các chữ viết tắt trong luận văn
1. GTGT : Giá trị gia tăng
2. KTNQD : Kinh tế ngoài quốc doanh
3. NQD : Ngoài quốc doanh
4. NSNN : Ngân sách Nhà nớc
5. TNCT : Thu nhập chịu thuế
6. TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
7. TSCĐ : Tài sản cố định
8. TTĐB : Tiêu thụ đặc biệt
9. UBND : Uỷ ban nhân dân
10. XDCB : Xây dựng cơ bản
11. XHCN : Xã hội chủ nghĩa
12. XNK : Xuất nhập khẩu
1
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế do Nhà nớc tổ chức và thực hiện. Đó là sự chuyển dịch một chiều thu
nhập từ phía doanh nghiệp và dân c (khu vực t) vào khu vực công. Phía sau quá
trình chuyển dịch này gồm nhiều vấn đề đặt ra nh: tơng quan giữa số thuế thu đợc
trong hiện tại và tơng lai, ảnh hởng của thuế đến hành vi kinh doanh, đến động thái
tiêu dùng xã hội, thuế và tăng trởng kinh tế, tiến bộ xã hội
Do đó, thuế là một lĩnh vực phức tạp, bởi lẽ thuế không chỉ thể hiện ra là
những vấn đề kinh tế mà còn chứa đựng nhiều vấn đề xã hội sâu sắc. Thuế
không những đòi hỏi tính khoa học về mặt lý luận, sự chính xác trong luật định
mà còn cần đến nghệ thuật tinh tế trong hành thu.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN - hàng năm số thu về thuế chiếm
khoảng 80% đến 90% tổng thu NSNN. Điều đó đòi hỏi Nhà nớc cần tu chỉnh
các Luật thuế, các văn bản pháp lý khác về thuế nhằm hoàn thiện hệ thống thuế,
đa thuế ngày càng tiếp cận thực tiễn. Để phản ánh và theo kịp bớc chuyển của
nền kinh tế thì công tác quản lý thuế cần phải thay đổi và hoàn thiện nhằm đáp
ứng tình hình phát triển kinh tế của đất nớc cũng nh các cam kết quốc tế trong
Nam". Luận án thạc sĩ khoa học kinh tế - 1997.
- Vũ Thị Toản: "Công tác quản lý thu thuế NQD trên địa bàn Hà Nội".
Luận án thạc sĩ khoa học kinh tế - 1996.
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết thiết thực,
nhiều cuộc hội thảo đã đợc tổ chức...
Tuy nhiên, cha có một tác giả nào nghiên cứu bàn về quản lý thuế NQD
trên địa bàn tỉnh Hà Tây.Vì vậy, luận văn nghiên cứu là cần thiết, qua đó chỉ
những nguyên nhân còn hạn chế trong quản lý thu thuế NQD, trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp khả thi ở địa bàn tỉnh Hà Tây, nhằm thực hiện đợc mục
tiêu của hệ thống thuế tại địa phơng.
3. Mục đích và nhiệm vụ.
- Mục đích: Làm rõ những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý thu thuế khu
vực kinh tế NQD ở Hà Tây; đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm tăng cờng, hoàn
thiện quản lý thu thuế NQD trên địa bàn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội của Hà Tây.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về thuế và quản lý thu thuế đối với
khu vực KTNQD.
+ Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh
Hà Tây.
+ Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện và tăng
cờng quản lý thu thuế NQD tại tỉnh Hà Tây
3
4. Đối tợng phạm vi nghiên cứu:
ở Việt Nam KTNQD là một khu vực kinh tế đang hình thành và phát
triển, cách hiểu về nó cũng còn nhiều vấn đề cha thống nhất. Vì vậy, nghiên
cứu về quản lý thu thuế khu vực KTNQD, đề tài chỉ tập trung tìm hiểu công tác
quản lý thuế đối với các đơn vị trong các hoạt động sản xuất kinh doanh - dịch
vụ gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp t nhân,
Hộ kinh doanh công thơng nghiệp và dịch vụ.
Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời
cũng là một phạm trù lịch sử thuế ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra
đời, tồn tại và phát triển của Nhà nớc. Trong thời kỳ Cộng sản nguyên thuỷ, khi
điều kiện lao động của con ngời còn thô sơ, con ngời lao động đủ để duy trì sự
sống của mình, cha có Nhà nớc lúc đó xã hội cha biết thuế là gì. Cùng với sự
phát triển của sản xuất xã hội, xã hội loài ngời có sự phân chia thành giai cấp và
đấu tranh giữa các giai cấp, Nhà nớc ra đời. Để duy trì bộ máy Nhà nớc, phát
triển sự nghiệp giáo dục, y tế, quốc phòng an ninh .., đòi hỏi Nhà nớc phải
có nguồn tài chính để chi tiêu. Nguồn tài chính này có đợc là do sự đóng góp
của mọi thành viên trong xã hội và sự đóng góp này mang tính bắt buộc. Theo
Ph.Ăngghen: Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của
những ngời công dân cho Nhà nớc, đó thuế má (14, tr.552). Với tiến trình
phát triển của xã hội loài ngời, Nhà nớc xuất hiện, thuế cũng từ đó ra đời, tồn tại
và phát triển
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời cho thấy, một khi Nhà nớc chỉ làm
nhiệm vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nớc ở
chừng mực nhất định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nớc có thêm
nhiệm vụ điều hành, quản lý nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nớc ngày càng
nhiều hơn. Đến khi Nhà nớc đảm nhận thêm công việc chăm lo đời sống, văn
hoá, xã hội của cộng đồng thì thuế lại đợc động viên càng lớn với nhiều sắc
thuế và ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế
Nh vậy, khi vai trò, nhiệm vụ của Nhà nớc ngày càng đợc mở rộng,
đòi hỏi nguồn tài chính phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tăng lên. Điều
đó, không thể thiếu sự đóng góp của ngời dân và các tổ chức kinh tế, đó là
thuế.
Theo phân tích trên, thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nớc và
thuế ra đời khi hoạt động lao động sản xuất của xã hội loài ngời tạo ra sản
5
phẩm thặng d. Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, sự chuyển dịch giá trị
sản phẩm thặng d từ thành phần kinh tế này sang thành phần kinh tế khác, từ
khoản thu của Nhà nớc đối với các tổ chức (chủ yếu là tổ chức kinh tế) và
mọi thành viên trong xã hội; khoản thu này mang tính bắt buộc không
hoàn trả trực tiếp [11, tr.1].
6
Gần đây, trong một số công trình nghiên cứu về thuế, các nhà kinh tế cho
rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật các khía
cạnh sau đây: Nội dung kinh tế của thuế đợc đặc trng bởi các quan hệ tiền tệ
giữa Nhà nớc với pháp nhân và thể nhân; những mối quan hệ dới dạng tiền tệ
này đợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc
chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh Nhà nớc, xét theo
khía cạnh luật pháp thuế là khoản nộp cho Nhà nớc đợc pháp luật quy định theo
mức thu và thời hạn nhất định.
Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về thuế kể trên
có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế nh sau: Thuế là một khoản
chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nớc
theo mức độ và thời hạn đợc pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục
đích công cộng [31, tr.11].
- Đặc điểm của thuế:
Bản chất của thuế đợc thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của
thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên
cứu về thuế ngời ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công
cụ tài chính khác.
+ Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã
hội cho Nhà nớc mang tính bắt buộc phi hình sự:
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó
phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN. Đặc
điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, đợc
hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc
động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nớc mà kết quả của quá trình đó
là một bộ phận thu nhập của ngời nộp thuế đợc chuyển giao cho Nhà nớc mà
hoặc cộng đồng. Hình thức phí, lệ phí, công trái nói chung mang tính tự nguyện
và có tính chất đối giá. Tính bắt buộc của phí và lệ phí chỉ xảy ra khi ngời trả
phí, lệ phí thụ hởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nớc cung cấp.
+ Việc chuyển giao thu nhập dới hình thức thuế không mang tính hoàn
trả trực tiếp:
Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế đợc biểu hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất
đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho Nhà nớc
không hoàn toàn dựa trên mức độ ngời nộp thuế thụ hởng những dịch vụ hàng
hoá công cộng do Nhà nớc cung cấp. Ngời nộp thuế cũng không có quyền đòi
hỏi Nhà nớc phải cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới
phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nớc; mặt khác mức độ cung cấp
dịch vụ công cộng của Nhà nớc cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ
chuyển giao. Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả
hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội cũng nh nhu cầu tài
chính cung của Nhà nớc.
8
Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dới hình thức thuế không đợc hoàn
trả trực tiếp có nghĩa là ngời nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận đợc một phần các
dịch vụ công cộng mà Nhà nớc cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần
dịch vụ đó không nhất thiết tơng đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà
nớc. Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ
phí.
+ Việc chuyển giao thu nhập dới hình thức thuế đợc quy định trớc bằng
luật pháp:
Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác phản
ánh sự chuyển giao thu nhập không mang tính chất tuỳ tiện mà dựa trên những
cơ sở pháp luật nhất định và đã đợc xác định trớc trong các luật thuế, pháp lệnh
thuế, đó là: đối tợng chịu thuế, đối tợng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn
cụ thể và những chế tài mang tính cỡng chế khác.
nguồn tài chính chủ yếu đợc động viên từ thuế và phí ở nội bộ nền kinh tế
quốc dân.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. ở nớc ta từ khi có các luật
thuế ra đời, nguồn thu từ thuế ngày càng tăng lên, ngày càng chiếm tỷ
trọng cao trong tổng số thu ngân sách, năm 1990 đạt 86%; năm 1997 đạt
87%, năm 1998 đạt 88%,đến nay khoảng 90% [23, tr.10]. Vai trò của thuế
thực sự đợc nâng lên và thể hiện rõ trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh
tế
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý và điều
tiết của Nhà nớc, thuế đợc áp dụng thống nhất đối với các thành phần kinh
tế không phân biệt kinh tế Nhà nớc và KTNQD, nó bao quát và điều tiết
các hoạt động kinh doanh, mọi nguồn thu nhập, mọi tài nguyên thiên thiên
và mọi hoạt động tiêu dùng trong xã hội.
Chính sách động viên về thuế có tác dụng bồi dỡng nguồn thu vững
chắc, lâu dài cho NSNN. Cơ chế thuế suất không nên quá phức tạp, quá
cao mà cần nghiên cứu và tính toán dựa trên những căn cứ khoa học và sự
phát triển của nền kinh tế sẽ phù hợp hơn với khả năng đóng góp của đối t-
ợng nộp thuế, đảm bảo nguồn thu ngân sách đợc ổn định thờng xuyên.
Thuế suất đợc điều chỉnh giảm có thể sẽ dẫn đến phát sinh lo lắng không
đảm bảo nguồn thu cho ngân sách. Nhng trên thực tế nếu hệ thống thuế
hợp lý, thuế suất ở mức vừa phải thì sẽ tranh thủ đợc sự đồng tình ủng hộ
của mọi tầng lớp nhân dân, đối tợng nộp thuế thấy mức thuế hợp lý sẽ tự
nguyện khai báo nộp thuế tốt hơn. Diện thu thuế đợc mở rộng, diện miễn
giảm thu hẹp, vừa đợc lòng dân vừa đảm bảo nhiệm vụ thu theo kế hoạch.
Tỷ lệ động viên về thuế cần tính toán khoa học, đầy đủ mọi khoản đóng
góp cho NSNN, bao gồm mọi khoản thuế, phí và lệ phí. Cần khắc phục
tình trạng các ngành, các địa phơng tuỳ tiện đặt ra các khoản thu trái với
quy định của Nhà nớc.
Thuế tạo nguồn thu cho NSNN, nhng nguồn thu đó đợc hình thành
trên cơ sở nền kinh tế tăng trởng và đạt hiệu quả cao. Đây là vấn đề luôn
Trong điều kiện hiện nay, hệ thống thuế của Nhà nớc Việt Nam thể
hiện rất rõ quan điểm khuyến khích các ngành nghề sản xuất hơn là các
hoạt động thơng mại, dịch vụ. Sản xuất các mặt hàng thiết yếu đợc khuyến
khích hơn sản xuất các mặt hàng và dịch vụ khác. Để khuyến khích các
ngành nghề sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thay thế hàng
nhập khẩu cần thiết khi trong nớc cha sản xuất đợc hoặc sản xuất đợc hoặc
sản xuất nhng cha đáp ứng đủ nhu cầu hay đầu t vào những vùng có điều
11
kiện kinh tế khó khăn, vùng không thuận lợi cho sức khoẻ, sinh hoạt ngời
dân, Nhà n ớc thờng áp dụng thuế u đãi để thúc đẩy kinh tế phát triển
một cách có hiệu quả, đồng bộ theo hớng có lợi cho quốc kế dân sinh.
Hiện nay, Nhà nớc ta sử dụng tổng hợp hệ thống chính sách thuế,
nhằm: khuyến khích mạnh mẽ các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi
thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở bình đẳng trớc pháp
luật; góp phần thúc đẩy việc khai thác t nguyên liệu trong nớc, tranh thủ
vốn đầu t nớc ngoài để mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá đẩy
mạnh xuất nhập khẩu đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và tích luỹ; bào đảm lợi
ích; bảm đảm lợi ích giữa Nhà nớc và xã hội, lợi ích của các bên hợp tác,
vừa đảm bảo sản xuất trong nớc phát triển nâng cao đời sống của ngời dân.
+ Thuế góp phần điều hoà thu nhập thực hiện công bằng xã hội
trong phân phối:
Theo Adam Smith, nền kinh tế thị trờng tự do không có sự điều
chỉnh, can thiệp của Nhà nớc, mà đợc điều tiết bởi bàn tay vô hình. Đó
là nền kinh tế tự điều chỉnh và hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên, lịch sử
cũng cho thấy kinh tế thị trờng tự do chứa đựng những mặt trái hay những
khuyết tật khó tránh khỏi. Nổi bật trong những khuyết tật đó là vấn đề
phân phối thu nhập. Trong điều kiện phân phối thu nhập của thị tr ờng tự
do, một bộ phận dân c sẽ giàu lên nhanh chóng, trong khi đó, đại đa số lao
động trở nên nghèo túng và đời sống càng khó khăn hơn. Tình trạng trên
không chỉ liên quan đến vấn đề đạo đức, công bằng xã hội mà còn tạo nên
kinh tế thị trờng tự do.
Cùng với sự gia tăng vai trò của nhà nớc đối với đời sống kinh tế,
kinh tế thị trờng tự do đã phát triển thành nền kinh tế hỗn hợp gồm hai khu
vực lớn: Kinh tế Nhà nớc và kinh tế phi nhà nớc hay nh chúng ta nói -
KTNQD.
Khu vực kinh tế nhà nớc dựa trên cơ sở của sở hữu nhà nớc chủ yếu
thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công cộng, mục tiêu cơ bản là lợi
ích chung của toàn xã hội - đảm bảo cho sự phát triển hiệu quả, công bằn
và ổn định cho toàn bộ nền kinh tế.
Khu vực KTNQD là khu vực kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhân
hoạt động kinh doanh bằng vốn của các tổ chức, của một số cá nhân góp
lại; hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trờng vì mục tiêu lợi nhuận.
Trong cơ cấu sản xuất xã hội, KTNQD đợc coi là một thực thể khách quan,
gồm các thành phần kinh tế đợc xác định tuỳ theo đặc điểm kinh tế - xã
hội và đờng lối chính trị của mỗi Nhà nớc trong từng giai đoạn khác nhau
nh, kinh tế tập thể, kinh tế t nhân, kinh tế cá thể, kinh tế t bản Nhà nớc
KTNQD có nhiều đặc điểm riêng biệt, nhng có thể khái quát một số đặc
điểm cơ bản sau:
13
+ Dựa trên sở hữu t nhân về t liệu sản xuất là chủ yếu, đợc tổ chức ở
đủ loại quy mô lớn, vừa và nhỏ, nhng đều do t nhân quản lý và phân phối
lợi nhuận.
+ Số lợng cơ sở rất lớn, thờng xuyên biến động, tuỳ thuộc vào tình
hình kinh doanh (chu kỳ kinh tế) và chính sách, chế độ của Nhà nớc trong
từng thời kỳ.
+ Hoạt động trong hầu hết mọi lĩnh vực của nền kinh tế. ở các nớc
phát triển, KTNQD bao gồm cả những tập đoàn kinh doanh xuyên quốc
gia, có ảnh hởng không chỉ đối với nền kinh tế trong nớc mà còn chi phối
nhiều lĩnh vực kinh tế tài chính quốc tế.
+ Số thu hàng năm chiếm tỷ trọng quan trọng trong tổng số thu ngân
Đối với nớc ta, khi công cuộc đổi đợc triển khai từ Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI, nhiều sáng kiến cá nhân của quần chúng lao động,của nhân
dân đã và đang đợc phát huy cả trong lao động sản xuất cũng nh trong việc tìm
tòi các hình thức kinh tế thích hợp, năng động, từng bớc đáp ứng yêu cầu ngày
càng đa dạng và phong phú của thị trờng.
+ Tiềm năng về kiến thức, kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề,
đặc biệt là phát huy kiến thức, bí quyết truyền thống đợc tích lũy qua
nhiều đời là nguồn tiềm năng vô cùng to lớn cho sự tăng trởng kinh tế nếu
đợc khởi động với những chính sách, chủ trơng thích hợp. Hiện nay nguồn
chất xám của KTNQD cũng rất đa dạng, có loại đợc Nhà nớc đào tạo
trong các trờng chính quy từ công nhân, kỹ s, nhà kinh tế đến các thạc sĩ,
tiến sĩ, phó giáo s, giáo s Có loại cá nhân tự bỏ tiền ra để học lấy một
nghề nhất định ở trong hoặc ngoài nớc. Có loại do doanh nghiệp NQD sau
khi tuyển dụng lao động bỏ tiền đào tạo hoặc đào tạo lại.
+ Nguồn vốn trong khu vực KTNQD nối tiếp từ thế hệ này sang thế
hệ khác đã và đang đợc tích luỹ ngày càng lớn. ở hầu hết các nớc có lịch
sử phát triển kinh tế thị trờng lâu đời, nguồn vốn đầu t từ phía Nhà nớc
không đáng kể (chiếm từ 13% - 30% tổng vốn đầu t). Các nớc đều có
chính sách thoả đáng để huy động nguồn lực to lớn từ nguồn vốn của
KTNQD. Nếu Chính phủ có chính sách đúng đắn, tạo môi trờng thuận lợi,
tạo lòng tin trong nhân dân, nhất định họ sẽ sẵn sàng bỏ vốn đầu t, mở
rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tăng
trởng mạnh mẽ.
+ KTNQD có tiềm năng lao động to lớn và góp phần đáng kể vào
việc giải quyết việc làm cho xã hội. ở nớc ta hàng năm bình quân có
khoảng 1,243 triệu ngời đến tuổi lao động, bao gồm: lực lợng thanh niên
đến tuổi lao động, số học sinh tốt nghiệp dạy nghề, trung học, cao đẳng,
đại học hoặc những ngời lao động thất nghiệp do sắp xếp lại biên chế
trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc do sắp xếp lại sản
xuất trong các ngành kinh tế quốc dân, những ngời bán thất nghiệp ở nông
phận lớn của kinh tế Nhà nớc bị thu hẹp, giải thể hoặc ngững do làm ăn
thua lỗ, không thích ứng đợc với cơ chế kinh tế mới [5].
+ KTNQD còn là môi trờng thuận lợi để hợp tác kinh tế với nớc
ngoài. Trong nền kinh tế mở hiện nay, sự giao lu với các nớc phát triển
mạnh về mọi mặt đó là một tất yếu khách quan. Đại hội Đảng lần thứ IX
đã xác định:
Phát triển đa dạng kinh tế Nhà nớc dới các hình thức liên doanh, liên
kết giữa kinh tế Nhà nớc với kinh tế t bản t nhân trong nớc, ngoài nớc,
mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu t kinh doanh; chú trọng phát
16
triển các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu,
giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nớc, ngoài nớc [32,
tr.99].
Tại các nớc, liên doanh với nớc ngoài chủ yếu là do KTNQD thực
hiện vì là khu vực năng động, làm ăn có hiệu quả, thích ứng nhanh với sự
biến động hoặc thay đổi của thị trờng, của khách hàng. Trong khi đó ở nớc
ta hiện nay, các liên doanh với nớc ngoài chủ yếu là do kinh tế Nhà nớc
thực hiện. Nhiều Việt Kiều về quê hơng gặp không ít khó khăn trong việc
tìm đối tác liên doanh
+Sự đa dạng của KTNQD tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phong
phú đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm.
Thực tế nhiều năm qua ở các nớc XHCN và ở Việt Nam đều cho thấy nền
kinh tế chủ yếu dựa trên KTQD thì hàng hoá sẽ nghèo nàn về chủng loại,
số lợng. ở Liên Xô cũ, sau 70 năm xây dựng CNXH với các doanh nghiệp
Nhà nớc chỉ có 10 triệu loại sản phẩm. Trong khi đó ở Nhật Bản một nớc
nhỏ bé hơn nhiều về dân số và diện tích có tới 1,4 triệu doanh nghiệp với
hơn 50 triệu loại sản phẩm.
ở nhiều nớc Đông Nam á, KTNQD đang đợc đánh giá là nguồn chủ
yếu của tăng trởng kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu,có thể tạo thu
nhập quốc dân tính theo đầu ngời tăng lên rất nhanh.
1.2.2. Yêu cầu và nội dung của công tác quản lý thu thuế NQD
Trên thực tế, hệ thống thuế là một chỉnh thể không thể chia cắt
không quốc gia nào áp dụng riêng biệt những sắc thuế cho khu vực kinh tế
nhà nớc hay khu vực KTNQD. ở các nền kinh tế phát triển, hầu hết các
đơn vị kinh tế đều dựa trên sở hữu phi nhà nớc và chính sách thuế của nhà
nớc chính là thuế đối với khu vực kinh tế này.
ở Việt Nam, phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa là một chiến lợc của Đảng và Nhà nớc Việt Nam, do đó trong tiến
trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nớc Việt Nam đặc biệt chú ý tới việc
xây dựng chính sách thuế đảm bảo cho sự phát triển bình đẳng của mọi
thành phần kinh tế, trong đó có việc khuyến khích sự phát triển của
KTNQD. Vì vậy, trong phần này, khi nói đến yêu cầu và nội dung cơ bản
của công tác quản lý thuế đối với khu vực KTNQD chủ yếu là nói trên cơ
sở những quan điểm của Đảng và nhà nớc Việt Nam trong việc xây dựng
và thi hành chính sách thuế.
1.2.2.1. Mục tiêu yêu cầu của quản lý thu thuế NQD:
* Mục tiêu:
Là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý tài
chính Nhà nớc, quản lý thuế không thể tách rời quản lý Nhà nớc nói chung
và quản lý Nhà nớc về kinh tế nói riêng.
18
Công tác quản lý thuế trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt đợc các
mục tiêu cơ bản sau đây:
- Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở
không ngừng nuôi dỡng và phát triển nguồn thu.
ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, số thu bằng thuế hàng năm
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số thu của NSNN. Vì vậy, làm tốt công
tác quản lý thuế sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ,
kịp thời số thu cho NSNN.
Mặt khác, các chính sách thuế, dù trực tiếp hay gián tiếp đều có tác
Cần tập trung mọi hình thức thích hợp tăng cờng việc tuyên truyền,
giải thích chính sách, chế độ thuế sâu rộng làm cho mọi ngời dân hiểu đợc
thuế của ta là "của dân, do dân, vì dân", xoá bỏ ấn tợng xấu về thuế là hình
thức bóc lột, bần cùng hoá nhân dân dới thời thực dân, phong kiến ở nớc ta.
Từ đó từng bớc nâng cao dân trí về nghĩa vụ công dân đối với thuế. Cần đa
chính sách, chế độ thuế cho dân trao đổi, quán triệt và dân chủ bàn bạc về
biện pháp triển khai thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất và khắc phục đợc
phiền hà không cần thiết đối với các nhà doanh nghiệp. Thông qua các cuộc
họp, giải đáp những thắc mắc cụ thể trong các tầng lớp nhân dân, tranh thủ
sự đồng tình ủng hộ công tác thuế, xây dựng lực lợng hậu thuẫn vững chắc
kiên quyết đấu tranh, lên án trốn lậu thuế: uốn nắn những lệch lạc trong
nhận thức và những sai sót trong đăng ký thuế, trong việc nghiêm chỉnh
chấp hành các chế độ hoá đơn, sổ sách kế toán, kê khai, nộp thuế...
Thực hiện quan điểm quần chúng của Đảng trong công tác tuyên
truyền, giáo dục về thuế không chỉ là "truyền đạt" một chiều từ trên xuống
mà thông qua công tác quản lý thờng xuyên, cán bộ thuế phải thấy đợc
những khó khăn thực tế phát sinh trong tổ chức thực hiện. Phải khách quan
lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của các nhà doanh nghiệp, trung thực phản
ánh ý kiến lên trên nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để chính sách thuế, chế độ
thuế ngày càng phù hợp với trình độ và khả năng đóng góp của nhân dân.
- Tranh thủ đợc sự lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức Đảng và chính quyền
các cấp:
Thuế là một trong những chính sách kinh tế lớn của Đảng và Chính
phủ. Cơ quan thuế cần chủ động báo cáo các kế hoạch, chơng trình công tác
để cơ sự chỉ đạo điều hành của tổ chức Đảng và chính quyền các cấp. Mỗi
cấp uỷ, UBND coi thuế là một công tác trọng tâm của đơn vị mình. Thờng
xuyên đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện công tác thuế trong từng thời kỳ
cùng với các công tác khác về quản lý kinh tế - tài chính trên địa bàn. Việc
tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyền không có nghĩa
là khi có khó khăn mới đến kêu gọi giúp đỡ. Cơ quan thuế phải chủ động
minh một cách rõ ràng là ngành thuế không để khai thác tốt các nguồn thu
và chống thất thu có hiệu quả (đặc biệt là trong khu vực KTNQD) nếu
không phát huy đợc kết quả của công tác phối hợp.
Việc thành lập Hội đồng t vấn thuế phờng xã bao gồm sự tham gia
của Mặt trận, Thanh niên, Phụ nữ, Hội nông dân... đã tỏ rõ đây là tổ chức
tổng hợp rộng rãi của các tổ chức quần chúng đối với nhiệm vụ thu. Hoạt
động của Hội đồng t vấn thuế phờng xã không chỉ góp phần tích cực cho
việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch thuế, tạo sự công bằng về động viên
đóng góp giữa các tầng lớp dân c, mà còn giúp cho ngành thuế giám sát,
kiểm tra công tác của cán bộ thuế, chống tiêu cực, tuỳ tiện, làm trong sạch
đội ngũ cán bộ thuế. Hội đồng t vấn thuế phờng xã còn là mô hình tổ chức
21
giúp đỡ cho ngành thuế thực hiện tốt cơ chế "dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra" trong công tác thuế.
- Từng bớc đa việc thực hiện các quy trình, biện pháp quản lý, thu
thuế vào nề nếp, kỷ cơng:
Yêu cầu chung đối với công tác thuế là "Phải thu đúng, thu đủ, thu
kịp thời" theo đúng pháp luật. Tổng cục thuế đã nghiên cứu, ban hành các
quy trình, chế độ nghiệp vụ cho từng loại đối tợng kinh doanh có thực hiện
hoá đơn, sổ sách kế toán hoặc khoán thuế thuộc diện quản lý, thu thuế theo
từng sắc thuế. Phải thực hiện đúng các quy trình nghiệp vụ để nắm chắc cơ
sở kinh doanh thực tế, có cơ sở thu thuế đầy đủ về doanh, lợi tức phát sinh
theo từng cơ sở, từng thời gian, đảm bảo đợc nguyên tắc lập sổ thuế, duyệt
sổ thuế, thông báo thuế và thu thuế đúng với thời gian quy định và có cơ sở
để giải quyết xử lý nộp chậm, dây da tiền thuế. Việc tách công tác quản lý
thành 3 bộ phận là nhằm tạo đợc sự hỗ trợ trong tổ chức thuế, vừa chống đ-
ợc thất thu có hiệu quả, vừa khắc phục tuỳ tiện, tiêu cực trong công tác
quản lý, thu thuế. Một số yếu tố cơ bản để cơ quan thuế xác định đợc việc
thu thuế sát đúng với thực tế hoạt động sản xuất kế hoạch là phải đảm bảo
đợc việc thực hiện nghiêm chỉnh chế độ kê khai đăng ký thuế, chế độ hoá
Cơ quan thuế ở các địa phơng có nhiệm vụ trực tiếp quản lý thu thuế
và các khoản thu khác, chịu sự lãnh đạo song trùng của cơ quan thuế cấp
trên và của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
ở cấp tỉnh, thành phố có Cục thuế trực thuộc Tổng cục Thuế. Cục
thuế có nhiệm vụ trực tiếp thu các loại thuế, phí, lệ phí đối với khối các
doanh nghiệp, hớng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các Chi cục thuế trong việc tổ
chức quản lý thu các khoản thu đã đợc phân cấp. Cơ cấu bộ máy Cục thuế
hiện nay đợc tổ chức chủ yếu theo đối tợng nộp thuế (đối tợng theo thành
phần sở hữu) và theo chức năng.
ở cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Chi cục thuế trực
thuộc Cục thuế. Chi cục có nhiệm vụ trực tiếp quản lý thu từ những hộ cá
thể và một số Công ty trách nhiệm hữu hạn. Bộ máy của Chi cục hiện nay
đợc tổ chức theo đối tợng nộp thuế (đối tợng theo địa giới hành chính các
phờng, xã) và đợc chia thành từng đội thuế.
* Về tổ chức quản lý thu thuế:
- Quản lý đối tợng nộp thuế:
Hàng năm, trên cơ sở đăng ký kinh doanh của các đối tợng sản xuất
kinh doanh, cơ quan thuế phải tiến hành đăng ký đối tợng nộp thuế, trên cơ
sở đó sẽ quản lý và thu thuế đối với đối tợng này. Có hai phơng thức đăng
ký đối tợng nộp thuế thờng đợc áp dụng:
+ Phơng thức thủ công:
Theo phơng thức này, mỗi đối tợng nộp thuế đợc cấp một sổ đăng ký
thuế riêng, mọi thông tin cần thiết về đối tợng nộ thuế đợc phản ánh và lu
trữ trong sổ này.
23
Phơng thức này chỉ nên áp dụng trong trờng hợp số lợng đối tợng nộp
thuế ít và khá tập trung, điều kiện cho việc cơ giới hoá công tác quản lý
thuế cha thực hiện đợc. Khi số lợng đối tợng nộp thuế tăng lên quá lớn thì
việc quản lý đối tợng nộp thuế bằng phơng pháp này sẽ phức tạp, dễ bị
nhầm lẫn, mất nhiều thời gian, công sức mà hiệu quả không cao.
24
Khác với qui trình trên đây, định kỳ theo thời gian hoặc theo chuyến
hàng, các đối tợng nộp thuế tự kê khai, tính và nộp thuế vào KBNN. Với ph-
ơng thức này, nhiệm vụ của cơ quan thuế sẽ đơn giản hơn nhiều. Tuy nhiên,
phơng thức này sẽ chỉ mang lại kết quả tốt khi mọi ngời đã nắm vững và tự
giác chấp hành nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời tính pháp lý của các luật
thuế cao và công tác kiểm tra, thanh tra thuế đợc thực hiện thờng xuyên, có
hiệu quả.
Phơng thức này hiện đang đợc áp dụng phổ biến trong các nớc có nền
kinh tế thị trờng phát triển.
- Tính thuế:
Tuỳ thuộc vào từng loại thuế và tính chất hoạt động sản xuất kinh
doanh của đối tợng nộp thuế, việc tính số thuế phải nộp của các đối tợng có
thể đợc thực hiện theo các phơng pháp sau đây:
+ Phơng pháp đánh giá hành chính:
Theo phơng pháp này, số thuế phải nộp đợc tính dựa trên những căn
cứ khách quan, rõ ràng, không cần phải điều tra hoặc tranh cãi nhiều.
Những căn cứ khách quan này là kết quả của một sự đánh giá hành
chính. Dựa vào sự đánh giá đó, ngời ta đa ra những ba - rem về mức thuế t-
ơng ứng với những căn cứ khách quan này. Ví dụ: Thuế môn bài phải nộp
của các đối tợng đợc xác định dựa vào qui mô kinh doanh. Có lúc ngời ta đã
dựa vào số lợng lao động, số lợng máy móc thiết bị của cơ sở để xác định
qui mô kinh doanh. Thuế sử dụng đất nông nghiệp đợc tính dựa trên diện
tích đất và mức thuế qui định cho từng hạng đất (đất loại 1, loại 2...). Thuế
nhà đất đợc tính dựa trên giá trị sử dụng đất theo đờng phố loại 1, loại 2...
+ Phơng pháp tính theo thuế khoán:
Dựa trên cơ sở các yếu tố khách quan do ngời sản xuất kinh doanh
(ngời nộp thuế) cung cấp và trên cơ sở các biện pháp kiểm tra của cán bộ
thuế, cơ quan thuế ấn định một mức doanh thu cụ thể. Doanh thu này sẽ đ ợc
cố định trong một thời gian nhất định. Trong khoảng thời gian đó, số thuế