Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
TÓM TẮT NỘI DUNG...........................................................................................4
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NƯỚC PHÁP.........................5
I. Khái quát chung về nước Pháp...........................................................................................5
1. Địa lý, khí hậu và môi trường.......................................................................................5
2. Dân số và tổ chức hành chính.......................................................................................6
II. Lịch sử - Chính trị - văn hóa..............................................................................................6
1. Lịch sử nước Pháp........................................................................................................6
2. Nước pháp, thể chế và chính sách hiện đại..................................................................8
3. Nước Pháp, một chính sách văn hóa năng động........................................................12
CHƯƠNG II: NỀN KINH TẾ PHÁP QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ.......15
I. Giai đoạn cách mạng tư sản Pháp đến chiến tranh thế giới thứ nhất..........................15
II. Nền kinh tế Pháp sau hai cuộc chiến tranh thế giới......................................................16
1. Giai đoạn từ 1945 đến 1957: khôi phục nền kinh tế hậu chiến ................................17
2. Giai đoạn từ năm 1957 đến 1973: Thời kỳ phát triển phồn thịnh của nền kinh tế Pháp.
.........................................................................................................................................19
3. Giai đoạn từ 1973 đến 1982: Kinh tế Pháp trước tác động của cuộc khủng hoảng năng
lượng...............................................................................................................................20
4. Giai đoạn từ 1982 đến 1996.......................................................................................21
III. Nền Kinh Tế Pháp những năm Cuối Thế Kỉ 20 Đầu Thế kỉ 21.................................23
1. Về Tăng trưởng kinh tế...............................................................................................23
2.Về lao động – việc làm................................................................................................24
3. Về tài chính.................................................................................................................24
4.Về các ngành kinh tế....................................................................................................24
CHƯƠNG III: SO SÁNH NỀN KINH TẾ PHÁP VỚI CÁC NỀN KINH TẾ TƯ
BẢN KHÁC ..........................................................................................................27
I. So sánh nền kinh tế Pháp với các nền kinh tế tư bản khác............................................27
1. Quy mô nền kinh tế.....................................................................................................27
2. Dân số- việc làm và thất nghiệp................................................................................28
3. Về chiến lược phát triển kinh tế ................................................................................30
Pháp là một nước có văn hóa lâu đời và nền kinh tế phát triển.Bài tiểu lận này, chúng tôi
sẽ đề cập đến mọi mặt về địa lí, lịch sử, đời sống văn hóa chính trị và đặc biệt chú trọng đến
việc đề cập đến những đặc điểm của nền kinh tế nước Pháp. Bài tiểu luận này được chia làm
bốn chương.
Chương I. sẽ trình bày những đặc điểm khái quát nhất về nước Pháp. Chương này sẽ cung
cấp những thông tin cơ bản về vi trí địa lí cũng như khí hậu và tài nguyên thiên nhiên của đất
nước ở eo biển Măng- xơ.Đồng thời cũng đưa ra bức tranh toàn cảnh về đời sống văn hóa chính
trị và lịch sử nước Pháp.Vấn đề kinh tế cũng được nhắc đến một cách tổng quan
Chương II là chương trọng tâm của bài tiểu luận, qua chương này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm
hiểu những giai đoạn phát triển của nền kinh tế Pháp từ cách mạng tư sản Pháp cho đến nay.
Phần này chúng tôi chia ra làm ba giai đoạn lớn là: Từ cách mạng tư sản Pháp cho tới chiến
tranh thế giới thứ nhất, Kinh tế Pháp sau thế chiến thứ nhất, Nền kinh tế Pháp sau thế chiến thứ
hai. Vì giai đoạn ba gắn liền với những đặc điểm của nền kinh tế Pháp hiện tại cho nên chúng
tôi sẽ đi sâu vào đề cập để thấy rõ những khó khăn và những thành tựu của kinh tế pháp sau
chiến tranh thế giới thứ hai. Những biến đổi về lịch sử cũng được lồng vào để lý giải rõ thêm
sự lựa chọn đường lối phát triển và mô hình của nền kinh tế Pháp.
Chương III chúng tôi sẽ đưa ra những so sánh để thấy rõ được vị thế của nền kinh tế Pháp
trong bản đồ kinh tế thế giới, đồng thời qua sự so sánh, ta cũng thấy rõ những đặc điểm khác
biệt của kinh tế Pháp với các nền kinh tế khác trong các nước công nghiệp G7. Chúng tôi cũng
dành một mục trong trương II để nói về tầm ảnh hương của kinh tế Pháp đến kinh tế Việt Nam
thông qua mối quan hệ thượng mại và những kinh nghiệm rút ra cho một nền kinh tế đi sau.
Chương IV sẽ đưa ra những nhận xét và đánh giá về những đặc điểm của nền kinh tế
Pháp, phân tích những chính sách phát triển và các nhân tố khách quan tác động qua đó làm rõ
hơn những ưu việt và hạn chế của nền kinh tế luôn bị coi là già cỗi này.
Trong quá trình thực hiện, cái khó nhất là tìm những tài liệu lịch sử do sư thay đổi của
các phương pháp và trình độ thống kê đồng thời cũng là do sư thay đổi cơ cấu giá trị trong nền
kinh tế, do đó chúng tôi không có nhiều số liệu về các giai đoạn trước của kinh tế Pháp. Việc so
sánh và đánh giá nền kinh tế cũng là một vấn đề rất phức tạp do vậy bài viết này còn nhiều
thiếu xót. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các bạn và cô giáo
Trong quá trình thực hiện nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo: TS. Phan Thị
hoẵng thì tăng lên gấp ba.
Nhằm gìn giữ và khôi phục giá trị di sản thiên nhiên, Chính phủ Pháp đã xây dựng:
• 7 công viên quốc gia,
• 132 khu bảo tồn thiên nhiên,
• 463 khu bảo vệ sinh cảnh
• cùng với 389 khu vực được bảo vệ bởi cơ quan bảo tồn sinh thái miền duyên hải
• thêm vào đó còn có 35 công viên thiên nhiên ở các vùng, chiếm hơn 7% diện tích lãnh
thổ.
5
• 22,11 tỷ euros (145 tỷ francs)dùng để chi bảo vệ môi trường, trung bình khoảng 378
euros (2 480 francs)một người dân. Trong đó quản lý nước thải và rác chiếm 3/4 tổng
chi phí.
Đối với cấp độ quốc tế, Pháp đã tham gia vào nhiều hiệp ước và công ước về khí hậu, về
đa dạng sinh học và sa mạc hoá do Liên hiệp quốc soạn thảo.
2. Dân số và tổ chức hành chính
a.Dân số
60,7 triệu dân (2001).
Mật độ: 107 người/km2.
Nước Pháp có 52 tỉnh thành với hơn 150 000 dân.
Năm tỉnh thành lớn nhất:
Thành phố Dân số năm 2000
1. Paris 9,8 triệu
2. Lyon 1,4 triệu
3. Marseille-Aix-en-Provence 1,4 triệu
4. Lille 1,1 triệu
5. Toulouse 0,9 triệu
b.Tổ chức hành chính
Cộng hoà Pháp bao gồm :
• Chính quốc ( bao gồm 22 vùng và 96 tỉnh),
• 4 tỉnh hải ngoại (DOM) - Guadeloupe, Martinique, Guyane, La Réunion
ông, Marie Antoinette, bị giết cùng hàng nghìn công dân Pháp khác. Sau thời gian của một loạt
những chính phủ tồn tại ngắn ngủi, Napoléon Bonaparte nắm quyền kiểm soát nền Cộng hòa
năm 1799, tự phong mình làm Tổng tài, và sau này là Hoàng đế của cái hiện được gọi là Đế chế
Pháp thứ nhất (1804–1814). Trong thời của các cuộc chiến tranh, quân đội của ông đã chinh
phục hầu hết lục địa Châu Âu và các thành viên gia đình Bonaparte được chỉ định làm vua tại
các vương quốc mới được thành lập.
Sau khi Napoleon bị đánh bại năm 1815 tại Trận Waterloo, quân chủ Pháp được tái lập.
Năm 1830, một cuộc khởi nghĩa dân sự đã thành lập ra Quân chủ tháng 7 lập hiến, tồn tại tới
năm 1848. Nền Cộng hòa thứ hai ngắn ngủi chấm dứt năm 1852 khi Louis-Napoléon Bonaparte
tuyên bố thành lập Đế chế Pháp thứ hai. Louis-Napoléon bị hất cẳng sau khi thua trận trong
cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870 và bị thay thế bởi nền Cộng hòa thứ ba.
Pháp sở hữu các thuộc địa dưới nhiều hình thức từ đầu thế kỷ 17 cho tới tận thập kỷ
1960. Trong thế kỷ 19 và 20, đế chế thuộc địa toàn cầu của họ lớn thứ hai thế giới chỉ sau Đế
chế Anh. Thời đỉnh điểm, giữa năm 1919 và 1939, đế chế thuộc địa Pháp thứ hai vượt quá
12,347,000 kilômét vuông (4,767,000 sq. mi) đất liền. Gồm cả Mẫu quốc Pháp, tổng diện tích
đất liền thuộc chủ quyền Pháp đạt tới 12,898,000 kilômét vuông (4,980,000 dặm vuông) trong
thập kỷ 1920 và 1930, chiếm 8.6% diện tích đất liền thế giới.
7
Dù là nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp phải chịu những tổn thất
to lớn cả về con người và vật chất khiến họ trở nên suy yếu trong những thập kỷ tiếp sau.
Những năm 1930 được đánh dấu bởi nhiều cuộc cải cách xã hội do Chính phủ Mặt trận Bình
dân đưa ra.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, sau một một trận đánh ngắn, dữ dội và mang tính sai
lầm chiến lược, giới lãnh đạo Pháp đã quyết định đầu hàng Đức năm 1940. Chính sách hợp tác
với kẻ thù, một hành động khiến một số người phản đối, dẫn tới việc thành lập Các lực lượng
Pháp Tự do bên ngoài nước Pháp và Kháng chiến Pháp ở bên trong. Pháp được Đồng Minh giải
phóng năm 1944.
Nền Đệ tứ Cộng hòa Pháp được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và đấu tranh
nhằm lấy lại vị thế kinh tế, chính trị của một cường quốc. Pháp đã nỗ lực giữ vững đế chế thuộc
địa của mình nhưng nhanh chóng rơi vào khủng hoảng. Nỗ lực miễn cưỡng năm 1946 nhằm
độc lập dân tộc, Tổng thống có một số đặc quyền trong thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng.
Tổng thống có thể đưa ra trưng cầu dân ý một số dự thảo luật và giải tán Quốc hội. Trên thực
tế, Tổng thống có một vai trò hàng đầu trong việc xác định các phương hướng của chính sách
đối ngoại. Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng, cũng như các thành viên của chính phủ theo đề
nghị của Thủ tướng, và chủ trì Hội đồng Bộ trưởng.
Thủ tướng Chính phủ, người chịu trách nhiệm về quốc phòng và có nhiệm vụ thực thi các
đạo luật, lãnh đạo hoạt động của Chính phủ. Chính phủ xác định và thi hành chính sách Quốc
gia. Chính phủ có bộ máy hành chính và lực lượng vũ trang. Chính phủ chịu trách nhiệm trước
Nghị viện.
Một hệ thống lưỡng viện
Với một Nghị viện có hai Viện, Pháp có một hệ thống lưỡng viện đóng một vai trò chính
trong sự vận hành dân chủ. Thật vậy, thông qua hai viện, những khác biệt về chính trị và tranh
luận ý kiến được diễn ra một cách rộng rãi.
Quốc hội được bầu theo hình thức phổ thông đầu phiếu trực tiếp, đơn danh quá bán hai
vòng, cho nhiệm kỳ 5 năm. Thượng viện được bầu cho nhiệm kỳ 6 năm, theo hình thức phổ
thông đầu phiếu gián tiếp và không thể bị giải tán như Quốc hội (577 đại biểu - bầu cử các ngày
9 và 16 tháng 6 năm 2002).
9
Hội đồng hiến pháp
Cơ quan này là một trong những phát kiến lớn của nền Cộng hoà thứ V. Hội đồng hiến
pháp gồm chín thành viên, được bổ nhiệm cho nhiệm kỳ 9 năm và không thể được tái bổ
nhiệm. Ba thành viên, trong đó có Chủ tịch Hội đồng do Tổng thống bổ nhiệm, trong sáu thành
viên còn lại, ba thành viên do Chủ tịch Quốc hội và ba thành viên do Chủ tịch Thượng viện bổ
nhiệm. Khởi đầu với chức năng đảm trách theo dõi việc phân chia quyền lực giữa Nghị viện và
Chính phủ, vai trò của Hội đồng hiến pháp ngày càng tăng lên. Hội đồng hiến pháp ngày càng
tăng cường kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật, trở thành cơ quan bảo vệ các quyền tự do
cơ bản.
Mặt khác, Hiến pháp nhiều lần được sửa đổi để phù hợp hơn với những đòi hỏi mới của
Nhà nước pháp quyền và những vấn đề bức thiết của châu Âu.
Một nền ngoại giao đã được khẳng định
hợp tác quốc tế (HCCI).
Hoạt động chủ yếu của các dự án và chương trình viện trợ cho phát triển được giao cho
Cơ quan phát triển Pháp (AFD), cơ quan tài chính đóng vai trò điều phối chủ chốt.
Chính sách hợp tác của Pháp cũng nhằm vào việc tăng cường các hoạt động văn hoá và gia tăng
các dự án song phương về khoa học kỹ thuật. Sự hiện diện của nước Pháp được thể hiện qua
đông đảo các trung tâm và học viện văn hoá, các trường trung học và trường học theo chương
trình Pháp (150 000 học sinh) và qua Alliance Franỗaise, có mặt ở trên 140 nước (hơn 1200 văn
phòng).
Hợp tác khoa học kỹ thuật cũng rất tích cực. Các tổ chức như Trung tâm Nghiên cứu
Khoa học Quốc gia (CNRS), Viện Y tế và Nghiên cứu Y học Quốc gia (INSERM) hay Viện
Nghiên cứu khoa học Nông nghiệp Quốc gia (INRA) hoạt động tại nhiều nước.
Phát triển viện trợ nhân đạo
Khi dành một vị trí đặc biệt cho hoạt động nhân đạo trong chính sách đối ngoại, nước
Pháp thể hiện mong muốn được tiếp tục ở cấp độ cao nhất những giá trị mà Pháp đã là nước đi
tiên phong.
Các Tổ chức Phi Chính phủ của Pháp (ONG) hoạt động thường xuyên tại những nơi xẩy
ra thiên tai và trong các cuộc xung đột vũ trang. Trong số đó, có các tổ chức Bác sỹ không biên
giới (MSF), Bác sỹ thế giới (MDM), Dược sỹ không biên giới (PSF), Hoạt động Quốc tế chống
lại nạn đói (AICF), Cân bằng.
Nước Pháp, một đất nước hấp dẫn
Cơ quan đầu tư quốc tế Pháp (AFII), do bà Clara Gaymard, Đại sứ ủy quyền về đầu tư
quốc tế làm Chủ tịch, là cơ quan của chính phủ chuyên trách về khuyến khích, thăm dò và tiếp
nhận đầu tư quốc tế tại Pháp. Với hệ thống mạnh mẽ gồm 22 văn phòng và 75 đại biện tại nước
ngoài (Bắc Mỹ, châu á, châu Âu) và được sự cộng tác chặt chẽ của các văn phòng Vụ Quan hệ
Kinh tế Đối ngoại, AFII tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp trong các dự án hoạt động và phát triển
tại Pháp. Cơ quan này làm thành một mạng lưới có thẩm quyền thực thi, đặc biệt thông qua sự
11
hợp tác với các địa phương của Pháp với sự liên hệ của với Cơ quan ủy quyền về Qui hoạch
Lãnh thổ và Hoạt động Khu vực, và là nơi đối thoại thường xuyên với các tác nhân kinh tế.
3. Nước Pháp, một chính sách văn hóa năng động
Châu Âu các nghề hình ảnh và âm thanh (FEMIS).
12
Các đài truyền hình công cộng từ lâu đã dành một phần chương trình cho lĩnh vực văn
hóa. Ngoài ra, từ năm 1992, công chúng được xem một kênh dành riêng cho văn hóa, đài truyền
hình Arte, đây là thử nghiệm đầu tiên kiểu này ở Châu Âu, do Pháp và Đức phối hợp tiến hành,
với các chương trình song ngữ. Ngoài Arte, kênh chỉ phát sóng vào buổi tối, còn có kênh giáo
dục La Cinquième, kênh truyền hình tri thức phát sóng suốt ngày.
Các thư viện là một trong số các địa điểm văn hóa được nhiều người lui tới nhất ở Pháp.
Ngoài các thư viện trường học và đại học, có khoảng 3000 thư viện thành phố. Mỗi một tỉnh
quản lý một thư viện cho mượn, toàn bộ các thư viện tỉnh có gần 21 000 điểm phục vụ trong đó
có 17 000 điểm cố định và 4000 điểm lưu động, kiểu ô Thư viện xe buýt ằ. Paris có các thư
viện nổi tiếng như thư viện của Trung tâm Georges Pompidou, Thư viện Arsenal, các thư viện
Saint-Genevière và Mazarine. Thủ đô có Thư viện Quốc gia Pháp, mở cửa năm 1996, có khả
năng chứa 30 triệu tác phẩm và tiếp nhận các kho sách, bản in, ấn phẩm định kỳ và kho âm
thanh của Thư viện quốc gia Richeulieu trước đây.
Cộng đồng Pháp ngữ
Có hơn 170 triệu người nói tiếng Pháp trên thế giới và được phân bổ trên cả năm châu
lục.
Nước Pháp có tham vọng mở rộng việc truyền bá ngôn ngữ của mình. Pháp cũng nỗ lực
biến cộng đồng Pháp ngữ thành một cơ cấu hợp tác ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế và chính trị.
Nhiều thể chế góp phần vào mục tiêu này :
• Tổ chức quốc tế Pháp ngữ (OIF)
• Cơ quan Liên Chính phủ Pháp ngữ (AIF)
• Tổ chức Nghị viện Pháp ngữ quốc tế (AIPLF)
• Tổ chức các trường Đại học sử dụng hoàn toàn hay một phần tiếng Pháp (AUPELF)
• Trường đại học Sedar Senghor d’Alexandrie
• Mạng lưới trường Đại học nói tiếng Pháp (UREF)
• Đài TV5 Quốc tế
• Đài Phát thanh Quốc tế Pháp (RFI)
• Tổ chức Báo chí Pháp ngữ quốc tế (AIPF)
Cuộc cách mạng mang lại sức mạnh của sự chuyển đổi với quy mô lớn, từ nhà thờ thiên
chúa giáo La Mã sang nhà nước. Dưới chế độ cũ, nhà thờ sở hữu vùng đất rộng lớn nhất trên
đất nước. Sau đó đã bị chấm dứt khi nhà nước mới hình thành. Các quyền lợi đặc biệt của nhà
thờ như quyền đánh thuế trên các đồng cỏ đã chấm dứt và xung công tài sản.
Hiến Pháp năm 1791, Pháp có chức năng như một nhà nước quân chủ lập hiến. Nhà vua
phải chia sẻ quyền lực với các đại biểu hội đồng luật pháp, nhưng ông vẫn được duy trì quyền
bầu cử và khả năng lựa chọn tổng thống.
Sau thời gian dài rối loạn trong chính quyền Pháp, hội nghị quốc gia đã thay đổi hiến
pháp cũ, hiến pháp mới được công bố ngày 20/09/1792, thay chế độ quân chủ bởi một nền cộng
hoà.
Hội nghị ngày 17/08/1795 đã tán thành hiến pháp mới, cùng với việc thong qua của một
cuộc trưng cầu dân ý và nó đem lại kết quả vào ngày 26/09/1795. Hiến pháp mới tạo ra "cuốn
sách chỉ dẫn" và tạo ra thượng - hạ nghị viện đầu tiên trong lịch sử nước Pháp. Nghị viện bao
gồm 500 đại diện cho chính phủ, 250 thượng viện.
Đế chế thứ nhất
- Vào ngày 21/03/1804, bộ luật Napoleic được áp dụng khắp lãnh thổ dưới sự điều khiển
của người Pháp.
- Ngày 18/05/1804 Napoleon nhận được tước vị hoàng đế bởi thượng viện. Như vậy đã
đặt nền móng cho đế chế của người Pháp.
Đế chế thứ hai
15
- Vào năm 1838 vị Vua Pháp cuối cùng thoái vị. Và cộng hoà Pháp thứ hai được tuyên bố
ra đời
- Louis Napoleon Bonparte được chọn làm tổng thống. tiếp theo một cuộc đảo chính đó
được xác định và chấp nhận trong cuộc trưng cầu dân ý đáng ngờ. Napoleon đệ tam của Pháp
mang đế chế nhỏ vào năm 1852 và giữ nó co đến khi ông ta suy sụp và năm 1870.
- Thời kỳ này thấy được nền công nghiệp hóa, đô thị hoá và tăng trưởng kinh tế, nhưng
chính sách quốc tế thì không thành công.Vào năm 1856 Pháp gia nhập chiến tranh cùng với
Anh chống lại Trung Quốc.
Cộng hoà thứ ba ra đời
Trong những năm 1945 – 1950, kinh tế Pháp phát triển chậm chạp, gặp nhiều khó khăn
Tướng Charles de Gaulle, người đứng đầu nước Pháp trong thời gian chiến tranh, được bầu làm
người đứng đầu chính phủ vào năm 1945. Ông đã lập tức thông báo sẽ quốc hữu hóa các nhà
máy điện và các tổ chức tín dụng. Sau đó, chính phủ của De Gaulle tiếp tục thực hiện việc quốc
hữu hóa đối với các mỏ than, các ngân hàng lớn và các công ty bảo hiểm lớn, các công ty năng
lượng và công ty gas, hãng hàng không Pháp. Chính phủ Pháp năm giữ hơn 20% ngành công
nghiệp.
Chính sách này đã phù hợp với chính sách thương mại trong hệ thông chính sách chỉ huy
kinh tế. Mặc dù,có sự ủng hộ rộng dãi với những chính sách kinh tế của chính phủ nhưng cũng
có rất nhiều doanh nghiệp nhỏ đã không tán đồng với biện pháp này. Do đó một số đơn vị đã tự
tách ra. Đảng cộng sản và đảng xã hội Pháp đã rút ra khỏi chính phủ vào năm 1947 và 1949.
Jean Monnet tìm cách níu kéo các mục tiêu mà nước Pháp đặt ra vào năm 1945 cho nên
kinh tế Pháp đến năm 1950.Thêm vào đó là mục tiêu mà Monnet đã gọi là “hiện đại hóa công
nghiêp”.Monnet chú ý rằng: chính phủ Pháp không có đủ nguồn lực dể khôi phục tất cả nên
kinh tế Pháp, do đó, ông đã gội những khu vực đầu tư của chinh phủ la khu vực “key
economy”.Khu vực này bao gồm hệ thông giao thông, điện, luyện kim, than, may nồng nghiệp.
Sau đó, dàu mỏ và phân bón cũng được thêm vào danh sách này. Cách thức của Monnet, đến
năm 1952, trở thành kế hoach Monnet.
Trong mỗi khu vực “ key economic”của kế hoạch Monnet, mỗi thành phần trong kế
hoạch được chuyển đến ủy ban hiện đại hóa tạo lên các ủy ban chuyên trách, đơn vị quản lí khu
vực, các công ty công và các hiệp hội, chuyên viên kĩ thuật.
Sự phân công này không tạo ra được khả năng để giải quyết các vấn đề của nền kinh tế
Pháp. Lạm phát trở thành vấn đề kinh niên thời kì hậu chiến. Nhưng giá cả đã không đươc kiểm
soát.
17