lịch sử giáo dục An Giang - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN LỊCH SỬ
--------------- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

LỊCH SỬ GIÁO DỤC AN GIANG
(1975 – 2005)
…F0G…

Chủ nhiệm đề tài:
TIẾN SĨ NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG LONG XUYÊN – THÁNG 12 NĂM 2008

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN LỊCH SỬ
--------------- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

giáo dục. Giáo dục An Giang trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cũng được đề
cập đến, bởi vì giáo dục An Giang phát triển trên cơ sở kế thừa các nền giáo dục trước
đó: Lý, Trần, Lê, Nguyễn, thời Pháp thuộc, thời Mỹ- ngụy. Sau ngày hoàn toàn giải
phóng (6/5/1975), An Giang tiến hành xây dựng nền giáo dục cách mạng, xóa bỏ chế độ
giáo dục thực dân mới của Mỹ- ngụy nhằm đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn 1976 – 1986 nhân dân An Giang tiếp tục xây dựng nền giáo dục cách
mạng đạt được những thành tựu bước đầu, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những yêu
cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn đó.
Chương II: Giáo dục An Giang trong mười năm đầu c
ủa công cuộc đổi mới
(1986 -1996): Chương này giới thiệu những quan điểm chủ trương của Đảng Cộng sản
Việt Nam về đổi mới giáo dục, bối cảnh của công cuộc đổi mới giáo dục, chứng minh
sự cần thiết phải đổi mới giáo dục nếu không muốn bị tụt hậu trong cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật đang diễn ra. Đả
ng bộ và chính quyền An Giang đề ra những giải
pháp để hiện thực hóa các đường lối chủ trương đó các mặt giáo dục: xóa nạn mù chữ,
giáo dục mầm non, tiểu học, trung học, nghề nghiệp, xây dựng đội ngũ giáo viên, đầu tư
kinh phí,xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và sự phối hợp gia đình – nhà trường – xã hội
trong công tác giáo dục.
Chương III: Giáo dục An Giang trong thời kỳ công nghiệ
p hóa – hiện đại hóa
(1996 – 2005): Chương này giới thiệu những quan điểm chủ trương giáo dục của Đảng
trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, những giải pháp thực hiện của Đảng
bộ và chính quyền An Giang, việc thực hiện quan điểm chủ trương của Đảng thể hiện
trên các mặt giáo dục. Phân tích những nguyên nhân thành công và những yếu kém,
kiến nghị một s
ố giải pháp và kết luận. MỤC LỤC

xây dựng cơ sở vật chấ
t kỹ thuật .................................................................................64
2.5 Sự phối hợp của gia đình – nhà trường – xã hội trong
công tác giáo dục..........................................................................................................74
Chương III: GIÁO DỤC AN GIANG TRONG THỜI KỲ CÔNG
NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA (1996 -2005)

1.Quan điểm, chủ trương giáo dục của Đảng trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu
thế kỷ XXI và những giải pháp của Đảng bộ và chính quyền An Giang……… 77

2.Việc thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng thể hiện trên
các mặt giáo dục ..................................................................................................................89
2.1.Giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, xóa mù chữ,
phổ cập giáo dục tiểu học...........................................................................................89
2.2.Giáo dục trung học: cơ sở và phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, các Trung
tâm Giáo dục thường xuyên, đào tạo đại học, cao đẳng, trường Đại học An
Giang, thành lập các Trung tâm học tập cộng đồ
ng, giáo dục vùng dân tộc ít
người, xây dựng đội ngũ giáo viên.............................................................................94
2.3.Công tác tài chính, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật,
cải tiến công tác quản lý ...........................................................................................100
2.4.Sự phối hợp gia đình – nhà trường – xã hội trong công tác giáo dục .................103
3.Tổng quát về sự nghiệp giáo dục ở An Giang
3.1 Phân tích những nguyên nhân thành công và những yếu kém ........................................108
3.2 Kiến nghị một số giải pháp và kết luận ..........................................................................114
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC DANH SÁCH CÁC BẢNG THÔNG KÊ Trang
Bảng 1.1: Số lớp, giáo viên, học sinh mẫu giáo 1976 – 1981 ...........................19

Bảng 2.18: Ngân sách Nhà nước tỉnh cấp cho giáo dục ...................................67
Bảng 2.19: Các nguồn tài chính....................................................................... 68
Bảng 2.20: Các nguồn tài chính cho các ngành học .........................................68
Bảng 2. 21: Chi đầu tư cơ bản cho ngành giáo dục ..........................................69
Bảng 2.22: Số lượng lớp học, phòng học từ 1985 – 1996 ................................71
Bả
ng 2.23: Thực trạng phòng thí nghiệm lý, hóa, sinh ....................................72
Bảng 3.1: Số lượng học sinh nhà trẻ, mẫu giáo những năm 1995 – 2000........90
Bảng 3.2: Giáo dục tiểu học những năm 1995 – 2005 .....................................92
Bảng 3.3: Tình hình phát triển giáo dục THCS 1995 – 2005 ...........................94
Bảng 3.4: Tình hình phát triển giáo dục THPT 1995 – 2005 ...........................95
Bảng 3.5: Tình hình kinh phí của ngành giáo dục..........................................100
Bảng 3.6. Số lượng học sinh, sinh viên ngành học.........................................105
Bảng 3.7: Phòng học mới của các năm học 1995 2005.................................105 NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG ĐỀ TÀI

Chữ viết tắt: Đọc là
BCH, BGH: Ban chấp hành, ban giám hiệu
BVSKBMTE: Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em
CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CBQLGD: Cán bộ quản lý giáo dục
CSVC, CBGD: Cơ sở vật chất, cán bộ giảng dạy

đó có thể cung cấp những luận cứ khoa học nhằm đóng góp phần rất nhỏ nhoi vào việc
phát triển sự nghiệp giáo dục
ở An Giang. Mặt khác việc nghiên cứu lịch sử giáo dục -
một bộ phận của lịch sử xã hội – cũng góp phần làm rõ hơn lịch sử An Giang giai đoạn
1975 – 2005.
Nội dung nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu về lịch sử giáo dục An Giang trong
một khoảng thời gian dài ba mươi năm (1975-2005) . Đi sâu vào việc nghiên cứu giai
đoạn 1986-1996 đó là thời kỳ đổi mới giáo dục, cũng là thời kỳ
giáo dục An Giang có
nhiều nét đột phá. Nghiên cứu giai đoạn trước đổi mới (1975-1986) để chứng minh sự
cần thiết phải đổi mới giáo dục nói chung, giáo dục An Giang nói riêng. Nghiên cứu
giai đoạn 1996 – 2005 để thấy được những thành quả của công cuộc đổi mới giáo dục
ở An Giang, tiếp tục phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế yếu kém thúc
đẩy giáo dục An Giang tiếp tụ
c phát triển.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là
lịch sử giáo dục An Giang từ 1975 đến 2005 thể hiện trên các mặt: quan điểm, chủ
trương về giáo dục, những thành quả và hạn chế của sự nghiệp giáo dục tại An Giang
bao gồm giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Tuy nhiên, do điều
kiện tài liệu và những khó khă
n trong thực tế, đề tài tập trung nghiên cứu về sự nghiệp
giáo dục trong nhà trường, đồng thời đặt giáo dục nhà trường trong mối liên hệ với giáo
dục gia đình và giáo dục xã hội.
Phạm vi không gian nghiên cứu là tỉnh An Giang với địa giới hành chánh là thời
điểm hiện nay. Phạm vi thời gian là thời kỳ 1975 – 2005 được chia làm 3 giai đoạn:
1975 – 1986: Giáo dục An Giang hơn mười năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải
phóng; 1986 – 1996: Giáo dục An Giang trong mười nă
m đầu của công cuộc đổi mới
;1996 – 2005: Giáo dục An Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Bên cạnh việc viết lại lịch sử giáo dục An Giang, để thực hiện đúng chức năng sử

Sử dụng phương pháp đa bộ môn để nhằm tiếp cận giáo dục An giang từ nhiều
phía và nhằm tận dụng nhiều nguồn thông tin để nhận thức lịch sử
Sử dụng phương pháp phân kỳ: Dựa theo các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc để
phân kỳ vì sau mỗi kỳ Đại hội
Đảng giáo dục An Giang chuyển sang một bước ngoặt
mới, do vậy, phân kỳ như sau: Giáo dục An Giang hơn mười năm sau ngày hoàn toàn
giải phóng (1975-1986); giáo dục An Giang thời kỳ đổi mới (1986-1996); giáo dục An
Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa (1996 – 2005).
Thu thập, xử lý tài liệu, thống kê, so sánh, đối chiếu để trình bày và giải quyết các
vấn đề khoa học của lịch sử giáo dục An Giang. Các vấn đề đã nêu ra chúng tôi tự giải
quyế
t bằng các cuộc trao đổi với sinh viên, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh,
chuyên gia, xem báo, xem ti vi, nghe đài v.v…
Phương pháp xin ý kiến của chuyên gia: sau khi viết xong từng chương chúng tôi
gởi bài đến các chuyên gia: Gs Ts Phan Ngọc Liên (Bộ Giáo dục – Đào tạo), PGs Ts
Ngô Minh Oanh (Trưởng khoa Sử, ĐHSP Tp HCM), PGs Ts Võ Văn Sen (Hiệu trưởng
Trường Đại học KHXH và NV Tp HCM), Ts Lê Hữu Phước (P. Hiệu trưởng Trường
Đại học KHXH và NV Tp HCM), Ts Bùi Thị Thu Hà (Học viện Chính trị Quốc gia
HCM) để được tư vấn, qua đ
ó chúng tôi sửa chữa, thêm bớt để tác phẩm có thể đạt yêu
cầu.
4. Dự kiến những đóng góp kết quả nghiên cứu của đề tài:
Đóng góp về mặt khoa học, phục vụ công tác đào tạo: Đề tài tập hợp, hệ thống
những tài liệu cơ bản và đáng tin cậy để trình bày tương đối toàn diện đầy đủ về các
chặng đường phát triển của sự nghi
ệp giáo dục đào tạo ở An Giang trong 30 năm cuối
thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI trên cả 3 phương diện: giáo dục nhà trường, giáo dục gia
đình, giáo dục xã hội. Đề tài cung cấp những tài liệu và luận cứ khoa học cần thiết cho
việc nghiên cứu toàn diện về lịch sử địa phương An Giang trong công cuộc xây dựng,
phát triển kinh tế xã hội từ năm 1975 đến nay. Có thể làm tài liệu tham khảo ph

và giải pháp phát triển giáo dục An Giang

3
CHƯƠNG I: GIÁO DỤC AN GIANG HƠN MƯỜI NĂM SAU NGÀY MIỀN
NAM HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG (1975 – 1986)
Hơn mười năm sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, giáo dục An Giang
có nhiều thay đổi, biến chuyển lớn song cũng gặp không ít khó khăn trong tình hình
chung của cả nước. Đặc biệt, An Giang là tỉnh có nhiều nét riêng về tự nhiên, kinh tế,
lịch sử, văn hóa, xã hội. Vì thế, sự phát triển giáo dục An Giang cũng có những nét đặc
thù.
1.Vài nét về An Giang
Tỉnh An Giang được thành l
ập vào năm Minh Mạng thứ 13(1832), số đinh là
25.645 người. Năm Tự Đức thứ 3, tỉnh An Giang có 3 phủ 10 huyện. Phủ Tuy Biên có
các huyện Tây Xuyên, Phong Phú, Hà Dương, Hà Âm; phủ Tân Thành: Đông Xuyên,
Vĩnh An, An Xuyên; phủ Ba Xuyên: Phong Xuyên, Phong Thạnh, Vĩnh Định. Thành
tỉnh An Giang đặt tại huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên (thị xã Châu Đốc ngày nay).
Thời Pháp thuộc An Giang chia làm nhiều tỉnh: Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sa
Đéc, Sóc Trăng.
An Giang ngày nay có diện tích 3.423,5km2, nằm ở phía Tây Nam nước ta, phần
lớn thuộc ph
ủ Tuy Biên xưa, bao gồm tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc cũ. Phía Bắc giáp
Đồng Tháp, đường ranh giới tự nhiên là sông Tiền, dài 113km. Phía Nam giáp tỉnh
Kiên Giang với ranh giới là các sông ngòi kênh rạch nhỏ dài 62km. Phía Đông giáp
Cần Thơ, ranh giới là kênh Long Xuyên – Rạch Giá dài khoảng 45km. Vị trí địa lý này
tạo ra sự thuận lợi và cũng là gánh nặng về giao lưu giáo dục giữa An Giang với các
tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang, thành phố Cần Thơ.
Phía Tây Nam, An Giang giáp Campuchia với đường biên giới dài 95km, qua các
huyện: Tân Châu, An Phú, thị xã Châu Đốc, Tị
nh Biên và Tri Tôn. Ở đó, trẻ em, thanh

đến sự điều tiết của Nhà nước nhằm giúp cho nông dân có cuộc sống khá hơn.
Để khai thác những tiềm lực về kinh tế và sản xuất nhiều mặt như vậy cần phải có
con người lao động có văn hoá, tri thức khoa học phù hợp với yêu cầu và trình độ phát
triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Ngoài các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, lịch sử, xã hội nêu trên, việc tăng khá nhanh
dân số ở An Giang cũng như nhiều địa phương khác, tạo áp lực rất lớn về sự phát triển
trường lớp gây không ít khó khăn cho giáo dục. Dân số An Giang phân bố không đều:
đông đúc ở các thị xã, thị trấn, thưa thớt ở vùng sâu, vùng núi, vùng xa.
Đặc điểm cư
trú của cư dân An Giang là sống dọc theo tuyến: xây dựng nhà cửa ở các gờ đất ven
sông, theo bờ kênh rạch, theo các con đường giao thông …bởi vì vào mùa lũ nước
trong đồng ngập rất sâu không thể cư trú được. Đặc điểm về phân bố dân cư và cư trú
như trên ảnh hưởng lớn đến sự xây dựng mạng lưới trường lớp. Do địa hình và việc
phân bố dân cư nh
ư đã nêu trên nên việc tìm đất xây trường gặp rất nhiều khó khăn, vì
nơi đất cao thì người dân đã cất nhà ở, còn nơi đất thấp thì ngập nước không thể xây
dựng trường lớp được. Vì thế, giáo dục kết hợp với dân số, địa điểm học tập là một
trong những việc mà ngành giáo dục An Giang đã đặc biệt chú ý, nhằm thu hút và đảm
bảo cho con em nhân dân lao động đến trườ
ng mà không ảnh hưởng đến cuộc sống của
nhân dân.
An Giang có khoảng 25 dân tộc, trong đó có bốn dân tộc đông dân là người Việt,
Khmer, Hoa, Chăm. Người Khmer có khoảng trăm ngàn người, theo đạo Phật, sống
quần cư theo các phum, sóc ở vùng đồi núi thấp Thất Sơn, thuộc huyện Tịnh Biên, Tri
Tôn. Người Chăm có khoảng hai chục ngàn người phần lớn theo đạo Islam sống tập
trung ở xã Châu Phong (huyện Tân Châu), xã Phú Hiệp (huyện Phú Tân), xã Đa Ph
ước
(huyện An Phú ), xã Khánh Hòa (huyện Châu Phú)… Người Hoa cư trú tại các thị xã,
thị trấn, chuyên nghề buôn bán, phần lớn giàu có, song cũng sống hoà nhập với cộng
đồng các dân tộc anh em. Người Việt chiếm đa số, khoảng gần hai triệu người, sống rải

thương yêu, bên cạnh đó lúc nào cũng được che chở, đùm bọc, giúp đỡ nhau; ở đó có
bóng dáng của một-xã-hội-có-nhiều-người- sống-vì-người-khác.
Trước kia, bên cạnh các tôn giáo đó lại có rất nhiều “ông đạo”, ông thì nằm suốt
năm gọi là “Đạo Nằm”; ông thì chỉ ăn ớt gọi là “Đạo Ớt”; ông thì ai nói gì cũng ừ gọi là
“Đạo Ừ”…Vậy mà cũng có nhiề
u người tin theo. Ngày nay, ở An Giang hàng trăm
thầy thuốc Nam hốt thuốc trị bệnh miễn phí; lúc mới “nổi” có đến hàng ngàn lượt
người đến trị bệnh, sau đó giảm dần, thầy khác tấn lên; đã cứu giúp rất nhiều cho người
nghèo – những người không có tiền để trị bệnh bằng thuốc Tây vượt qua khốn khổ vì
đau yếu bệnh tật. Sống trong các điều kiện khắc nghiệ
t của thiên nhiên, đời sống còn
quá nhiều khó khăn cho nên người dân dễ tin vào những điều dị thường ?
Do vậy, việc giáo dục học sinh ở An Giang cũng như ở vùng đồng bào tôn giáo
trong tỉnh cần được chú trọng đến tư tưởng yêu nước, tin tưởng cách mạng, Đảng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do theo tôn giáo và không theo tôn
giáo. Chủ trương này hoàn toàn không đối kháng với nhau, bởi vì, giáo dục cung cấp
cho học sinh nh
ững kiến thức khoa học, theo mục tiêu giáo dục mà Đảng, Nhà nước đã
nêu ra, còn tôn giáo là vấn đề tâm linh của người dân. Mặt khác, giáo lý của các đạo,
như Phật giáo Hòa Hảo cũng phản ánh những yêu cầu chính đáng của đông đảo quần
chúng tín đồ, vốn là nhân dân lao động giàu lòng yêu nước, tin yêu cách mạng, Bác Hồ,
mong ước một xã hội công bằng, văn minh, tiến bộ, một đời sống ấm no, hạnh phúc.
Tuy nhiên trong công tác giáo dục ở vùng
đồng bào tôn giáo cần phải tiến hành đấu
tranh những luận điệu sai trái, xuyên tạc của bọn phản động quốc tế và trong nước,
mưu đồ gieo rắc và kích động tư tưởng chống phá cách mạng, phá vỡ sự đoàn kết dân
tộc.
Hơn 80% dân số An Giang sinh sống bằng nghề làm ruộng ở nông thôn, phần lớn
còn nghèo khổ, thiếu tri thức khoa học kỹ thuật, thiếu điều ki
ện đẩy mạnh sản xuất,

Giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục An Giang nói riêng đều phát triển trên cơ
sở tiếp thu những tinh hoa của các nền giáo dục trước
đó.
Thời Lý, Trần giáo dục đạt được những thành tựu rực rỡ, đào tạo nhiều nhân tài,
vì thế kinh tế, chính trị, văn hóa đều phát triển, đặc biệt, nước ta lúc đó trở thành một
cường quốc quân sự thể hiện ở các việc “đánh Tống, bình Chiêm”, ba lần đánh thắng
Mông Cổ - một đế quốc hùng mạnh từng “làm cỏ” châu Á, châu Âu. Người được giáo
dục lúc đó bu
ộc phải có trách nhiệm với gia đình, với tộc họ, nếu làm tốt cả gia đình,
tộc họ được vinh quang, làm tội có khi bị “tru di tam tộc”. Trong xã hội đó không có
viện dưỡng lão cho người già vì trong mỗi gia đình đều phải “dưỡng nhi đãi lão” và
luật pháp qui định là con cái bắt buộc phải nuôi dưỡng ông bà cha mẹ, nếu không sẽ bị
qui vào tội “bất hiếu”, một trong “thập ác”: tội tử hình. Thanh niên thời Trần thườ
ng
xâm ở bụng các chữ “trọng nghĩa khinh tài”, xâm ở tay chữ “Sát Thát”. Vậy, thanh niên
thời Trần đã hấp thụ quan niệm sống không phải sống-cho-riêng-mình mà sống-cho-
cộng-đồng. Nền giáo dục đó được tiếp tục dưới các thời Lê, Nguyễn nhưng hiệu quả
thấp hơn.
Thời Nguyễn, An Giang có bốn trường học, đó là: Trường học tỉnh An Giang: ở
thôn Chu Phú về phía tây tỉnh thành dựng n
ăm Thiệu Trị thứ 2; trường học phủ Tân
Thành: ở thôn Vĩnh Phúc về phía đông lị sở của phủ, dựng năm Minh Mệnh thứ 13;
trường học huyện Đông Xuyên: ở thôn Long Sơn về phía đông lị sở của huyện dựng
năm Minh Mệnh thứ 18; trường học huyện An Xuyên: ở thôn Tân Hựu về phía đông lị
sở của huyện, dựng năm Minh Mệ
nh thứ 20 (Viện Sử học, 2006). Ở tỉnh vua đặt chức
quan đốc học, giáo thụ ở phủ, huấn đạo ở huyện để giảng dạy và thúc đẩy việc học của
người dân. Bên cạnh đó là các trường tư do các nho sĩ, các “Thầy đồ xứ Nghệ” cùng
với người dân thành lập và giảng dạy.
Mục đích của sự học hành là: học chữ nghĩa, kinh sách để thi

đến hạnh phúc của người
dân.
Sách giáo khoa chủ yếu là các quyển Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ
học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn nhi, Minh tâm bảo giám, Minh Đạo gia huấn, Tam tự
kinh, Bắc sử, Nam sử… Học sinh các lớp cao “còn được nghiền ngẫm các tư tưởng
Khổng học qua Tứ thư, Ngũ kinh (Đoàn Huy Oánh, 2004). Lồng trong các sách giáo
khoa đó là nội dung giáo dục con người có những đức tính của người quân tử
: nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín, dũng, trung; đi sâu vào việc đào tạo thành người hiếu nghĩa vì “thiên kinh
vạn điển hiếu nghĩa vi tiên”.
Yểm trợ cho nền giáo dục đó là luật pháp thấm nhuần tinh thần nhân trị, theo đó,
các điều luật thường hướng đến việc trau dồi nhân cách, hướng dẫn nhân dân hành
thiện, chú trọng đặc biệt đến luân lý, bảo vệ thuần phong mỹ tục. Các tội bị xem là
“thập ác” phải bị xử phạt rất nặng là bất hiếu, bất mục, loạn luân. Những tội ác này
thuộc phạm vi luân lý nhưng bị xử phạt ngang với các tội chính trị như nổi dậy chống
chính quyền, phản quốc…Không có ranh giới rõ ràng giữa luật pháp và luân lý. Thời
đó, làm quan dù to cở nào đi nữa thì khi cha, mẹ mất phải từ quan về nhà thọ tang ba
năm, sẽ trở lại làm quan sau khi nghiêm túc th
ọ tang (phải để râu tóc, ăn uống đạm bạc,
không nhậu nhẹt say sưa, không được mặc đẹp, tuyệt dục …)
Người xưa cho rằng người bất hiếu không thể làm quan được, bởi vì người sinh
dưỡng ra mình mà mình không lo, vậy thì làm quan mình lo cho ai? Những người bất
hiếu nếu có lo cho dân cũng chỉ nhằm mục đích vụ lợi. “ Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi
đại”, nhưng nếu người vợ đ
ã thọ tang thì người chồng không được phép tìm vợ khác.
Nhà vua cũng ban các điều giáo huấn nhằm giáo dục toàn dân, trong đó nhấn mạnh đến
việc dạy dỗ người dân trở thành người sống vì gia đình, xã hội, đất nước.

8
Phụ nữ ít được đi học cộng với quan niệm “ trọng nam khinh nữ” và thuyết “tam

chịu hậu quả của“ chính sách ngu dân” mà Nguyễn Ái Quốc (1925) đã tố cáo trong
quyển “Bản án chế độ thực dân Pháp”.
Bức tranh ảm đạm về giáo dục của An Giang là một mảng trong cảnh u tối chung
của giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc: hơn 95% dân số bị mù chữ
, trường học
phần lớn dành cho con em các tầng lớp trên, các công chức cao cấp, quan lại, nhằm vào
việc đào tạo tay sai làm việc trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp; việc vào học ở các
trường trung học, cao đẳng, đại học, du học chỉ là niềm ước mơ của con em nhà nghèo.
Thời Pháp thuộc, ở An Giang chỉ có “4 trường tiểu học, đặt ở Long Xuyên, Châu
Đốc, Thốt Nốt, Chợ Mới, khoảng 42 trường s
ơ học đặt rải rác ở các nơi trong tỉnh. Tất
cả gồm hơn 200 lớp học, do 200 giáo viên giảng dạy, tổng cộng khoảng 10.000 học
sinh” (Trần Thanh Phương, 1984) Điều đó cho thấy là mạng lưới trường lớp, cấp học,
số lượng giáo viên, học sinh đều rất thấp, xuất phát từ “chính sách ngu dân triệt để” của
thực dân Pháp. Trình độ dân trí lúc đó còn rất thấp. Tuy nhiên, tình hình giáo dục kém
phát tri
ển thời Pháp thuộc không hề ảnh hưởng đến tinh thần yêu nước của nhân dân.
Cuộc đấu tranh cho quyền được học gắn với cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc; một số
người được đi học trở thành những người yêu nước chống Pháp chứ không làm tay sai
cho chúng, tiêu biểu là Tôn Đức Thắng.

9
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lại
bắt đầu trong điều kiện rất gian khổ, nhân dân Nam Bộ nói chung, nhân dân An Giang
nói riêng vẫn thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành đồng thời cuộc đấu
tranh chống “giặc dốt”, “giặc đói”, “giặc ngoại xâm”. Thực tiễn chứng minh rằng
những nhiệm vụ cấp bách mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra trong phiên h
ọp đầu tiên của
Hội đồng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (ngày 03/09/1945) đã xây dựng một
số cơ sở vững chắc cho thắng lợi của cuộc kháng chiến và kiên quốc. Bởi vì, khi được

nhị cấp học sinh học các lớp đệ tam, đệ nhị thi lấy Bằng Tú tài I còn được gọi là Bằng
Tú tài phần thứ nhất. Thi Tú tài I rất khó đậu cho nên mới có câu: “ rớt Tú Tài anh đi
trung sĩ, em ở nhà lấy Mĩ nuôi con”. Sau đó tiếp tục học lớp đệ nhất thi lấy Bằng Tú tài
II còn gọi là Bằng Tú tài toàn phần. Đề thi Tú tài II cũng thường rất khó, tỉ lệ học sinh
thi đỗ rất thấp, thi l
ần một mỗi lớp đỗ chỉ vài người, thi lần hai được thêm vài người
nữa. Do phải trải qua nhiều kỳ thi cho nên số lượng học sinh đỗ Tú tài II không nhiều.
Học sinh đỗ Tú tài II được ghi danh để học các trường Văn Khoa, Khoa Học,
Luật Khoa…chứ không phải qua thi tuyển. Đầu vào thì dễ nhưng đầu ra bị bóp chặt. Ở
các trường đó, năm thứ nhất mỗi trường có vài chục ngàn sinh viên, bị sàng lọ
c dần qua
các năm thứ hai, thứ ba để đến năm thứ tư chỉ còn lại mỗi trường vài trăm sinh viên, vì
thế chỉ là những người thực sự giỏi mới lấy được Bằng Cử nhân. Các trường phải thi
tuyển là trường sư phạm, y, dược, đào tạo kỹ sư…và để đậu vào các trường đó, thông
thường sinh viên đã phải học một hoặc vài năm
ở các đại học khác như Văn Khoa,

10
Khoa Học …cho nên những bác sĩ, kỹ sư, giáo sư (tên gọi giáo viên cấp II, III) thời đó
thường là những người rất giỏi.
Sau này, kỳ thi lấy Bằng Tiểu học chỉ dành cho người lớn tuổi. Từ năm 1968 bỏ
kỳ thi Trung học đệ nhất cấp, năm 1973 bỏ kỳ thi Tú tài phần thứ I. Năm 1974 thi Tú
tài dưới hình thức trắc nghiệm cho tất cả các môn học, tỉ lệ học sinh thi đậu lên đến gần
80%, trong khi các năm trước tỉ lệ đậu chỉ khoảng 30%.
Về sách giáo khoa. Bộ Giáo dục ngụy phát hành chương trình chuẩn để giáo viên
căn cứ vào đó mà soạn sách giáo khoa. Hầu như giáo viên nào cũng tham gia soạn và
xuất bản sách giáo khoa phù hợp với từng miền, từng vùng, với mọi trình độ vì thế học
sinh, giáo viên có nhiều lựa chọn sách giáo khoa để giảng dạy, học tập. Sách giáo khoa
cũ được tậ
n dụng: người học lớp trước trao lại cho người lớp sau. Bộ Giáo dục ngụy lúc

hàng triệu binh lính để gây ra nhiều khó khăn cho công cuộc đấu tranh giải phóng
miền Nam của nhân dân ta. Vì vậ
y, ý đồ thâm độc của Mỹ – ngụy là gây nhiều trở ngại
trong thi cử học hành để cho thanh niên chỉ còn một con đường là vào học trường sĩ
quan, hạ sĩ quan hay bị bắt quân dịch, làm bia đỡ đạn cho Mỹ.
Ở An Giang giáo dục thời kỳ Mỹ - ngụy có qui mô lớn hơn thời Pháp thuộc: số
lượng học sinh, giáo viên đông hơn, với nhiều trường tiểu học, trung học đệ nhất cấp,
đệ nhị cấp, trung học sư phạm, trung học kỹ thuật, Viện Đại học Hòa Hảo, các trường
giảng dạy theo chương trình Đài Loan, các trường tư thục, trường bán công, các trường
do các tôn giáo tổ chức (Phụng Sự, Bồ Đề, Hòa Bình..). Trình độ dân trí phần nào được

11
nâng cao lên, đào tạo được nhiều trí thức mà một bộ phận không nhỏ có tinh thần dân
tộc, được cách mạng giáo dục đã tham gia công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Song, về bản chất chế độ giáo dục thực dân mới của Mỹ - ngụy là phản động, nhồi nhét
cho thế hệ trẻ tư tưởng duy tâm, chống cộng, đi ngược lại quyền lợi dân tộc, chố
ng phá
cách mạng, phục vụ cho sự thống trị của Mỹ. Nhìn chung, bức tranh giáo dục ở thời kì
này không mấy sáng sủa. Ở các làng quê việc học thường bị gián đoạn bởi chiến tranh
xâm lược của Mỹ. Nạn mù chữ và tình trạng học sinh bỏ học diễn ra phổ biến. Nhiều tệ
nạn xã hội đưa một số thanh thiếu niên vào con đường sa ngã trụy lạc, cầm súng cho
giặ
c bắn giết đồng bào mình.
Tình trạng giáo dục này của miền Nam thời Mỹ Ngụy cũng là bức tranh chung
của giáo dục An Giang. Vì vậy, chống phá giáo dục thực dân mới của Mỹ - ngụy ở
miền Nam nói chung, An Giang nói riêng, là một mục tiêu chung của cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước.
3. Giáo dục An Giang từ năm 1975 đến năm 1986
3.1. Giáo dục An Giang trong năm 1975:
Sau ngày được hoàn toàn giải phóng 6.5.1975, nhân dân An Giang tiến hành xây

không thể thiếu được là Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng Hồ Chí Minh và Đội
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Đối với trường tư ở vùng giải phóng: hạn chế, cải

12
biến từng bước, tiến tới xóa bỏ hẳn. Từ đầu năm học 1975 – 1976 không cho phép các
tôn giáo các đoàn thể chính trị phản động, các ngoại kiều mở trường tư, không cho
phép các trường tư đào tạo giáo viên phổ thông.
Nhiệm vụ cụ thể thứ ba là “từng bước xây dựng ngành mẫu giáo”, xem ngành
mẫu giáo là một bộ phận của giáo dục phổ thông.
Nhiệm vụ cụ thể thứ tư
“xây dựng thật tốt các trường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ
và giáo viên” vì cán bộ và giáo viên là nhân tố quyết định việc phát triển và nâng cao
chất lượng giáo dục. Đó là nhiệm vụ trung tâm của sự nghiệp giáo dục. Đối với miền
Nam hiện nay nhiệm vụ này càng hết sức cấp thiết nhằm chuẩn bị cho bước phát triển
giáo dục theo qui mô lớn, cải tạo đội ngũ giáo chức cũ theo yêu c
ầu của cách mạng,
nâng cao từng bước chất lượng giáo dục.
Một số vấn đề trước mắt về tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục cần phải khẩn
trương thực hiện đó là: cải tạo cơ sở giáo dục cũ của Mỹ - ngụy; xây dựng bộ máy quản
lý giáo dục các cấp; tiến hành điều tra cơ bản về giáo dục để có cơ
sở chuẩn bị tốt cho
việc xây dựng kế hoạch giáo dục trong những năm tới; phát động phong trào quần
chúng tham gia xây dựng giáo dục.
Chỉ thị của Ban Bí thư nhấn mạnh các cấp ủy đảng cần đặt đúng vị trí của công
tác giáo dục trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của miền Nam trong giai đoạn mới,
phối hợp chặt chẽ lãnh đạo giáo dục với lãnh đạ
o kinh tế và quốc phòng, trước mắt cần
nghiên cứu và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị này. Nội dung Chỉ thị này cần
được các tỉnh ủy phổ biến đến các huyện ủy, các đảng ủy và chi ủy, các tổ chức cơ sở
đảng về các phần thuộc phạm vi trách nhiệm từng cấp

giải phóng, cán bộ cách mạng, con liệt sĩ, con gia đình có công với cách mạng, con em
nhân dân lao động được vào học ngày một đông và chiếm đại đa số trong các trường
đại h
ọc và chuyên nghiệp ở miền Nam. Giáo dục, bồi dưỡng và sử dụng các thầy giáo
do chế độ cũ để lại; tuyển chọn giáo viên miền Bắc vào Nam.
Nhiệm vụ thứ ba là “sửa đổi cơ cấu ngành học, hệ thống đào tạo ở miền Nam và
nghiên cứu gấp việc sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học và chuyên nghiệp trên
phạm vi toàn quốc”. Cải tạ
o về cơ bản các ngành khoa học xã hội trước khi mở lại các
khoa luật, văn, triết…Các sinh viên học luật, văn, triết cho chuyển sang học sư phạm,
kĩ thuật, kinh tế. Mở rộng qui mô đào tạo các ngành sư phạm, y, dược, công nghiệp,
nông nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, kinh tế, v.v. Năm
học 1975 – 1976 chưa tuyển sinh các ngành khoa học xã hội. Tạm thời duy trì bảy Viện
Đại học công ở Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài Gòn, Thủ Đức, Mỹ Tho, Cần Thơ và
các trường chuyên nghiệp hiện có và tổ chức tuyển sinh cho năm học 1975 – 1976 .
Nhiệm vụ thứ tư là “sửa đổi chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo” dựa
theo chương trình, nội dung giảng dạy ở các trường đại học và trung học chuyên nghiệp
miền Bắc, đặc biệt chú trọng các môn khoa học xã hội, sao cho phù hợ
p với phương
hướng tiến lên thống nhất dần dần với hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Thực hiện từng bước nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục trong
nhà trường kết hợp với giáo dục ngoài xã hội. Thông qua lao động và hoạt động xã hội
để rèn luyện và nâng cao giác ngộ chính trị cho thầy và trò.
Nhiệm vụ thứ n
ăm là thực hiện một số chính sách về việc sử dụng lại thầy giáo
cũ, về tuyển sinh, việc sử dụng học sinh tốt nghiệp, học phí, học bổng, không cho phép
tồn tại chế độ trường tư ở cấp đại học và trung học chuyên nghiệp, đối với các trường
tư chuyên dạy nghề, nếu có đủ điều kiện, thì tạm thời cho phép mở nh
ưng phải chịu chế
độ quản lý của Nhà nước.

ắp làng quê nghèo. Chưa có điện, dưới ánh đèn dầu, đêm
đêm vang tiếng đọc bài của những người lao động hiếu học. Cán bộ, giáo viên thực
hiện qui chế “một hội đồng hai nhiệm vụ”; theo đó, ngoài việc dạy ở trường phổ thông,
giáo viên còn có nhiệm vụ quan trọng là tham gia xoá mù chữ, bổ túc văn hoá cho nhân
dân, cán bộ.
Trong năm 1975 sau ngày giải phóng, cả tỉnh dâng lên phong trào học tập rất sôi
nổi, vui vẻ, sinh
động của học sinh, cũng như học viên các lớp xóa mù, bổ túc văn hóa.
Cả người dạy lẫn người học hăng hái thực hiện nhiệm vụ của mình. Điều này có thể
giải thích rằng, sau khi thoát khỏi ách thống trị của Mỹ - ngụy, được hưởng độc lập tự
do, mọi người ai cũng muốn muốn biết chữ để trí óc được mở mang, để thật s
ự làm chủ
quê hương, đất nước. Nhiều gương sáng của học sinh phổ thông, học viên các lớp xóa
mù, bổ túc văn hoá, của thầy, cô giáo các cấp, các loại trường đã nẩy sinh và phát
triển.Ví như ở huyện Tân Châu cán bộ Bình dân học vụ rất nhiệt tình giảng dạy, vì họ
nghĩ rằng: Ta đã đánh thắng “giặc ngoại xâm”, “giặc đói” bây giờ còn “giặc dốt” phải
tiêu diệt. Nạn d
ốt là giặc, là đối tượng bị tiêu diệt, vì nó cản lại “bánh xe lịch sử”. Do
nhiệt tình của giáo viên mà học viên rủ nhau đi học rất đông. Chính quyền cơ sở thông
báo đối tượng chiêu sinh từ “6 tuổi đến 60 tuổi”, nên người già, trẻ, lớn, bé, cả làng đi
học, không đủ chỗ ngồi. Cán bộ Bình dân học vụ phải sắp xếp lại cho người già, phụ nữ
có con nhỏ, người bệ
nh học các lớp sau.
Một yêu cầu quan trọng sau ngày miền Nam được giải phóng là phải xóa bỏ triệt
để hệ thống giáo dục Mỹ - ngụy, thống nhất hệ thống giáo dục cách mạng ở miền Nam
vừa được giải phóng. Thời Mỹ - ngụy hệ thống giáo dục 12 năm. Từ lớp đệ tam đến lớp
đệ nhất, học sinh được chọn theo các ban A,B,C. Hệ thống giáo dục mới 12 n
ăm, cũng
có phân ban, nhưng có nhiều điểm khác trước về mục tiêu đào tạo, về nội dung và
phương pháp dạy học.

của Tỉnh uỷ và Uỷ ban Nhân dân An Giang.
3.2. Giáo d
ục An Giang giai đoạn 1976 – 1981
Đại hội lần thứ IV của Đảng (1976) chỉ rõ đường lối xây dựng nền giáo dục theo
những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa mà bước đầu cũng đã thực hiện có kết quả trong
thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đó là các nguyên lý giáo dục: “học đi đôi
với hành, nhà trường gắn với xã hội”, thực hiện “ dạy tốt học tố
t” trong điều kiện đất
nước có chiến tranh. Khi cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, giáo dục ra
sức thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ “ Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con
người xã hội chủ nghĩa”.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IV(1976) chỉ rõ là cần phải: “ Nhiệm
vụ đặc biệ
t quan trọng là tiến hành một cuộc cải cách giáo dục rộng lớn trong cả nước,
làm cho hệ thống giáo dục quốc dân gắn chặt hơn nữa với cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu của cải cách giáo dục là đào tạo có chất lượng những người lao động mới có ý
thức và đạo đức xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hóa phổ thông và hiểu biết kĩ thuật,
có k
ĩ năng lao động cần thiết, có óc thẩm mĩ, có sức khỏe tốt; trên cơ sở đó, đào tạo và
bồi dưỡng với qui mô ngày lớn đội ngũ công nhân kĩ thuật và cán bộ quản lý, cán bộ
khoa học, kĩ thuật và nghiệp vụ, cân đối và đồng bộ về ngành nghề và về trình độ, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế và văn hóa của nước nhà.
Cải cách giáo dục phải làm cho giáo d
ục thấu suốt hơn nữa những nguyên lý học
đi đôi với hành,, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với lao động
sản xuất, nhà trường gắn với xã hội cần nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung
giáo dục: hiện đại hóa chương trình học tập khoa học và kĩ thuật, mở rộng kiến thức
quản lý kinh tế; tăng c
ường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của
Đảng và đạo đức cách mạng, bồi dưỡng kỹ năng lao động sản xuất và năng lực nghiên

dưỡng đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa, đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật, nghiệp vụ
và quản lý phù hợp với quy ho
ạch phát triển kinh tế và văn hóa của đất nước, vừa có
phẩm chất chính trị tốt, vừa có trình độ chuyên môn giỏi, đủ sức giải quyết những vấn
đề khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế, quản lý nhà nước do thực tiển nước ta đề ra.
Cần sắp xếp lại, từng bước mở rộng và hoàn chỉnh mạng lưới các trường đại học,
cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong cả nước tích cực xây dựng hệ thống đào tạo
và bồi dưỡng tại với nhiều hình thức học tập, bảo đảm cho mọi người lao động đều có
thể suốt đời học tập, trau dồi nghề nghiệp, mở rộng kiến thức. Kết hợp tốt giảng dạy
học tập với lao động sản xuất và nghiên cứu, thực nghiệm khoa h
ọc, kỹ thuật.
Các trường dạy nghề có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng một đội ngũ công nhân kỹ
thuật và lao động đông đảo, đồng bộ về ngành nghề, có phẩm chất chính trị tốt, có trình
độ tay nghề giỏi, có sức khỏe. Các trường dạy nghề cần được phát triển theo quy mô
lớn, ở trung ương và các địa phương. Sớm xây dựng quy hoạch dài hạn về
đào tạo công
nhân, tích cực nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng việc đào tạo và bồi dưỡng giáo
viên dạy nghề. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật cần thiết cho các trường
dạy nghề, tranh thủ sử dụng hợp lý những thiết bị sẵn có của các cơ sở sản xuất và công
tác đào tạo.
Để thực hiện tố
t những nhiệm vụ trên đây, các ngành giáo dục phổ thông, giáo
dục đại học và giáo dục chuyên nghiệp cần tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “dạy
tốt,, học tốt” theo gương các điển hình tiên tiến. mỗi ngành phải ra sức xây dựng và
phát triển những điển hình tiên tiến của ngành mình phát động và tổ chức giáo viên,
học sinh và nhân viên phục vụ tự giác làm chủ tập thể sự nghiệp giáo dục
ở từng đơn

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status