khi đó văn nghị luận xã hội phải trực tiếp bộc lộ điều này).
Thứ ba: còn là do không có tài liệu hoặc là ít tài liệu để tham khảo
thậm chí là để sao chép. 3. Vai trò, tác dụng của đề văn nghị luận xã hội trong giáo dục
đạo đức học sinh:
a. Đối với người được giáo dục (học sinh):
tình trường, người thứ hai thì đôn hậu không muốn gây chiến tranh. Còn
người thứ ba - sao anh ta không nghĩ đến cái gì khác mà lại nghĩ ngay đến
bãi phân?. Từ suy nghĩ ấy thầy giáo đã đoán được tư cách và tương lai của mỗi
học trò.
Như vậy việc ra đề văn nghị luận xã hội và yêu cầu làm văn nghị
luận xã hội đối với học sinh bậc THPT sẽ có tác dụng nhất định đối với
qóa trình tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của các em và đối với quá trình
giáo dục dạy, dỗ, uốn nắn đạo đức học sinh của giáo viên. Nếu hai quá
trình này kết hợp với nhau một cách hài hòa thì hiệu quả thu được sẽ rất
khả quan.
II. Yêu cầu, cách thức ra đề và định hướng cho học sinh tìm hiểu đề.
Đối với giáo viên, một trong những c«ngviÖc gian khó nhất vẫn là
làm thế nào ra được nhiều đề văn phù hợp với đối tượng học sinh. Đặc
biệt là dưới dạng đề văn nghị luận xã hội. Trên thực tế vì số lượng bài
kiểm tra có sử dụng đề văn nghị luận xã hội không nhiều nên phần lớn
giáo viên và người chịu trách nhiệm ra đề trong các kỳ thi thường dựa vào
các đề có sẵn, in trong các sách. Chẳng hạn như:
* Bình luận câu tục ngữ: "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn"
* Ông cha ta thường nói: "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Em
hãy giải thích câu tục ngữ trên.
Những đề này sẽ có tình trạng học sinh lười suy nghĩ, chỉ tìm cách
chép tài liệu hoặc khuôn theo một mẫu nào đó. Vì vậy dù đề văn có đề cập
đến phạm vi đạo đức lối sống … thì cũng ít có hiệu quả trong việc gÝup
học sinh tự nhận thức và cũng rất khó khăn đối với mục đích giáo dục của
giáo viên là có thể sát hơn trong việc uốn nắn học sinh.
Vì vậy trước vấn đề này tôi mạnh dạn đề xuất một số yêu cầu trong
việc ra đề và định hướng học sinh tìm hiểu đề.
sông, những sự kiện chính trị -xã hội… để có thÓ có "Vốn" cho việc ra
đề văn góp phần vào việc giáo dục. Đồng thời cũng nên hướng dẫn cho
các em biết về công việc trên để các em có thể tự nhận thức, tự chiêm
nghiệm và ứng xử trong cuộc sống hàng ngày.
Quay trở lại với yêu cầu của việc ra đề văn nghị luận xã hội, tôi xin
được đề cập một cách cụ thể như sau:
Thứ nhất: Đề văn cần phải thể hiện tính đúng đắn chính xác và phù
hợp. Điều này có nghĩa là đề ra phải trích dẫn đúng câu chữ và đúng quy
cách. Nếu không sẽ khiến cho học sinh khó hiểu hoặc hiểu sai lệch vấn đề.
Hơn nữa là đề văn phải phù hợp với trình độ, năng lực học sinh. Không ra
những đề văn vượt khó tầm hiểu biết của các em. Đề văn đúng kiểu bài
với những yêu cầu rõ ràng, sáng sủa cũng là một phẩm chất cần có của
yêu cầu này.
Thứ hai: Đề văn nghị luận xã hội phải đánh trúng đối tượng, tức là
khi ra đề giáo viên phải nắm bắt trước tình hình học sinh để hướng vào
những vấn đề thuộc phạm trù đạo đức mà ở tập thể hoặc cá nhân học sinh
đang có những biểu hiện tiêu cực.
Thứ ba: Đề ra phải "vừa quen vừa lạ". Đề văn quen tức là học sinh
có thể hiểu được, tự mình suy nghĩ và tự mình nói lên tâm tư tình cảm hoặc cách đánh giá của mình. Còn đề lạ tức là đề văn phải kích thích được
sự suy nghĩ độc lập và khả năng sáng tạo của học sinh - ngăn chỈ được
tình trạng sử dụng tài liệu và bắt trước máy móc. Chẳng hạn cùng một vấn
đề bàn luận là tinh thần đoàn kết nhất trí có thể ra những đề như:
Đề 1: Ông cha ta có câu: "Mét cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao"
Em hãy chứng minh.
Đề 2: Người xưa có câu: "Nhiều chống càng tốt, nhiều cột càng
bền"
đề chung cho nhận thức của tất cả học sinh. Theo quan điểm cá nhân thì
qua việc ra đề phải làm thế nào giúp học sinh tái hiện lại được những gì
mà các em đã thấy về đời sống xã hội. Từ đó giúp các em tự nhận thức.
Vấn đề tái hiện lại rất quan trọng, nó giúp cho con người ta lâu nay có thể
là thê ¬, không hiểu… sẽ đi đến nhận thức được nhiều điều từ những vấn
đề tưởng chừng như là rất cũ. Và từ đó mà có sự vận động thay đổi trong
chính bản thân mình. Chẳng hạn:
Đề 1: Có người đã cho rằng: "Tất cả những gì trong phim, truyện
avµ trên sân khấu đều đáng để cho chúng ta học tập".
Em có suy nghĩ như thế nßa về vấn đề này?
Tác dụng của đề giáo dục cho học sinh cách nhìn nhận, đánh giá và
cách thức học hỏi khi tiếp cận những vấn đề xã hội.
Đề 2: Em có suy nghĩ gì về nghề nghiệp tương lai của mình?
Đề văn giúp cho việc giáo dục định hướng nghề nghiệp.
Đề 3: Ông cha ta có câu: "Tiên học lÔ hậu học văn"
Em hãy giải thích và bình luận câu nói trên.
Tác dụng của đề giáo dục cho học sinh về đạo đức lễ nghĩa.
*). Đối với học sinh cá biệt:
Những biểu hiện ở đối tượng học sinh này đang là một vấn đề nhức
nhối hiện nay. Các em thường vi phạm đạo đức, bê trễ việc học hành, sa
vào những tệ nạn xã hội…vì vậy với bộ môn văn (và cả ở những bộ môn
khác) việc các em làn bài kiểm tra kém chất lượng hoặc thiếu bài kiểm tra
là điều thường xuyên xảy ra. Trong những treêng hợp này chúng ta nên
yêu cầu các em làm đủ bài kiểm tra bằng những đề văn nghị luận xã hội
xã hội. Nhưng cũng têy vào từng đối tượng học sinh để ra đề văn phù hợp.
Chẳng hạn như:
- Với đối tượng học sinh gặp nhiều chuyện đau buồn dẫn đến bi
quan, chán nản, có suy nghĩ tiêu cực, ta có thể ra những đề như:
Đề 1: Em hãy bình luận câu nói sau đây của L.Lª«nốp: "Tất cả mọi
chiến thắng đều bắt đầu từ sự chiến thắng bản thân mình"
việc học hành, tu dìng đạo đức, có tư tưởng sống gấp rất cá nhân, ích kû.
Có một béphËn học sinh hiểu rất mơ hồ về lĩnh vực chính trị- xã hội.
Chẳng hạn như về chiến tranh, về lịch sử dân tộc. Có em còn cho rằng:
"Đó là bịa thêm chứ không hoàn toàn là sự thật". Về nghề nghiệp các em
không biết cách định hướng. Điều đáng buồn là có những học sinh sống,
học tập mà không hề biết đến mục đích sống, lý tưởng sống là gì? Khi
được hỏi mục đích đi học của em là gì thì nhiều em trả lời một cách rất tự
nhiên rằng: "Đi học để lấy cái bằng lớp 12 "; "Đi học để sau này khỏi
phải làm ruộng". Một thực tế nữa là có những học sinh không may vấp
ngã thì lâm vào tình trạng bi quan chán nản, không tự mình đứng dậy được nên đành tặc lưỡi: "Mặc kệ… đến đâu thì đến". Đó là những biểu
hiện rất nguy hại, nếu không có sự can thiệp, giúp đỡ kịp thời thì tương
lai các em sẽ như thế nào?
Trước thực tế đó (Trên cơ sở vấn đề mình đang quan tâm) tôi đã tiến
hành phân loại được một số nhóm đề như sau:
Nhóm 1: Giáo dục học sinh chăm chỉ, cần cù chống thói lười biếng,
dựa dẫm.
Đề 1: B.Phran klin đã nói rằng: "Lười biếng làm mòn rỉ trí tuệ và
thân thể".
Em hãy chứng minh.
Đề 2: Em hiểu như thế nào về câu ngạn ngữ sau: "Người ở không
giết thì giờ rồi thì giờ sẽ giết lại người ở không"
Đề 3: Nhà văn Lỗ TÊn (Trung Quốc) đã nói rằng: "Trên đường
thành công không có vết chân của người lười biếng"
Em hãy bình luận câu nói trên.
Đề 4: Ông cha ta thường nói: " Đời người có một gang tay, ai hay
ngủ ngày còn một n¶ gang"
Em hãy giải thích câu tục ngữ trên.
bạn trong trường?
Đề 2: Nhà thơ Tố Hữu thường căn dặn thanh niên: "Thanh niên
phải biết ước mơ và hành động" Em hiểu như thế nào về lời căn dặn đó?
Đề 3: Theo em, sống như thế nào là có lý tưởng?
Đề 4: Em có suy nghĩ gì về những câu thơ sau:
-"Trên đời này chỊt chẳng có gì là mới
Nhưng sống trên đời cũng chẳng mới gì hơn"
(£ xê nin)
và:
- "Trên đời này chỊt chẳng có gì là mới
Nhưng gây dựng cuộc đời còn gian khó hơn nhiều"
(Maiac«pxki)
Đề 5: Một học giả đã nói rằng: "Những đam mê hỗn loạn là nguồn
gốc của mọi tai họa mà người sáng suốt cần phải tránh xa" .
Em hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.
Đề 6: "Có những kẻ đeo kính khi mắt còn rất tốt. Tôi gọi đó là sự
học đòi ngu xuẩn". (Ban z¨c).
Em có đồng ý với ý kiến trên không?
Nhóm 4: Giáo dục lòng nhân từ, tính tiết kiệm, sự thận trọng, chín chắn
trong mọi việc:
Đề 1: Lão Tư có câu: "Ta có ba của báu cần phải giữ: Một là nhân
từ, hai là tằn tiện, ba là không vội trước thiên hạ. Vì nhân từ nên mới mạnh, tằn tiện nên mới rộng rãi, không vội vàng nên mới đứng trước
người". Em hãy giải thích và bình luận câu nói trên.
Đề 2: Người Việt Nam có câu: "Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi
nói"
Em hiểu như thế nào về câu nói này?
Đề 3: Uèc- ban người Hungari cho rằng: "Nếu ta suy nghĩ hai lần
Đề 2: "Cần phải coi việc học tập là điều kiện bình thường cho trí
tuệ giống như người ta phải thở cho thân thể tồn tại"
(S. An tô nèp)
Em có suy nghĩ gì về câu nói này?
Đề 3: Ông B. Fran klin đã cho rằng: "Đầu tư cho kiến thức là đầu
tư sinh lợi nhiều nhất"
Em hãy giải thích tại sao?
Đề 4: Có ý kiến cho rằng: "Con người càng phát triển cao về trí tuệ
và đạo đức, càng trở nên tự do hơn và cuộc sống càng thú vị hơn đối với
họ".
Em suy nghĩ như thế nào về nhận định này?
Đề 5: Khổng Tử cho rằng: "Kẻ ham học hỏi thì gần được đức Trí,
kẻ cố gắng làm chuyện phải gần được đức Nhân, kẻ biết xấu hổ gần được
đức Dòng".
Em hãy giải thích vấn đề trên?
Nhóm 7: Giáo dục ý thức trân trọng quá khứ, lịch sử của cha ông
Đề 1: "Đừng đánh mất quá khứ vì với quá khứ người ta xây dựng
tương lai" (Fr¨ng xơ). Em hãy phát biểu ý kiến của mình về vấn đề này?
Đề 2: Franklin có nói: "Những kẻ rò bỏ quá khứ thường chẳng mÂy
khi thành công ở tương lai"
Em hãy bình luận câu nói trên.
Đề 3: Có người đã cho rằng: "Những gì đã qua đều trở nên cũ kỹ,
lỗi thời, không có giá trị và chẳng đáng học tập"
Em hãy cho biết ý kiến của mình về vấn đề này?
Đề 4: Giải thích câu tục ngữ : "Uống nước sông nhớ mạch suối"
Nhóm 8: Giáo dục tính trung thực, sự khiêm tốn…
3. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề (Định hướng)
a. Mục đích
Tìm hiểu đề là bước đầu tiên trong quá trình làm một bài văn nghị
luận. Là bước xác định phương hướng, tìm ra một cái đích mà trong quá
của đề là: Yêu cầu bàn về bản lĩnh sống nếu kiên trì, quyết tâm thì sẽ
thắng lợi, thành công.
Đề 2: Em hãy giải thích câu tục ngữ : "Uống nước sông nhớ mạch
suối"
Sông hình thành từ nhiều con suối, do đó uống nước sông (Hưởng
thụ thành quả) cần nhớ tới nguồn cội ( Người làm ra thành quả đó).
Yêu cầu nội dung của đề: Bàn về vấn đề tư tưởng, đạo lý đó là lòng biết
ơn những người đã làm nên thành quả cho mình hưởng thụ.
Đề 3: Hãy giải thích câu tục ngữ: "Ăn như thuyền chở mã
Làm như ¶ chơi trăng"
Xác định nội dung của đề thông qua lối so sánh trực tiếp: - Ăn như thuyền chở mã: ăn khỏe
- Làm như ¶ (chị) chơi trăng: Làm thì nhởn nhơ, không hiệu quả
Do đó yêu cầu nội dung cần phê phán thói lười biếng siêng ăn, nhác
làm.
Thứ hai: Hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu về mặt hình thức.
Đây thực chất là định hướng về phương pháp làm bài, thể loại làm bài.
Thông thường thì yêu cầu này thường được diễn đạt bằng những từ ngữ
cụ thể như: Giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích nhưng cũng có
thể được thể hiện ở các dạng khác như : hãy làm sáng tỏ, hãy minh họa
(kiểu bài chứng minh); Em hiểu như thế nào? Tại sao lại nói như vậy? Thế
nào là? (kiểu bài giải thích); Hãy cho biết ý kiến? Y kiến của en như thế
nào? Em có suy nghĩ gì? (kiểu bài bình luận)…Có một số trường hợp
yêu cầu thể loại bị giấu kín (để chìm). Chẳng hạn như:
Đề 1: Tác hại của thuốc lá
Đề 2: Không thầy đố mày làm nên
Những đề này khó khuôn vào một thao tác nghị luận cụ thể, người
viết cần phải sử dụng hỗn hợp các thao tác, chủ yếu là giải thích, chứng
và thảm khốc"
Phạm vi tài liệu: Dẫn chứng từ thực tế và lịch sử trong và ngoài
nước.
Trong ba nội dung trên thì việc hướng dẫn cho học sinh xác định
yêu cầu về mặt nội dung là quan trọng nhất. Vì yêu cầu này khó xác định,
nếu không hướng dẫn, khơi gợi thì học sinh dễ phạm lỗi viết lan man,
không tập trung hoặc lạc đề. Đồng thời đây cũng là cơ hội để giáo viên
thực hiện được một phần nào đó mục đích của việc ra đề là tập trung vào
giáo dục đạo đức học sinh bởi định hướng để học sinh tự nhận thức cũng
là một khâu của quá trình giáo dục.
III. về việc chÂm, trả bài.
Đây là dịp tốt nhất để chúng ta nắm được đời sống tâm lý, cách
nhìn nhận của học sinh về các vấn đề xã hội và những bộc lộ thuộc về cá
tính hay đạo đức của từng em để từ đó có phương pháp, biện pháp giáo
dục thích hợp.
1. Chấm bài:
Ngoài việc đánh giá chất lượng và chữa những sai phạm trong bài
làm của học sinh theo yêu cầu của công tác giảng dạy Văn, Giáo viên cần
chú trọng đến việc phát hiện, phân loại bài làm của học sinh để có hướng
giáo dục phù hợp. Cụ thể:
a. Phân loại bài làm về mặt hình thức: (Bố cục, kết cấu, chữ viết,
cách dùng từ, diễn đạt…) thành các loại sau:
- Bài làm có hình thức tốt
- Bài làm có hình thức trung bình - Bài làm chưa đạt yêu cầu về hình thức.
b. Phân loại bài làm về mặt nội dung:
- Bài làm đảm bảo yêu cầu nội dung, có thiên hướng tích cực
suy ngược mãi lên điểm 10". Việc cho điểm không phải là cách để cải
thiện chất lượng học văn cũng như đạo đức học sinh. Nhưng chúng ta phải
cho điểm để làm sao lần sau học sinh vẫn mạnh dạn viết ra được những
điều các em đã nghĩ, đã nhận thức. 2. Trả bài
Chương trình của bộ môn Văn trong nhà trường có một đặc điỈm là
có thêm các tiết trả bài. Đây cũng là một tiết học nên giáo viên phải thực
hiện đầy đủ tuần tự các bước lên lớp như:
- Yêu cầu và hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề
- Nhận xét chung về ưu, khuyết điểm của bài làm
- Chữa lỗi về hình thức và nội dung
- Công bố kết quả
- Bài tập vận dụng
Giờ trả bài là khâu cuối cùng hoàn chỉnh mục đích của việc ra đề
văn. Vì vậy, ở bước thứ nhất giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện
việc tìm hiểu đề lại. Sau đó giả viên nhấn mạnh vấn đề mà đề bài yêu cầu,
chỉ ra những dẫn chứng thực tế trong đó có những biểu hiện mang tính
tính cực lẫn tiêu cực có liên quan đến đề.
Sau khi nhận xét chung và chữa một số lỗi về hình thức và nội dung
trong bài làm của học sinh, giáo viên có thể đọc một số bài văn tiêu biểu
đã được phân loại khi chấm bài và cho các học sinh khác nhận xét. Đó
cũng là một lần giáo dục các em.
Riêng đối với những học sinh có nhận thức sai lầm, lệch lạc hoặc
có tâm sự riêng thì tùy từng trường hợp cơ thể giáo viên có thể gặpp gì,
trao đổi ngoài giờ. IV.kết quả thực nghiệm
73,8 19,81 5,90 0,49 0,00
2001- 2002
74,5 19,44 5,70 0,46 0,00
2002- 2003
76,20 17,86 5,50 0,44 0,00
2003- 2004
78,70 15,40 5,50 0,40 0,00
Trong những năm qua, năm nào Nhà trường cũng được đánh giá là
trường có nề nếp tốt trong số các trường THPT trên địa bàn.
Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức của mỗi người là cả một quá trình
thường xuyên liên tục và phụ thuộc nhiều yếu tố. Vì vậy những con số
trên chỉ là những kết quả bước đầu và cũng chưa nói lên được điều gì lớn.
Tuy vậy cũng là sự động viên, khích lệ bản thân trong quá trình nghiên
cứu.
Có những học sinh sau khi ra trường đã gửi về trường những dòng
thư đầy xúc động:
"Thầy, cô kính mến!
… Vậy là đã hai năm em xa trường. Trường mình giờ chắc đã đổi khác
rất nhiều… Nhưng mái trường Lê Văn Linh vẫn mãi là dòng sông hiền
hòa tắm mát các thế hệ học sinh. Mỗi lớp học như những con đò, thầy cô
là người chèo lái con đò ấy… Tất cả chúng em- những học sinh tị mái
trường Lê Văn Linh ra đi đều mang theo trong mình một lòng kính trọng
và biết ơn các thầy cô. Cảm ơn các thầy cô đã cho chúng em những kiến
thức để hôm nay chúng em vững bước vào đời…"
(Thư của học sinh Lê Thị Thúy Khóa học 1999-2002)
"Các thầy các cô kính nhớ!
… Vậy là thế hệ học trò thứ hai của trường Lê Văn Linh tất cả đã
trưởng thành. Chúng em mỗi ngưêi đã chọn con đường đi riêng cho mình
để lập nghiệp nhưng luôn ghi nhớ lời thầy cô dạy bảo. Dù đi đâu, làm gì
Trước khi ra đề
Trong khi làm bài
Sau khi trả bài
SL % SL % SL %
11 I
55 55 100 30 54,5 15 27,3
11B
55 55 100 40 72,7 25 45,5
11D
53 53 100 40 75,5 27 50,9
Con số này tiếp tục giảm sau khi các em đã xác định được khối thi
vào Đại học- Cao đẳng…
*Lớp 12A năm học 2003- 2004:
Lớp có một bộ phận học sinh có ý thức học tập kém không nghe
lời bố mẹ, thầy cô. Khi kiểm tra bài viết số 1 tôi đã ra đề: Ngạn ngữ Trung
quốc có câu "Con cái ngoan làm cho cha mẹ hạnh phúc, con cái hư là kẻ
đào mồ chôn cha mẹ chóng".
Kết quả khảo sát vỊt tinh thần ý thức học tập trên lớp ở bộ môn văn
sau khi trả bài như sau:
Thái độ
học tập
Trước khi ra đề Sau khi trả bài
của cha mẹ tuổi thanh xuân và sức khỏe, khi trưởng thành chúng ta lại
cướp đi niềm tin của cha mẹ giành cho chúng ta. Ôi bất hiếu thay! "
Học sinh Trần Đăng Tiên cũng đã bộc lộ những điều rất thật vÌ
mình :
"… bản thân tôi trước đây luôn là một đứa con ngoan- Gia đình tôi
vốn có nề nếp. Cha mẹ luôn vui vẻ làm việc mặc dù vất vả. Nói chung gia
đình tôi luôn hạnh phúc, làng xóm luôn ca ngợi tôi là hiền. Vậy mà không
ai có thể nói trước được điều gì. Năm 15 tuổi với một chút nổi trội tôi đã
có quan hệ rộng rãi, bạn bè nhiều. Với xã hội không có điều gì là đơn
giản. Bạn bè rủ rê, bản thân không tự chủ. Vậy là tôi đã có những cuộc đi
chơi thâu ngày đêm. Cuộc đời tôi đã quayvÒ một hướng hoàn toàn khác,
mọi người không thể tưởng tượng nổi… Tôi bây giờ muốn quay lại nhưng
thời gian không chờ đợi, nó cứ tiếp tục vận chuyển. Vậy là tôi vẫn là tôi,
luôn trôi theo dòng chảy của thời gian để có một kết quả như ngày nay:
Cha mẹ buồn rầu, luôn nghi ngờ tôi, tất cả mọi việc tôi đều bị giám sát…
Có thể nói tôi đã tự chôn vùi mình và đã đào mồ chôn cha mẹ…"
Trong thực tế vẫn có những bài văn viết sáo không xuất phát từ
nhận thức, tâm tư, tình cảm của mình. Nhưng đó không phải là tất cả.
Những học sinh kể trên sau bài làm đó đã có những thay đổi rõ rệt cả về ý
thức học tập và tư cách đạo đức.
* ở lớp 11C năm học 2003- 2004 để thăm dò việc định hướng nghề
nghiệp của học sinh, khi kiểm tra bài viết số 5 tôi đã ra đề : "Suy nghĩ của
em về nghề nghiệp tương lai" . Kết quả khi chấm bài có:
- 28/56 (50%) học sinh đã có định hướng nghề nghiệp.
- 17/56 (31%) học sinh còn phân vân chưa biết chọn nghỊ gì.
- 11/56 (19%) học sinh còn chưa nghĩ đến.
Kết quả trên cho thấy một vấn đề đáng lo ngại nên phần bài tập vận
dụng sau giờ trả bài tôi đã ra đề : "Em hãy giải thích lời căn dặn của Tố
Hữu với thanh niên "Thanh niên phải biết ước mơ và hành động". Từ đó
nói lên ước mơ của mình về nghề nghiệp sau này".