Lịch sử giáo dục VN - Pdf 14


Chính trị, kinh tế, quốc phòng đương nhiên là ba vấn đề trọng yếu, nhưng
giáo dục lại căn bản và trọng yếu hơn vì muốn xây dựng, muốn chiến đấu thì trước
hết phải biết đã.
Nuôi con chẳng dạy chẳng răn
Thà nuôi lợn béo mà ăn bộ lòng
Người nông dân mộc mạc nơi điền dã mà còn đặt nặng vấn đề giáo dục đến thế
huống hồ một quốc gia.
“Đứa bé sinh ra đời phải được giao cho quốc gia và quốc gia sẽ nuôi nó
trong một cơ quan chuyên giữ nhiệm vụ giáo dục. Đứa bé không cần phải biết cha
mẹ nó là ai, nó chỉ biết nó là công dân của quốc gia mà thôi”. Đó là lí tưởng quốc
về giáo dục của xã hôi Hy Lạp – La Mã cổ đại phương Tây.
Một triết gia khác của Đức đã nói: “Giáo dục có thông qua quốc gia mới
thành giáo dục, một dân tộc chỉ sau khi đã qua giáo dục quốc gia mới thành dân tộc
đầy đủ sinh lực”.
Muốn hiểu thấy ý nghĩa của dân tộc tinh thần thì phải tìm về lịch sử. Nội dung xã
hội dân tộc có: ngôn ngữ, đạo đức, chính trị, kinh tế, nghệ thuật và niềm tin, tất cả
thường được gọi chung là tài sản văn hóa truyền từ đời nọ sang đời kia và không
ngừng phát triển.
Quá trình phát triển hay lịch sử đã đào tạo cho mỗi dân tộc một cộng đồng
tri thức tình tự, ý chí, hành động truyền thống. Bởi thế, hoạt động giáo dục chỉ có
giá trị chân thực khi nó được đặt vào cơ sở dân tộc xã hội.
Lịch sử là do sự đối lập giữa dân tộc này đối với dân tộc khác hoặc do sự
xung đột gây nên bởi tình trạng bất bình hành giữa các thế lực nội bộ của dân tộc.
Bởi thế, hoạt động giáo dục chỉ có giá trị thực tiễn khi nó được đặt vào một trong
hai đấu tranh đó.
Giáo dục Tây phương ngày nay có ba đại loại:
Tôn giáo giáo dục
Quốc gia giáo dục
Cá nhân tự do giáo dục
Tuy trên lịch sử ba loại giáo dục này chống đối thay thế nhau nhưng trên thực tế,

chùa. Qua năm Sùng Hưng đại bảo thứ hai lại dựng lên chùa Diên Hựu và cho sư
vào tụng kinh. Rồi năm Long Thụy thứ ba lại cất ngôi chùa ở phường Báo Thiên
và xây lại một ngọn tháp 12 tầng cao vài chục trượng và phát hai vạn cân đồng đúc
một quả chuông.
Đối với Phật giáo thì như thế, đối với Nho giáo nhà Lý chỉ có một lần xây
Văn Miếu, đúc tượng Chu Công và vẽ tượng 72 học trò của Khổng Tử rồi bắt thờ
cúng quanh năm và bắt Thái Tử tới đó mà học.
Trải qua nhiều triều đại phong kiến tiếp theo trong lịch sử dân tộc nước nhà
thì nền giáo dục không ngừng được cải thiện nâng tầm chất lượng, các kì thi tuyển
chọn nhân tài cho đất được cũng thay đổi ít nhiều. Bên cạnh những cuộc cải cách
canh tân đất nước như của Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Quang Trung thì nên giáo
dục cũng được cải cách cho phù hợp vs sự phát triển của triều đại.
Đặc điểm chung của nền giáo dục Việt Nam dưới thời phong kiến là nền
giáo dục Nho học ăn sâu thấm nhuần vào tư tưởng thư sinh và văn hóa Đại Việt.
Như thế, ta đã biết nền giáo dục Nho học đã xuất hiện và phát triển trên đất
nước ta cũng được khoảng 1 ngàn năm.
Mãi cho tới khi thực dân Pháp đô hộ nước ta cùng với những cải cách thì
nên giáo dục Nho học dần bị xóa bỏ mà thay vào đó là nên giáo dục hiện đại
phương Tây.
 !!"#
$%&'#
()*+,-!(./-012-34,5678*-79*:;<=1)*;-:(>?/:@=-+>?-
AB><9>AC:-79*:;.
()*+,-!(./-012-34,5678*-79*:;
Tiếng súng kháng chiến của dân tộc ta bắt đầu từ mặt trận Đà Nẵng. Sáng
sớm 1/9/1858 chiến thuyền quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công của biển
Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.Thực dân Pháp chọn Đà
Nẵng làm địa điểm tấn công đầu tiên vì Đà Nẵng có vị trí quân sự quan trọng, hải
cảng rộng và sâu, thuận tiện cho tàu chiến triển khai. Hơn nữa Đà Nẵng là cổ họng
của Huế, dùng Đà Nẵng làm bàn đạp đánh kinh thành Huế, nếu chiếm được Đà

tỉnh miền tây.
Ngay sau đó phong trào nhân dân kháng chiến chống Pháp dấy lên mạnh
mẽ. tiêu biểu: khởi nghĩa Phan Tam – Phan Ngũ, khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực,
khởi nghĩa Long Trì khiến cho quan pháp khiếp sợ. Nhưng do triều dình cố tình
bỏ rơi, ngăn cản, thậm trí còn tiếp tay cho Pháp nên lần lượt các cuộc khởi nghĩa
thất bại.
11/1873 vừa đặt chân đến hà nội gácnie cho quân nổ súng thị uy. 9/11 gửi
tối hậu thư đòi nộp thành nhưng bị cự tuyệt. Sáng 20/11 gácnie hạ lệnh nổ súng tấn
công thành hà nội. thừa cơ triều đình Huế tự hãm mình trong thế bị động , pháp
đánh các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Phủ Lý, Ninh Bình, Nam Định trong vòng
một tháng. Nhưng quân dân Hà Nội và miền Bắc đứng lên tự động võ trang, tiến
hành hoạt động đốt phá
Ngày 15/3/1874 tại Sài Gòn, một điều ước lại được ký với những điều khoản
bất lợi cho ta. Triều đình Huế chính thức thừa nhận chủ quyền của pháp ở cả 6 tỉnh
Nam kỳ, nền ngoại giao Việt Vam lệ thuộc vào Pháp điều ước này đánh dấu sự
phẫn nộ của nhân dân đới với triều đình nhà Nguyễn.
Pháp chiếm được Nam kỳ nhưng chúng muốn chiếm cả Việt Nam. Tháng
3/1882 viện cớ triều đình huế vi phạm điều ước 1874. Pháp mang quân ra bắc.
Sáng 25/4/1882 Rivie gửi tối hậu thư cho Hòang Diệu. Hạn trả lời chưa hết, chúng
đã nổ súng tấn công, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Chiếm được thành Hà Nội lần
hai, triều đình nhà Nguyễn lại tự hãm mình vào thế bị động.
Sáng 18/8/1883 hạm đội Pháp tiến vào cửa biển Thuận An, đưa tối hậu thư
buộc triều đình giao tất cả các pháo đài phòng thủ bờ biển cho chúng. Quân ta
kháng cự quyết liệt, tới chiều 20 quân Pháp mới đổ bộ được lên Thuận An được tin
mất Thuận An. Triều đình nhà Nguyễn xin đình chiến. Và kí vào hiệp ước
Hắcmăng ngày 25/8/1883. Điều ước Hắcmăng là sự phản bội tệ hại nhất của triều
đình Nguyễn đối với nhân dân ta nên nhân dân phán đối quyết liệt.
Trên đà thắng thế, chính phủ Pháp cử Patơnốt đến huế ép triều đình kí vào
điều ước mới 6/6/1884( điều ước Patơnốt).
)*;-:(>?/<=AD(E*F;:()*+,-!(./<9>-79*:;

Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa
tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề
thống trị.
Văn hóa, giáo dục chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa “ngu dân”,
gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi
phong bại tục hòng kìm chế dân ta trong cảnh ngu dốt để dễ bề cai trị, bóc
lột.
Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng xây dựng
nhà tù nhiều hơn trường học. Nếu có chăng nữa cũng chỉ là những cơ sở đào
tạo ra đội ngũ tay sai cho chính quyền thực dân và những công nhân lành
nghề phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa.
Những chính sách giáo dục của pháp mang tính thực dân. Chúng mở một số
trường quốc ngữ, chữ pháp để dạy kiên thức phổ thông, một số trường dạy
nghề, trường y, trường sư phạm chúng cố gắng thay thế suự ảnh hưởng của
hán học bằng thiêt lập nền giáo dục tây phương để đào tạo ra lớp công
chức, nhân viên cần thiết cho bộ máy chính trị, kinh tế thực dân.
• Chính trị:
Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ
quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn. Chúng
tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề.Thực dân Pháp
tiếp tục củng cố bộ máy chuyên chế, tập trung toàn bộ quyền lực vào tay người
Pháp. Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng giai cấp phong kiến Việt Nam làm công cụ
đắc lực phục vụ những mục tiêu do chúng đưa ra.
Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các
cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu.
Thực dân pháp sử dụng chính sách “Chia để trị” một cách toàn diện hòng
làm suy giảm sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta, ngăn chặn sức mạnh đấu tranh của
nhân dân ta. Chúng chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng
(Chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ, chế độ bảo hộ ở Trung Kỳ và chế độ nửa bảo hộ ở
Bắc Kỳ), nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra Liên bang

công nhân viên chức làm việc trong các cống cở và sở tư, những nhà tri thức, nhà
văn, nhà báo, sinh viên , học sinh.
Chính sách kinh tế, cuộc khai thác thuộc địa thứ nhất đã làm cho Kinh tế
việt nam có những chuyển biến. đồng thời, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai
cấp trong xã hội việt nam trở nên gay gắt.
Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ
đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Trong đó đặc biệt
là sự ra đời hai giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Các giai cấp, tầng
lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người bị mất nước và ở
những mức độ khác nhau, đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã
hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai
cấp địa chủ phong kiến, đã nẩy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu và ngày
càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt
Nam với thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho nhân dân, tự do cho nhân dân;
hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành lại dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng
đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng
đầu.
G>.@+H*>?:;5:IJ(>!(./4,5678*:9>*KB>:(LJM%%
Năm Nhâm Tuất 1862 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm 3 tỉnh
Gia Định, Định Tường và Biên Hòa. Năm Đinh Mão 1867 Pháp chiếm ba tỉnh
miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Hòa ước năm Giáp Tuất
1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ. Nam Kỳ trở
thành thuộc địa (colonie) của Pháp.
Hai hòa ước năm Quí Mùi 1883 và Patenôtre năm Giáp Thân 1884 công
nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở
thành đất bảo hộ (protectorat) của Pháp. Ở miền Bắc, trên danh nghĩa, triều đình
Huế còn quyền hành nhưng trên thực tế mọi việc do người Pháp điều khiển. Trung
Kỳ do triều đình Huế cai trị nhưng được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Pháp.
Khi đô hộ Việt Nam, nhu cầu cấp bách của người Pháp là phải hủy diệt nền
Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho guồng máy cai trị.

Franco-Indigène), thường được gọi là Giáo Dục Pháp-Việt. Trong nền giáo dục
này tiếng Pháp là chuyển ngữ tức tiếng Pháp được dùng để trao đổi trong lớp học
(giảng bài, làm bài, sách giáo khoa viết bằng tiếng Pháp). Riêng ba lớp tiểu học
đầu là được dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, sau đó tiếng Việt được học như một
ngoại ngữ. Ngoại ngữ thứ hai thường là tiếng Anh ở bậc Tú Tài. Chữ Hán được
học theo tự nguyện. một tuần một giờ ở các lớp trên của bậc tiểu học nếu có thày
dạy.
Để điều hành, Pháp thiết lập tại mỗi kỳ một Sở Giáo Dục Cho Người Bản Xứ
(Service de L'Enseignement Local) do một Chánh Sở (Chef de Service) người
Pháp đứng đầu. Các cơ sở giáo dục này đặt trực thuộc tòa Khâm Sứ. Mọi sự bổ
nhiệm, thuyên chuyển, thăng thưởng, kỷ luật các giáo chức từ bậc tiểu học trở lên
đều phải do khâm Sứ quyết định. Khi Pháp thành lập liên bang Đông Dương (gồm
Bắc, Trung, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào), một số việc phải được Toàn Quyền Đông
Dương (Gouverneur de l'Indochine) chuẩn y. Nha Học Chính Đông Pháp
(Direction de l'Instruction Publique de l'Indochine) ra đời do một Giám Đốc người
Pháp chỉ đạo trực tiếp 5 sở giáo dục của liên bang Đông Dương.
N(O-3AP-3(Q<=4K(79-3*R>*.*(*F;*.*1S/(KTUK-79*
Sự nhu nhược, bả thủ của triều đình phong kiến đã lỗi thời.Nguồn nhân lực
tài chính bị cạn kiệt do chiến tranh.
Chế độ phong kiến và những hệ tư tưởng của nó đã tồn tại hàng ngàn năm
ở Việt Nam, không dễ gì thay đổi.
Các bản điều trần còn bộc lộ ít nhiều hạn chế, chưa suy xét đến tình hình
nước ta thời bấy giờ, thiếu tính khả thi, mang tính cá nhân, xa rời nhân dân.
Tình hình xã hội rối ren, không ổn định, giữa triều đình và nhân dân không
có tiếng nói chung, tình đoàn kết dân tộc bị rạn nứt.
Chưa giải quyết được hai mâu thuẫn hàng đầu của xã hội bấy giờ : Đó là
mâu thuẫn giữa nhân dân Việt nam và thực dân Pháp, giữa nông dân và địa chủ
phong kiến.
Chính những nguyên nhân đó đã làm cho các sĩ phu yêu nước thời bấy giờ
nhận thức rõ được tình hình nguy cấp của đât nước là phải cải cảnh về mọi mặt và

Trạch, phong trào Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thúc với các nhân vật
tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh
Công cuộc mục đích các cuộc cải cách của các sĩ phu yêu nước là mong đất
nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, yếu kém, thoát khỏi sự đô hộ của thực dân
Pháp, cải thiện hệ thống giáo dục nước nhà, nâng cao trình độ dân trí để đấu tranh.
Đặc điểm chung của các cuộc cải cách do các văn thân sĩ phu yêu nước là
đều hướng tới là cải cách nên giáo dục, phong trào đưa học sinh xuất ngoại mà
chủ yếu là Nhật Bản để học tập công cuộc cải cách của họ về giúp đất nước.
Những cuộc cải cách của họ đều không thể thực hiện được một phần do chính sách
bảo thủ của triều đình nhà Nguyễn vì lợi ích dòng họ đặt lên trên lợi ích dân tộc,
một phần do bị thục dân Pháp đan áp nên những cải cách không thực hiện được.
Đánh giá những đề nghị cải cách về giáo dục của Nguyễn Trường Tộ và
các văn thân sĩ phu yêu nước ta đều thấy được lòng yêu nước nồng nàn của họ, biết
lo cho vân mệnh của dân tộc, cái nhìn thực tế sâu sắc, bộ óc tinh thông sáng suốt,
những suy nghĩ thông minh tiên tiến, nghị lực và dũng khí phi thường, dám nói,
dám làm của họ trước chế độ bảo thủ nhà Nguyễn và bọn xâm lược thực dân Pháp.
Nhìn lại những cải cách về giáo dục của họ, chúng ta sẽ rút ra được những bào học
bổ ích cho sự nghiệp cải cách giáo dục mà chúng ta đang tiến hành và điều chỉnh
để nhanh chóng góp phần đổi mới đất nước.
$VWXY&!!

KE**R>*.*(3>.@+H*6Z-:([\]^_
Sau khi chiếm xong Nam Kỳ (1867), người Pháp xác lập quyền thống trị của
mình, biến Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp - xứ Đông Pháp. Đứng đầu Nam Kỳ
thuộc Pháp là Thống đốc Nam Kỳ và bên dưới là các chủ tỉnh người Pháp để tiến
hành cai trị thuộc địa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Người Pháp thấy
rất rõ tầm quan trọng của giáo dục nên, ngay “sau khi người lính đã hoàn thành sự
nghiệp của mình thì đến lượt người giáo viên thực hiện sự nghiệp của họ”, đã tiến
hành áp dụng nền giáo dục phương Tây vào Việt Nam. Đứng trước tình hình giáo
dục Nho học đã tồn tại và trở thành hình thức giáo dục chính của Việt Nam hơn

Pháp và chữ Quốc ngữ, chữ Hán hầu như bị bãi bỏ. Bên cạnh đó, còn có các trường
trung học được thực dân Pháp mở về sau như Chasseloup Laubat, Adran,…
Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ số trường dạy Pháp ngữ và Quốc ngữ rất ít và chủ
yếu là để đào tạo các thông dịch viên và một số viên chức trình độ thấp; riêng ở
Trung Kỳ, chữ Hán vẫn được xem là ngôn ngữ giảng dạy chính trong các trường
học.
Thứ hai, sau khi bình định và đưa chính trị đi vào ổn định, cần phải có một
đội ngũ công nhân và cán bộ kỹ thuật có trình độ cao hơn để phục vụ cho công
cuộc khai thác kinh tế của thực dân Pháp. Và cũng cần phải có một chế độ giáo dục
phù hợp đối với một đất nước có nền văn hóa phương Đông lâu đời như Việt Nam
tiếp xúc được với nền văn hóa phương Tây còn xa lạ.
Thứ ba, Giáo dục Pháp – Việt không áp đảo nổi nền giáo dục chữ Hán,
ngược lại còn đi ngược với ý muốn của họ “vì những gánh nặng về tài chính ngày
càng gia tăng ở các làng xã nên số lớn trường công (trường Pháp – Việt) ngày càng
biến đi mà những trường tư (trường dạy chữ Hán của các thầy đồ) lại phát triển.
Nếu như những trường tư phát triển thì họ không thể kiểm soát được công cuộc
“chinh phục tinh thần” để phục vụ cho việc khai thác thuộc địa”. Chưa kể các nho
sỹ dùng nghề dạy học để tuyên truyền tinh thần yêu nước trong nhân dân.
Thứ tư, không cải cách giáo dục sẽ không điều hòa được những mâu thuẫn
giữa những người học trường Pháp – Việt (tân học) là những người cũng có công
trong việc truyền bá tư tưởng văn hóa mới vào Việt Nam so với phái cựu học,
những người sau khi đỗ đạt sẽ ra làm quan, và con đường công danh dường như
vẫn còn rộng mở hơn so với những người theo lối học mới: “chúng tôi vẫn là
những người thấp kém về mặt xã hội đối với những nho sỹ hạng thấp nhất”.
Ngoài ra, các nước như Trung Quốc và Nhật Bản đã tiến hành cải cách giáo
dục truyền thống sang một nền giáo dục mới. Do đó, “Người Annam với sự tiếp
xúc với người Pháp đã làm quen với những phát minh hiện đại mà họ đã xác nhận
một cách công khai những tiến bộ đó cũng đòi hỏi phải có một nền giáo dục thích
hợp hơn với thời đại của họ”.
E>+K-3*R>*.*(

đưa tiếng Pháp phổ cập vào giáo dục. Cuộc cải cách được tiến hành trên các
trường, các cấp học; bao gồm:
Hệ thống các trường Việt truyền thống.
Hệ thống trường Pháp – Việt.
Hệ thống các trường chuyên nghiệp.

• 
Bậc ấu học có ba loại trường. Trường 1 năm hoặc dưới 1 năm cho những
làng xa xôi hẻo lánh nên chỉ dạy chữ Quốc ngữ, không dạy chữ Hán và chữ Pháp;
trường 2 năm dạy chữ Quốc ngữ và chữ Hán; trường 3 năm dạy cả ba loại chữ
Hán, Pháp và Quốc ngữ
Để mở được trường Ấu học, yêu cầu mỗi làng phải có 60 trẻ nam độ tuổi từ
6 đến 12 tham gia học với một giáo viên phụ trách; nếu một làng không có đủ 60
trẻ nam tham gia học thì gộp lại chung với các làng khác để mở trường. Trường ấu
học sẽ do làng xã quản lý và mọi chi phí cho việc duy trì sự tồn tại của trường cũng
do ngân sách của làng xã chi trả.
Các trường Ấu học cũng thường xuyên được kiểm tra bởi các giáo thụ, huấn
đạo, Đốc học, tri phủ hay tri huyện hoặc của nhân viên sở giáo dục.
Giáo dục bậc Ấu học bao gồm 2 phần: Tiếng Việt và tiếng Hán. Học sinh có
thể lựa chọn học tiếng Việt hoặc tiếng Hán.
Ở phần tiếng Hán, chương trình chủ yếu tập trung dạy tiếng Hán, các bài học
về đạo đức, lịch sử, dịa dư Việt Nam bằng tiếng Hán.
Phần tiếng Việt chủ yếu dạy chữ Latinh, các kiến thức căn bản về Đông
Dương, hành chánh, phong tục tập quán, toán học,…
Để kết thúc chương trình bậc Ấu học, học sinh phải trải qua một kỳ thi gọi là
“hạch tuyển”, nếu đậu sẽ được cấp bằng “tuyển sinh”.
Đối với mỗi giáo viên giảng dạy trong bậc Ấu học yêu cầu phải biết chữ
Quốc ngữ, nếu không sẽ không được giảng dạy. Chữ Quốc ngữ cho giáo viên
được chính quyền tổ chức dạy tại trung tâm mỗi tỉnh.
• 

Phần học tiếng Pháp sẽ do các giáo viên trường Pháp – Việt phụ trách.
Chương trình học tiếng Hán bao gồm các môn về đạo đức, văn học cổ điển,
lịch sử và hành chánh Việt Nam.
Chương trình học tiếng Việt bao gồm các môn học về lịch sử, địa lý và khoa
học tự nhiên.
Chương trình bằng tiếng Pháp bao gồm các bài học cơ bản về tiếng Pháp.
Để kết thúc khóa học, học sinh phải trải qua kỳ thi “sát hạch” (chỉ những
người nào đã có bằng khóa sinh và dưới 30 tuổi mới được dự thi) và người đậu sẽ
được cấp bằng “thí sinh” và được tham dự vào kỳ thi Hương.
• 
Thi Hương được tổ chức cùng lúc trong các thành phố lớn và được duy trì
đến năm 1918. Các thí sinh đã đỗ kỳ sát hạch được phép tham dự kỳ thi này.
Chương trình thi bao gồm:
Một bài viết bằng tiếng Hán bao gồm 5 chủ đề: Đạo đức; văn học hoặc triết
học; lịch sử, địa lý Trung Hoa, Việt Nam; hành chánh và luật pháp Đông Dương
Một bài viết bằng tiếng Việt gồm 3 chủ đề: làm văn; lịch sử, địa lý và khoa
học tự nhiên.
Một bài viết bằng tiếng Pháp gồm 2 chủ để: Một bài dịch từ tiếng Hán sang
tiếng Pháp và một bài dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt.
Một bài tổng kết gồm 3 chủ đề: 1 bài viết tiếng Hán, 1 bài viết tiếng Việt, 1
bài dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Hán.
Dựa vào kết quả thi, các thí sinh sẽ nhận bằng “cử nhân” hoặc “tú tài”. Cử
nhân và tú tài sẽ được miễn sưu dịch suốt đời.
 !
Giáo dục Pháp – Việt là một kiểu giáo dục tổng hợp mà không cần tiền từ
ngân sách, nó thu hút tất cả giáo viên trường Nho giáo học chữ Quốc ngữ, các Đốc
học phải theo những chỉ dẫn từ các trường Pháp. Nền giáo dục sẽ gồm những bằng
cấp, những kỳ thi và ban giám khảo như trước. Chúng ta sẽ bổ sung thêm, chẳng
hạn trong các kỳ thi Đại khoa sẽ có thêm tiếng Pháp, ban giám khảo sẽ có người
Pháp trực thộc nhân sự của học chính Đông Dương. Bằng cấp cho những người đỗ

phút
30 phút 23 giờ 30
phút
Lớp ba 5 giờ 15
phút
30 phút 22 giờ
Lớp nhì 3 giờ 45
phút
30 phút 23 giờ 30
phút
Lớp nhất 3 giờ 45
phút
2 giờ 22 giờ
Môn tiếng Pháp, chương trình chú trọng dạy cho học sinh ngay từ lớp tư khi
mới bước vào lớp.
Tập
đọc
Từ
vựng
Làm
văn
Thuộc
lòng
Lớp tư 7 giờ 4 giờ 45
phút
30
phút
Lớp ba 4 giờ 3 giờ 2 giờ 30
phút
Lớp

Giáo dục kỹ thuật công nghiệp bản xứ (thường gọi là các ngành nghề
công nghiệp mới): đào tạo công nhân cho các ngành nghề gốm sứ, dệt may, thuộc
da,… học sinh phải trải qua từ 2 đến 3 năm học trở lên và sẽ được đào tạo thành
những công nhân lành nghề trong các xí nghiệp.
Các xí nghiệp gia đình: dạy nghề cho các công nhân đến học để nâng
cao tay nghề.
Nghề thủ công truyền thống bản địa: khôi phục lại nghệ thuật truuyền
thống của địa phương. Chủ yếu là trang trí đồ sứ, điêu khắc gỗ, làm đồ gốm.
Chương trình học chủ yếu là thực hành và được giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ
là chủ yếu. Chương trình học cũng được nghiên cứu cụ thể đối với từng đối tượng
học. Đối với học sinh học ngành công nghiệp châu Âu thì học một số lý thuyết, vẽ
kỹ thuật và hình học. Đối với học sinh học nghề truyền thống bản địa thì tập trung
vào từng nghề và nâng cao năng khiếu nghề nghiệp.
• *
Các trường nữ được mở ra do phong trào đấu tranh chống lại định kiến xã
hội và đòi quyền được đến trường của nữ giới những năm 1906 – 1907. Trường
được duy trì từ nguồn đóng góp của cộng đồng dân cư sống ở thuộc địa và chính
quốc.
Trường dành cho nữ sinh bao gồm ba loại:
Trường sơ học: học chung với nam.
Trường tiểu học: tổ chức tại các tỉnh lỵ do các nữ giáo viên người Pháp phụ
trách.
Trường cao đẳng tiểu học: tổ chức tại thủ phủ các xứ (thành phố lớn trong
xứ) để đào tạo nữ giáo viên.
Chương trình học trong các trường nữ chủ yếu là thực hành, bao gồm một
chương trình chung dạy bằng tiếng mẹ đẻ (tập đọc, tập viết, làm toán và vệ sinh) và
một chương trình thực hành bao gồm các môn gia chánh và những nghề thủ công
chỉ dành riêng cho nữ (thêu, đan, may vá, làm bánh,…). Trong các trường tiểu học,
tiếng Pháp là tự nguyện, còn trong các trường cao đẳng tiểu học đó là ngôn ngữ bắt
buộc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status