Tuyển tập các đề thi tuyển vào lớp 10 môn ngữ văn của các tỉnh trong toàn quốc năm học 2015 - 2016 (có đáp án chi tiết) - Pdf 28



nhìn thấy một khuôn mặt da đen trong nhóm người da trắng. Người thứ hai lướt qua các bộ
mặt quanh đống lửa, thấy một người trong số đó không đi chung nhà thờ với ông ta. Vậy là
thanh củi cũng bị thu về. Người thứ ba trầm ngâm trong một bộ quần áo nhàu nát. Ông ta kéo
áo lên tận cổ, nhìn người đối diện, nghĩ thầm: “Tại sao mình lại phải hi sinh thanh củi để sưởi
ấm cho con heo béo ị và giàu có kia?”. Người đàn ông giàu có lui lại một chút, nhẩm tính:
“Thanh củi trong tay, phải khó nhọc lắm mới kiếm được, tại sao ta phải chia sẻ nó với tên khố
rách áo ôm lười biếng đó?”. Ánh lửa bùng lên một lần cuối, soi rõ khuôn mặt người da đen
đang đanh lại, lộ ra những nét hằn thù: "Không, ta không cho phép mình dùng thanh củi này
sưởi ấm những gã da trắng!”. Chỉ còn lại người cuối cùng trong nhóm. Nhìn những người
khác trầm ngâm trong im lặng, anh ta tự nhủ: “Mình sẽ cho thanh củi, nếu có ai đó ném phần
của họ vào đống lửa trước”.
Cứ thế, đêm xuống dần. Sáu con người nhìn nhau căng thẳng, tay nắm chặt những khúc
củi. Đống lửa chỉ còn than đỏ rồi lụi tắt. Sáng hôm sau, khi những người cứu hộ tới nơi, cả sáu
đều đã chết cóng.
(Theo www.sgd.edu.vn/hat-giong-tam-hon/)

Câu 2: (6,0 điểm)
Cảm nhận của em về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam qua các tác phẩm:
Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê), Mùa xuân
nho nhỏ (Thanh Hải), Sang thu (Hữu Thỉnh).

HẾT Thí sinh không sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
1. Về kĩ năng:
- Học sinh làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội với các thao tác giải thích, phân tích,
chứng minh, bình luận…
- Bố cục rõ ràng, diễn đạt trôi chảy, lập luận chặt chẽ, không mắc lỗi ngữ pháp, dùng
từ, chính tả.
2. Về kiến thức:
* Từ câu chuyện Lạnh, thí sinh rút ra những vấn đề cần nghị luận:
- Con người sống ích kỉ, không chia sẻ với người khác, tâm hồn sẽ trở nên giá lạnh, tàn
nhẫn.
- Sự giá lạnh của tâm hồn có sức huỷ hoại ghê gớm đối với người khác và với chính
bản thân mình.
* Bình luận về những vấn đề đã rút ra:
Câu chuyện ẩn chứa thông điệp sâu sắc, đúng đắn:
- Con người không muốn chia sẻ với người khác có nhiều lí do: Sự phân biệt chủng
tộc, tôn giáo, đẳng cấp xã hội, tính toán hơn thiệt nhưng tất cả đều bắt nguồn từ lối sống ích
kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân mình.
- Sự ích kỉ khiến tâm hồn con người mất đi niềm đồng cảm khiến họ không thể chia sẻ,
hi sinh, giúp đỡ người khác. Chính vì thế, con người sống gần nhau mà vẫn cô độc, giá lạnh,
tàn nhẫn.
- Sự ích kỉ dẫn đến những hậu quả khôn lường với người khác và với chính mình vì
quay lưng với người khác là đánh mất đi cơ hội nhận được sự chia sẻ, giúp đỡ của chính
mình trong những hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn.
* Thí sinh lấy dẫn chứng từ câu chuyện và trong cuộc sống để làm sáng tỏ vấn đề đang
bàn luận.
* Bàn bạc mở rộng: Trong cuộc sống, có nhiều tấm lòng biết chia sẻ, yêu thương
nhưng cũng có không ít kẻ sống ích kỉ, vô cảm, tàn nhẫn cần bị phê phán. * Rút ra bài học: Đừng sống lạnh lùng, ích kỉ; bỏ qua những khác biệt, mở rộng tấm
lòng yêu thương, chia sẻ để cuộc sống con người trở nên gần gũi, ấm áp.

* Về con người Việt Nam:
- Trong lao động, con người Việt Nam cần cù, chăm chỉ, có khát vọng cống hiến cho
đất nước (Lặng lẽ Sa Pa, Mùa xuân nho nhỏ).
- Trong chiến đấu, con người Việt Nam anh dũng, kiên cường, sẵn sàng xả thân vì độc
lập, tự do của Tổ quốc (Những ngôi sao xa xôi).
- Yêu thiên nhiên, lạc quan, yêu đời (Mùa xuân nho nhỏ, Sang thu, Lặng lẽ Sa Pa).
- Bình dị, khiêm nhường, thầm lặng (Lặng lẽ Sa Pa, Mùa xuân nho nhỏ, Những ngôi
sao xa xôi).
* Bên cạnh những điểm chung, học sinh cần chỉ ra được đóng góp riêng của các tác giả
khi khắc hoạ hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
*Lưu ý: Thí sinh có thể có những ý tưởng khác với đáp án; nếu hợp lí, lập luận chặt
chẽ, giám khảo vẫn cho điểm.
II. Cách cho điểm: - Điểm 6: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên; phân tích, chứng minh sâu sắc, diễn đạt
tốt, chữ viết sạch đẹp.
- Điểm 4-5: Đáp ứng cơ bản các yêu cầu trên; diễn đạt tốt; chữ viết rõ ràng; còn một
vài lỗi nhỏ về chính tả, diễn đạt.
- Điểm 3: Đáp ứng được khoảng một nửa số ý trên; diễn đạt tương đối tốt; có thể còn
mắc một số lỗi nhỏ về dùng từ, chính tả, ngữ pháp.
- Điểm 1- 2: Năng lực cảm thụ còn hạn chế; phân tích sơ sài; mắc nhiều lỗi chính tả,
diễn đạt.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
Hết

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Câu 3. (2,0 điểm)
Bên cạnh những lợi ích, mạng xã hội Facebook còn có tác hại không nhỏ đối với giới
trẻ. Em hãy viết một đoạn văn theo phép lập luận diễn dịch hoặc quy nạp (8 đến 10 câu) về tác hại
của mạng xã hội Facebook. Gạch chân câu chủ đề của đoạn văn vừa viết.

Câu 4. (5,0 điểm)
Cảm nhận đoạn thơ sau:
…Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long…
(Trích Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận - SGK Ngữ văn 9,
tập một, trang 140, NXB Giáo dục, 2006)

HẾT

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh:……………………; Số báo danh: ………….; Phòng thi số: …………

Họ tên, chữ ký của giám thị số 1: …………………………………………………………………
- Những lời độc thoại nội tâm ấy thể hiện tâm trạng của ông Hai:
băn khoăn, day dứt nhưng vẫn tin tưởng vào lòng trung thành của
người dân làng Chợ Dầu với cách mạng.
Lưu ý: Có thể thí sinh không xếp đúng nhóm câu văn (theo yêu cầu
của ý 1) nhưng trong nhóm vẫn có câu văn là lời độc thoại nội tâm
của nhân vật, thí sinh vẫn nói đúng tâm trạng của nhân vật thì vẫn cho
điểm như bình thường.
0,25 điểm
0,25 điểm
0,25 điểm
0,25 điểm
0,25 điểm
0,25 điểm
0,5 điểm
Câu 2: (1,0 điểm)
Thí sinh cần chỉ ra và nêu được hiệu quả của hai trong các biện
pháp tu từ sau:
- Biện pháp nhân hóa: Vầng trăng đi qua ngõ. Biện pháp nhân hoá
khiến vầng trăng sinh động và có hồn như con người.
- Biện pháp so sánh: Vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua
đường. Biện pháp so sánh nhấn mạnh sự hờ hững, vô tình của nhân vật
trữ tình với vầng trăng.

1,0 điểm

- Mạng xã hội Facebook có những ảnh hưởng không tốt đến lối sống,
lí tưởng.
- Mạng xã hội Facebook tiềm ẩn nhiều nguy cơ, hiểm hoạ.
Lưu ý: Nếu thí sinh có những ý khác nhưng hợp lí thì giám khảo vẫn linh
hoạt cho điểm, khuyến khích những bài viết sáng tạo.
1,0 điểm
1,0 điểm
Câu 4: (5,0 điểm)
1. Yêu cầu về kỹ năng:
- Biết cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ.
- Bài làm có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính
tả, chữ viết cẩn thận.
2. Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể có những cách cảm nhận khác nhau nhưng cần đảm bảo một số nội
dung cơ bản sau:
* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và đoạn thơ.
* Cảm nhận được vẻ đẹp về nội dung và nghệ thuật của bài thơ:
Về nội dung

Hết

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NAM ĐỊNH
ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2015-2016
Môn: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút

(Đề thi này có 02 trang)

Phần I: Tiếng Việt (2,0 điểm)
Trong 8 câu hỏi sau, mỗi câu có 4 phương án trả lời A, B, C, D; trong đó chỉ có một
phương án đúng. Hãy chọn phương án đúng viết vào tờ giấy làm bài.
Câu 1: Từ nào dưới đây là từ ghép?
A. Lành lạnh C. Lấp lánh
B. Cỏ cây D. Xôm xốp
Câu 2: Trong câu thơ “Vầng trăng đi qua ngõ.”, tác giả Nguyễn Duy sử dụng biện pháp tu
từ:
A. so sánh. C. ẩn dụ.
B. hoán dụ. D. nhân hóa.
Câu 3: Câu văn “Không ai nói với ai, nhưng nhìn nhau, chúng tôi đọc thấy trong mắt nhau
điều đó.” (Lê Minh Khuê) có mấy cụm động từ?
A. Hai C. Bốn
B. Ba D. Năm
Câu 4: Câu “Vâng, cháu cũng nghĩ như cụ.” có sử dụng:
A. thành phần gọi – đáp. C. thành phần phụ chú.

không mà về. Thế gian có biết bao người đọc sách chỉ để trang trí bộ mặt, như kẻ trọc phú
khoe của, chỉ biết lấy nhiều làm quý. Đối với việc học tập, cách đó chỉ là lừa mình dối
người, đối với việc làm người thì cách đó thể hiện phẩm chất tầm thường thấp kém
Và trả lời các câu hỏi dưới đây:
Câu 1: Đoạn văn trích trong văn bản nào? Của ai? (1,0 điểm)
Câu 2: Phương thức biểu đạt chủ yếu của đoạn văn là gì? Xác định nội dung chính của
đoạn văn? (1,0 điểm)
Câu 3: Trình bày suy nghĩ của em về tác dụng của việc đọc sách. (1,0 điểm)
Phần III: Tập làm văn (5,0 điểm)
Về Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, có ý kiến cho rằng: Tác
phẩm không chỉ phản ánh số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ
phong kiến mà còn khẳng định vẻ đẹp truyền thống đáng quý của họ.
Theo em, ý kiến trên thể hiện như thế nào qua nhân vật Vũ Nương?
______________HẾT______________
Họ và tên thí sinh ……………………………. Giám thị số 1 ……………………… Số báo danh ………………. ……………. Giám thị số 2 ……………………
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NAM ĐỊNH
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM THI
ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2015-2016
Môn: NGỮ VĂN


- Liên hệ bản thân và rút ra bài học nhận thức và hành động.
Cách chấm điểm:
+ Từ 0,75 điểm đến 1,0 điểm: Nêu được những suy nghĩ của bản thân về tác
dụng của việc đọc sách một cách sâu sắc, thuyết phục; diễn đạt sáng rõ.
+ Từ 0,25 điểm đến 0,5 điểm: Nêu được suy nghĩ của bản thân nhưng còn chung
chung; còn mắc lỗi diễn đạt.
+ Điểm 0: Không làm hoặc có làm nhưng lạc nội dung.
Phần III: Tập làm văn (5,0 điểm)
Về Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, có ý kiến cho rằng: Tác
phẩm không chỉ phản ánh số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ
phong kiến mà còn khẳng định vẻ đẹp truyền thống đáng quý của họ.
Theo em, ý kiến đã được thể hiện như thế nào qua nhân vật Vũ Nương? Yêu cầu: Thí sinh hiểu được ý kiến, biết cách làm bài nghị luận nhân vật để làm sáng tỏ
ý kiến. Cần đạt được các ý sau:
1. Giới thiệu yêu cầu của đề, trích ý kiến (0,5 điểm)
2. Giải thích ý kiến (0,5điểm)
- Ý kiến khẳng định giá trị nội dung sâu sắc của tác phẩm Người con gái Nam
Xương: không chỉ phản ánh số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế
độ phong kiến mà còn khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ. Chính điều này đã góp
phần tạo nên sức sống muôn đời của áng danh văn.
- Nội dung trên đã được thể hiện tập trung qua hình tượng nhân vật Vũ Nương.
3. Phân tích làm sáng tỏ ý kiến (3,5 điểm)
a. Qua nhân vật Vũ Nương, tác phẩm phản ánh số phận oan nghiệt của người
phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến.
- Là nạn nhân của chiến tranh phong kiến: phải sống cảnh cô phụ chờ chồng,
một mình gánh vác gia đình;
- Là nạn nhân của chế độ nam quyền độc đoán nên phải chịu nỗi oan khuất, cuối
cùng phải chết bi thảm.


- Mắc nhiều lỗi diễn đạt, chính tả trừ 0,25 điểm;
- Toàn bài làm tròn đến 0,25 điểm.
Hết

SỞ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
BÌNH ĐỊNH NĂM HỌC: 2015 – 2016

Đề chính thức:
Môn thi : NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút( Không kể thời gian phát
đề)

Trên hàng cây đứng tuổi.
( Sang thu – Hữu Thỉnh) BÀI GIẢI GỢI Ý
Caâu 1:(4,0 ñieåm)
1. Chủ ngữ chính trong câu “Bên kia những hàng cây bằng lăng, tiết trời đầu thu //
đem đến cho con sông Hồng một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra.”
2. Các thành phần phụ chú trong đoạn văn.
- những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ.
- cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình.
3.Biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn.
- Phép so sánh.
- Giá trị biểu cảm của các biện pháp tu từ so sánh:
Với phép tu từ so sánh, tác giả gợi một không gian có chiều sâu và bề rộng: từ
những bông bằng lăng ngay phía ngoài cửa sổ đến con sông Hồng với màu đỏ nhạt
lúc đã vào thu, vòm trời và bãi bồi bên kia sông.
Đây là một cảnh đẹp chỉ có thể cảm nhận được bằng những cảm xúc tinh tế:
những chùm hoa thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn, mặt sông Hồng như rộng thêm ra,
vòm trời như cao hơn, “những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên
những khoảng bờ bãi bên kia sông…”. Những cảnh sắc ấy vốn rất quen thuộc, gần
gũi nhưng lại như rất mới mẻ với Nhĩ, tưởng chừng như lần đầu tiên anh mới gặp.
4. Hãy nêu điều nghịch lý mà tác giả đã thể hiện trong đoạn văn.
Một con người "đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất" khi lâm

Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Khổ thơ mở đầu có cái hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ.
Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra là hương vị ổi phả trong gió. Mùi hương quê nhà
mộc mạc được gió đưa trong không gian cứ lan tỏa, thoang thoảng bay. Cảm giác bất
chợt đến với nhà thơ: “bỗng nhận ra". Một sự bất ngờ mà như đã đợi sẵn, đợi từ lâu
rồi, để giờ đây có dịp là buông ra ngay. Trong số chúng ta chắc chắn không ai chưa
một lần nếm vị ổi: giòn ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi. Cái dư vị của hương thơm đó
cứ vương vấn lại trong ta khi chợt đọc câu thơ của Hữu Thỉnh. Có hương ổi. Và gió.
Và sương. Những hạt sương thu mềm mại, ươn ướt giăng màn qua ngõ. Mùa thu lại
về. Mùa thu mang theo hương quê và mang theo sương mờ ướt lạnh. Dường như có
thêm sương nên thu dễ nhận hơn. “Sương chùng chình qua ngõ", “chùng chình" hay
là đợi chờ gì đây? Cứ dần dần như thế, cứ nhẹ nhàng, mềm mại như thế, thu đến tự
lúc nào không hay. “Hình như thu đã về". Nhà thơ giật mình, hơi bối rối. Tự bao giờ
nhỉ ? Thu về? Từ hương ổi hay từ gió, hay lừ sương? Hữu Thỉnh cũng hơi ngỡ ngàng
trước thoáng đi bất chợt của mùa thu. Thu về, thu lại về trên quê hương, trên những
con đường bờ đê và trên cả những con sông, cánh chim trời.
Nếu khổ thơ mở đầu là những tín hiệu chuyển mùa thì khổ thơ cuối mùa thu hơi rõ
dần.Vẫn là nắng và mưa của mùa hạ đấy thôi, nhưng chỉ là “vẫn còn” và “vơi dần” –
tất cả ngày một nhạt đi, chứ không như cái nắng gay gắt, chói chan cùng cơn mưa ào,
xối xả của một mùa hạ sôi động nữa. Dường như vẫn còn luyến tiếc lắm, nhưng cuối
cùng hạ vẫn phải chấp nhận rằng: “thu sang” và hạ phải đến một chân trời khác. Bằng
nghệ thuật ẩn dụ sâu sắc, Hữu Thỉnh đã kết thúc khổ thơ qua hai câu văn thấm đẫm
triết lý đáng để ta phải suy ngẫm:
“Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng câu đừng tuổi.”
“Sấm” – đơn thuần là một hiện tượng đặc trưng của mùa hạ khi trước và sau cơn
mưa lớn, “cây đứng tuổi” – theo nghĩa dễ hiểu nhất thì đó chỉ là những cây đã nhiều
tuổi vì sống lâu năm. Nhưng điều mà Hữu Thỉnh muốn gửi đến chúng ta đâu chỉ là
những điều giản đơn đến thế, mà “sấm” ở đây cũng được xem là những thăng trầm,

Đọc kỹ đoạn thơ và trả lời câu hỏi:
"Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu "
(Ngữ văn 8, tập 2, NXBGD 2005, trang 9)
a) Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?
b) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
c) Trong số các từ sau, những từ nào cùng trường từ vựng?
giấy, đỏ, mực, thuê
d) Hai câu cuối của đoạn thơ trên sử dụng biện pháp tu từ gì? Nêu tác dụng của cách sử
dụng biện pháp tu từ đó?
Câu 2. (3,0 điểm)
Viết một đoạn văn phân tích khổ thơ sau:
"Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân "
(Viễn Phương, Viếng lăng Bác, Ngữ văn 9, tập 2, NXBGD 2006, trang 58)
Câu 3. (4,0 điểm)
"Đến lúc được về, cái tình người cha cứ nôn nao trong người anh. Xuồng vào bến, thấy
một đứa bé độ tám tuổi tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới
bóng cây xoài trước sân nhà, đoán biết là con, không thể chờ xuồng cặp lại bến, anh nhún
chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chới với. Anh bước vội vàng với những
bước dài, rồi dừng lại kêu to:
- Thu! Con.
Vừa lúc ấy, tôi đã đến gần anh. Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh
sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước, vừa khom người đưa tay đón
chờ con. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không
ghìm nổi xúc động. Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật,

a
Đoạn thơ trích trong bài thơ: Ông đồ
Tác giả: Vũ Đình Liên
b Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
c Các từ cùng trường từ vựng: giấy, mực
d
Biện pháp tu từ: nhân hóa
Tác dụng: Tả nỗi buồn của sự vật để nói lên nỗi buồn của ông đồ khi thời
thế thay đổi, bị người đời lãng quên. Qua đó, thể hiện niềm thương cảm,
xót xa của Vũ Đình Liên
2. Viết đoạn văn
* Yêu cầu về kỹ năng: Biết tạo lập một đoạn văn, diễn đạt rõ ràng, lưu
loát, đúng chính tả, ngữ pháp.
* Yêu cầu về kiến thức:
+ Đoạn thơ bày tỏ sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn và niềm tiếc thương
vô hạn của nhà thơ cũng là của nhân dân Việt Nam đối với Bác Hồ kính
yêu.
+ Lời thơ trang trọng, thành kính; hình ảnh thơ trong sáng, gợi cảm,
giàu ý nghĩa; sử dụng nhiều biện pháp tu từ: điệp từ, điệp cấu trúc câu, ẩn
dụ
* Cách cho điểm:
- Đáp ứng đầy đủ những yêu cầu trên.
- Đảm bảo kỹ năng dựng đoạn và đạt khoảng hơn nửa số ý.
- Trình bày nội dung sơ sài; kỹ năng dựng đoạn, diễn đạt còn hạn
chế.
Lưu ý: Không cho quá 1/2 tổng số điểm với những bài vi phạm kỹ năng
dựng đoạn. Các mức điểm khác giám khảo linh động chiết điểm.
3.
* Yêu cầu về kỹ năng: Biết làm bài văn nghị luận có bố cục rõ ràng, lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status