Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn - Pdf 28

SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
ĐỀ TÀI
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP MỘT
GIẢI TỐT CÁC BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN
LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm “Biện pháp giúp học
sinh lớp Một giải tốt các bài toán có lời văn”. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới Ban giám hiệu cùng tập thể cán bộ giáo viên và các em học sinh trường Tiểu học
nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn
thành sáng kiến kinh nghiệm này.
Trong thời gian ngắn và phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp, mặc dù đã có nhiều
cố gắng song sáng kiến kinh nghiệm không tránh khỏi thiếu sót. Tôi mong nhận được
những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn, bổ sung của các thầy cô giáo, của các bạn đồng
nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm ngày một hoàn thiện và đưa vào ứng dụng đạt kết
quả cao ở các nhà trường Tiểu học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
1
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
PHẦN MỞ ĐẦU
1 – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Theo Luật phổ cập giáo dục Tiểu học “Giáo dục Tiểu học là bậc học nền
tảng của hệ thống giáo dục quốc dân có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình
cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất của trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban
đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam XHCN”
Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt
trong nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học . Các kiến thức kĩ năng
của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần cho
người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên.
Môn toán giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng và hình dạng
không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có nhận thức cơ bản về
thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống. Môn

một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy giải toán có lời văn trong môn toán
cho học sinh lớp 1 của nhà trường.
Nghiên cứu đề xuất một số kinh nghiệm có hiệu quả khi dạy phần giải toán
có lời văn” trong môn toán cho học sinh lớp 1
3 - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung chủ yếu vào nội dung và các
biện pháp nâng cao chất lượng dạy giải toán có lời văn trong môn toán cho học
sinh lớp 1.
4 – NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Trong phạm vi đề tài này tôi đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề về dạy giải toán có lời văn trong môn toán cho
học sinh lớp 1.
- Nghiên cứu thực trạng dạy giải toán có lời văn trong môn toán cho học
sinh lớp 1 của nhà trường trong những năm vừa qua.
- Đề xuất những biện pháp dạy giải toán có lời văn trong môn toán cho học
sinh lớp 1.
5 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan
đến dạy giải toán có lời văn trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường Tiểu
học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nghiên cứu thực tế tại lớp 1
3
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm dạy giải toán
có lời văn trong môn toán cho học sinh lớp 1 của bản thân cũng như của bạn
bè đồng nghiệp.
- Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng việc dạy giải toán có lời văn
trong môn toán cho học sinh lớp 1 trong nhà trường trên cơ sở đó tổng hợp
phân tích, bổ xung kinh nghiệm cho bản thân.
- Phương pháp trò chuyện với giáo viên, với học sinh: Nắm thực trạng

lời văn, các em phát huy được trí tuệ, được rèn luyện kĩ năng tổng hợp: đọc,
viết, diễn đạt, trình bày, tính toán. Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp
của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các
bài toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đại lượng. Toán có
lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các
môn học khác.
B. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp Một, tôi nhận thấy
hầu như giáo viên nào cũng nhận thấy khó khăn khi dạy đến phần giải toán có
lời văn ở lớp Một. HS rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời
giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. Những tiết đầu tiên của giải toán có lời
văn mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số HS biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và
đáp số. Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng
thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng
nhưng khi cô hỏi lại lại không biết để trả lời. Chứng tỏ các em chưa nắm được
một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. Giáo viên (GV) phải mất rất
nhiều công sức khi dạy đến phần này.
Kết quả điều tra năm học 2013-2014

Phân tích những nguyên nhân
1. Nguyên nhân từ phía giáo viên:
- GV chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước. Những bài nhìn
hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như HS đều làm
5
TT
Lớp Sĩ
số
HS viết
đúng câu
lời giải

C. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Biện pháp 1 : Rèn kĩ năng nhìn tranh, nêu phép tính
Tôi thấy việc dạy học sinh “Giải toán có lời văn” đối với học sinh lớp 1 là
vô cùng khó. Mặc dù đến tận tuần 23, học sinh mới chính thức học cách giải
toán có lời văn, song tôi đã phải có ý thức chuẩn bị từ xa cho việc làm ngay từ
bài : Phép cộng trong phạm vi 3 - tiết luyện tập ở tuần 7. Ở thời điểm này, học
sinh lớp tôi chỉ có vài em đọc thông viết thạo, nhưng tôi đã rèn luyện cho học
sinh kĩ năng làm các bài tập: “Nhìn tranh nêu phép tính”
- Xem tranh vẽ;
- Nêu bài toán bằng lời;
- Nêu câu trả lời;
- Điền phép tính thích hợp với tình huống trong tranh.
Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính
thích hợp.
6
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5 ô
vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ. Ban đầu
để giúp học sinh dễ thực hiện sách giáo khoa ghi sẵn các số và kết quả :
VD: Bài 5 trang 46
a) Sau khi cho học sinh xem tranh. Tôi cho học sinh nêu bằng lời: “Có 1 quả
bóng vàng và 2 quả bóng . Hỏi có tất cả mấy quả bóng ?”
Sau khi cho học sinh xem tranh. Tôi cho học nêu bằng lời : “Có tất cả
mấy quả bóng”

phép tính.
Tư duy toán học được hình thành trên cơ sở tư duy ngôn ngữ của học sinh.
8
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
Khi dạy bài này cần hướng dẫn học sinh diễn đạt trình bày động viên các em
viết được nhiều phép tính để tăng cường khả năng diễn đạt cho học sinh.
Cứ như thế đến tuần 17, học sinh lớp tôi đã có được khoảng 17 em quen
với việc đọc, tóm tắt, rồi nêu bài toán bằng lời, sau đó nêu bài giải và tự điền số
vào phép tính thích hợp theo mẫu trên. Nhưng ở đây, mức độ nâng dần lên,
không còn dựa vào các ô nữa mà học sinh tự ghi được phép tính và kết quả phép
tính.
Ví dụ 2 : Ở tiết : Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10. Tôi đã cho học
sinh tiếp cận với giải toán ở học kì II.
Bài 3b trang 87
Có : 10 quả bóng
Cho : 3 quả bóng
Còn lại…. quả bóng ?
Ở bài toán này không có tranh vẽ, tôi cho học sinh đọc kĩ tóm tắt. Dựa vào
tóm tắt, học sinh có thể nêu đề toán bằng lời : “Hoa có 10 quả bóng, Hoa cho
bạn 3 quả bóng. Hỏi Hoa còn lại mấy quả bóng ?” Học sinh nêu được câu trả lời
bằng lời : “Hoa còn lại 7 quả bóng”
10 - 3 = 7

Ngoài ra, tôi còn cho học sinh làm các bài tập mở có rất nhiều cách giải
quyết dẫn đến nhiều đáp số hoặc câu trả lời khác nhau.
Ví dụ : Ở bài 5 (b) trang 50
Viết phép tính thích hợp :
Nhìn tranh : Có 4 con chim đang đậu. 1 con nữa bay đến. Hỏi có tất cả mấy
con chim ?
Học sinh có thể nêu bài toán bằng nhiều cách khác nhau

Bài toán : Có….bạn, có thêm….bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?
Trước tiên, tôi yêu cầu học sinh đọc thầm, tự nêu nhiệm vụ cần thực hiện
(Viết số thích hợp vào chỗ chấm). Sau đó, tôi cho học sinh quan sát mô hình, tôi
đính trên bảng lớp, học sinh nhìn và nêu miệng các số liệu vào chỗ các dữ kiện
để được bài toán ;
10
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn =

Học sinh có thể nêu nhiều ý kiến, đây là cơ hội để tôi rèn kĩ năng nói cho
học sinh. Chắc chắn sẽ có nhiều học sinh nêu.
Ví dụ như “Có 3 bạn, có thêm 2 bạn nữa. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?”
Tôi hỏi, học sinh trả lời :
+ Bài toán cho biết gì ? (Có 3 bạn, thêm 2 bạn nữa)
Tôi yêu cầu học sinh nêu câu hỏi của bài toán (hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?).
Tôi hỏi tiếp : Theo câu hỏi này em phải làm gì ? (Tìm xem có tất cả bao nhiêu
bạn ?)
Ví dụ 2 : Bài 4- trang 116 lại thiếu cả dữ kiện và câu hỏi
Bài 4 : Nhìn tranh vẽ tiếp vào chỗ chấm để có bài toán.
Có con chim đậu trên cành, có thêm con chim bay đến. Hỏi ?
Ở bài này, tôi cũng cho học sinh quan sát tranh, gọi học sinh nêu
miệng đề toán và cho học sinh điền số vào dữ kiện và điền từ vào chỗ chấm của
câu hỏi. Sau đó, tôi tập cho học sinh nhận xét;

=
11
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
Tôi gợi ý câu hỏi : Bài toán thường có những gì ? (Bài toán có các số liệu)

Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái
phải tìm.
12
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
Ví dụ 2: Nhà An có 5 con gà,mẹ mua thêm 4 con gà.Hỏi nhà An có
tất cả mấy con gà?
- Bài toán cho gì? (Nhà An có 5 con gà)
- Còn cho gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)
- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)
Giáo viên nêu tiếp: Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm
tính gì? (tính cộng) Mấy cộng mấy? (5 + 4) ; 5 + 4 bằng mấy? (5 + 4 = 9);
Hoặc: Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em tính thế nào? (5 + 4 = 9);
Hoặc: Nhà An có tất cả mấy con gà? Em tính thế nào để được 9? (5 + 4 = 9).
Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp "9 này là 9 con gà", nên ta
viết "con gà" vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà).
Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng
dẫn học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn việc chọn phép tính và tính ra đáp
số. Với học sinh lớp 1, lần đầu tiên được làm quen với cách giải loại toán
này nên các em rất lúng túng.Có thể dùng một trong các cách sau:
Cách 1

: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và cuối
(mấy con gà ?)để có câu lời giải:"Nhà An có tất cả:" hoặc thêm từ "là" để có
câu lời giải:Nhà An có tất cả là:
Cách 2

: Đưa từ "con gà" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "Hỏi"
và thêm từ Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có: "Số con gà nhà An có tất cả
là:”
Cách 3

một kiểu;
+ Cả hai bạn có số viên bi là;
+ Số viên bi của hai bạn có tất cả là;
+ Cả hai bạn có là. (nên hạn chế câu trả lời này)
Đây là dịp để học sinh phát huy khả năng sáng tạo của mình, các em được
trình bày ý kiến của bản thân;
Việc dạy cho trẻ đặt câu lời giải còn vất vả hơn dạy trẻ lựa chọn các phép
tính và thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số. Vì vậy từ tuần 23, học sinh
lớp tôi đã đọc thông, viết thạo, tôi chỉ chọn câu hỏi trong đề toán sao cho chỉ cần
chỉnh sửa một chút thôi là được ngay câu lời giải. Còn khi viết phép tính, tôi bắt
buộc học sinh viết bằng chữ số (kèm theo tên đơn vị đặt trong dấu ngoặc sau kết
quả) mà thôi;
Ví dụ : Từ bài toán trên, tôi hỏi : Cả hai bạn có mấy viên bi ? Em làm
phép tính gì ? (Tính cộng) mấy cộng mấy ? (3+4); 3+ 4 bằng mấy ? (7) hoặc
muốn biết cả hai bạn có mấy viên bi ? (7) Em tính thế nào để được 7 ? (3+4=7);
Tới đây, tôi để học sinh nêu tiếp 7 là 7 viên bi. Ta viết “viên bi” vào trong
dấu ngoặc đơn 3 + 4 = 7 (viên bi), còn đối với đáp số thì không cần viết tên đơn
vị trong dấu ngoặc đơn nữa (Đáp số : 7 viên bi); Khâu này tôi làm chậm và ghi
14
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
bảng rõ ràng để học sinh nhìn mẫu trình bày bài toán hoàn chỉnh, khoa học
nhằm giáo dục tính cẩn thận, thẩm mĩ cho học sinh;
Sau đây, tôi hệ thống hóa lại nội dung các bài toán giải có lời văn để
hướng dẫn học sinh một cách hiệu quả. Trong phạm vi 17 tiết dạy từ tiết 81 đến
tiết 108 tôi đặc biệt chú ý vào 1 số tiết chính sau đây :
Tiết 81: Bài toán có lời văn
Có bạn, có thêm bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?
HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi
Điền vào chỗ chấm số 1 và số 3.
- Bài 2 tương tự.

4 + 3 = 7 (quả bóng)
Đáp số : 7 quả bóng
Bài 2 trang 118 :
Tóm tắt :
Có : 6 bạn
Thêm: 3 bạn
Có tất cả : bạn ?
Bài giải
Có tất cả số bạn là :
6+3= 9 (bạn)
Đáp số: 9 bạn
Qua 2 bài toán trên tôi rút ra cách viết câu lời giải như sau : Lấy dòng thứ 3
của phần tóm tắt và thêm chữ là :
VD - Cả hai bạn có là :
- Có tất cả là :
Tương tự bài 3 trang118 câu lời giải sẽ là :
- Có tất cả là :
Tiết 84 Luyện tập
Bài 1 và bài 2 trang 121 tương tự bài 1, 2, 3 trang 117. Nhưng câu lời giải được
mở rộng hơn bằng cách thêm cụm từ chỉ vị trí vào trước cụm từ có tất cả là
Cụ thể là
- Bài 1 trang 121 : Trong vườn có tất cả là :
- Bài 2 trang 121 : Trên tường có tất cả là :
Tiết 85 Luyện tập
Bài 1 trang 122 : HS đọc đề toán – phân tích bài toán (như trên)
Điền số vào tóm tắt
Vài ba học sinh nêu câu lời giải khác nhau
16
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
GV chốt lại một cách trả lời mẫu : -Số quả bóng của An có tất cả là :

+Câu hỏi là gì ? Còn lại mấy con gà ?
17
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
GV hướng dẫn HS đọc tóm tắt - bài giải mẫu. GV giúp HS nhận thấy câu lời
giải ở loại toán bớt này cũng như cách viết của loại toán thêm đã nêu ở trên chỉ
khác ở chỗ cụm từ có tất cả được thay thế bằng cụm từ còn lại mà thôi. Cụ thể
là : Bài giải
Số gà còn lại là :
9-3= 6 (con gà)
Đáp số: 6 con gà.
Bài 1 trang 148 : Tóm tắt
Có : 8 con chim
Bay đi : 2 con chim
Còn lại : con chim ?
Bài giải
Số chim còn lại là :
8 - 2 = 6 (con chim)
Đáp số : 6 con chim.
Bài 2 trang 149
Tóm tắt
Có : 8 quả bóng
Đã thả : 3 quả bóng
Còn lại : quả bóng ?
Bài giải
Số bóng còn lại là :
8 - 3 = 5 (quả bóng)
Đáp số: 5 quả bóng
Bài 3 trang 149
Tóm tắt
Đàn vịt có : 8 con

giải có cụm từ có tất cả
b) Bài toán : Lúc đầu trên cành có 6 con chim, có con bay đi. Hỏi ?
HS quan sát tranh rồi hoàn thiện bài toán bớt và giải bài toán với câu lời giải
có cụm từ còn lại
Lúc này, HS đã quá quen với giải bài toán có lời văn nên hướng dẫn cho HS
chọn cách viết câu lời giải gần với câu hỏi nhất đó là :
- Đọc kĩ câu hỏi.
19
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
- Bỏ chữ Hỏi đầu câu hỏi.
- Thay chữ bao nhiêu bằng chữ số.
- Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm
Cụ thể Bài 1 trang 152
a) Câu hỏi là : Hỏi có tất cả bao nhiêu ô tô ?
Câu lời giải là : Có tất cả số ô tô là :
b) Câu hỏi là: Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim ?
Câu lời giải là : Trên cành còn lại số con chim là :
VD khác :
a) Câu hỏi là : Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây ?
Câu lời giải là : Hai lớp trồng được tất cả số cây là :
b) Câu hỏi là : Hỏi con sên bò được tất cả bao nhiêu xăng-ti-mét ?
Câu lời giải là : Con sên bò được tất cả số xăng-ti-mét là ?
c) Câu hỏi là:Hỏi Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển sách ?
Câu lời giải là: Lan còn phải đọc số trang nữa là :
Trên đây là 2 mẫu toán đơn điển hình của phần giải toán có lời văn ở lớp 1.
Tôi đã đưa ra phương pháp dạy từ dễ đến khó để HS có thể giải toán mà không
gặp khó khăn ở bước viết câu lời giải. Tối thiểu HS có lực học trung bình yếu
cũng có thể chọn cho mình 1 cách viết đơn giản nhất bằng cụm từ:Có tất cả là: ;
Hoặc: Còn lại là:
Còn HS khá giỏi các em có thể chọn cho mình được nhiều câu lời giải khác

5 + 4 con gà = 9 con gà
5 con gà + 4 con gà = 9 con gà
Về mặt toán học thì ta phải dừng lại ở 9, nghĩa là chỉ được viết 5 + 4 = 9
thôi.Song vì các đơn vị cũng đóng vai trò rất quan trọng trong các phép tính
giải nên vẫn phải tìm cách để đưa chúng vào phép tính. Do đó, ta mới ghi
thêm đơn vị "con gà" ở trong dấu ngoặc đơn để chú thích cho số 9 đó. Có
thể hiểu rằng chữ "con gà” viết trong dấu ngoặc đơn ở đây chỉ có một sự
ràng buộc về mặt ngữ nghĩa với số 9, chứ không có sự ràng buộc chặt chẽ về
toán học với số 9. Như vậy cách viết 5 + 4 = 9 (con gà) là một cách viết phù
hợp.
4. Biện pháp 4: Vận dụng phương pháp dạy học thực hành luyện tập trong
dạygiải toán .
*Đối với dạy bài mới:
* Giáo viên cần giúp học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của
bài học.
21
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
Phần bài học thường được nêu thành cùng một loại tình huống có vấn đề.
Chẳng hạn, cùng nêu về hiện tượng có một số ( một, hai ) con ong bay khỏi chỗ
đậu của ba con ong.
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát hình vẽ ( tranh, ảnh …) hoặc sử
dụng đồ dùng thích hợp để tự học sinh nêu ra vấn đề cần giải quyết.
Ví dụ: Có ba con ong đậu trên bông hoa, một con ong bay ra khỏi bông
hoa, còn mấy con ong đậu trên bông hoa ?
Học sinh tham gia giải quyết vấn đề: ( Ba con ong bớt một con ong còn
hai con ong ).
Thời gian đầu giáo viên hướng dẫn học sinh nêu và giải quyết vấn đề, dần
dần khuyến khích học sinh tự nêu và tự giải quyết vấn đề.
Có loại bài học giáo viên phải giúp học sinh tự nêu, tự giải quyết vấn đề,
dần dần khuyến khích học sinh tự nêu và tự giải quyết vấn đề, tự xây dựng kiến

- Khi cần thiết có thể cho học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hoặc
trong toàn lớp về cách giải hoặc các cách giải một bài tập. Nên khuyến khích
học sinh bình luận về cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm trong quá trình trao
đổi ý kiến ở nhóm, ở lớp.
- Sự hỗ trợ giữa các học sinh trong nhóm phải giúp học sinh tự tin vào khả
năng của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học của bản thân.
8. Biện pháp thứ 7: Kết hợp với phụ huynh hướng dẫn cách học toán cho
học sinh .
- Ngay từ đầu năm học họp phụ huynh tôi đưa ra kế hoạch thực hiện năm học và
các quy định chuẩn bị cho học sinh học tập, nhất là môn toán phải đủ: ( Sách,
bút, thước… ) vở ghi như các môn học khác, nhưng cần có thêm khuyến khích
phụ huynh học sinh tạo điều kiện cho con cái học tốt.
- Nêu tầm quan trọng của việc thực hiện đổi mới nội dung chương trình
phương pháp giảng dạy lớp 1 để phụ huynh thấy được và có trách nhiệm quan
tâm đôn đốc con em học tập.
- Tổ chức kí kết thi đua thực hiện tốt các quy định và chỉ tiêu phấn đấu
của lớp đồng thời quy định hàng tháng có sự trao đổi giữa nhà trường và gia
đình để cùng kết hợp giáo dục học sinh.
9. Biện pháp thứ 8: Thiết kế bài giảng điện tử dạy trình chiếu PowerPoint .
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy và học (bằng bài giảng điện tử)
là cải tiến đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng
tạo của học sinh, lúc bấy giờ giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt
động thông qua hình ảnh trực quan sinh động, học sinh tư duy và tự phát hiện,
23
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
tìm ra kiến thức mới của bài học và thực hành, việc ứng dụng công nghệ thông
tin vào giảng dạy, có những ưu điểm so với phương pháp truyền thống như:
- Nội dung, hình thức tiết dạy phong phú, đưa được nhiều hình ảnh động, từ
đó, tạo được sự kích thích hứng thú học tập của học sinh, tạo được không khí
vui tươi và thi đua trong học tập qua hoạt động thi đua giữa các nhóm hiệu quả

24
SKKN: Biện pháp giúp học sinh lớp một giải tốt các bài toán có lời văn
+Học sinh số 1 “ đếm số lượng thỏ chạy ra và viết số mà con đếm được vào
bảng con”
+Học sinh số 2 “đếm số lượng táo rơi xuống và viết số mà con đếm được vào
bảng con”
Ngoài ra khi sử dụng bài giảng điện tử trình chiếu PowerPoint giáo viên còn có
thể tổ chức nhiều trò chơi học tập hấp dẫn, bổ ích cho học sinh.
10. Biện pháp thứ 9: Kiểm tra lại bài giải và khắc sâu loại “Giải bài
toán có lời văn"
- Tập cho học sinh thói Học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp Một
thường có thói quen khi làm bài xong không hay xem, kiểm tra lại bài đã
làm. Giáo viên cần giúp học sinh xây dựng thói quen học tập này.Cần kiểm
tra về lời giải, về phép tính, về đáp số hoặc tìm cách giải hoặc câu trả lời
khác.
- Nên hướng dẫn học sinh tự đánh giá bài làm của mình, của bạn.
- Khuyến khích học sinh tự nói ra những hạn chế của mình, của bạn khi tự
kiểm tra, tự đánh giá…
* Tập cho học sinh thói quen không thỏa mãn với bài làm của mình, với các
cách giải đã có:
- Sau mỗi tiết học, tiết luyện tập nên tạo cho học sinh niềm vui vì đã hoàn
thành công việc được giao, niềm tin vào sự tiến bộ của bản thân (bằng khuyến
khích, nêu gương…)
- Tạo cho học sinh mong muốn tìm được giải pháp tốt nhất cho bài làm của
mình. Vì vậy cho dù đã hoàn thành bài học hoặc bài làm, học sinh cũng vẫn
không thỏa mãn những gì đã đạt được. Cần tự kiểm tra, tự đánh giá và luôn luôn
tìm cách hoàn thiện việc đã làm.
Các “bài tập mở” trong Toán 1 là phương tiện để giáo viên động viên học
sinh tìm nhiều phương án giải quyết một số vấn đề và biết tự lựa chọn phương
án hợp lý nhất. Đừng bao giờ “áp đặt” học sinh theo phương án có sẵn, hãy động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status