SỰ THÀNH LẬP 3 TỔ CHỨC CỘNG SẢN, HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG THÁNG 2 NĂM 1930 VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG - Pdf 28

CHỦ ĐỀ 7:
SỰ THÀNH LẬP 3 TỔ CHỨC CỘNG SẢN, HỘI NGHỊ THÀNH LẬP
ĐẢNG THÁNG 2 NĂM 1930 VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG
I. Sự thành lập 3 tổ chức cộng sản
Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập chế độ thống trị rất tàn
bạo, hà khắc trên đất nước ta.
Các phong trào đấu tranh tiêu biểu diễn ra trong thời kì này như: Phong trào Cần
Vương(1885-1896), Cuộc khởi nghĩa Yên Thế(1884 - 1913)…
Tuy nhiên các phong trào đấu tranh đó đều thất bại
Những năm 1928-1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh
mẽ. Một yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo.
Cuối tháng 3/1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam được thành lập tại số nhà 5D
Hàm Long (Hà Nội)
Tháng 5/1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh
Niên (ở Hương Cảng – Trung Quốc), đoàn đại biểu Bắc kỳ đã đưa ra đề nghị thành lập
Đảng cộng sản, nhưng không được chấp nhận nên họ đã rút khỏi Hội nghị về nước và tiến
hành vận động thành lập Đảng cộng sản. Trong bối cảnh đó các tổ chức cộng sản ở Việt
Nam ra đời:
1. Sự ra đời của “Đông Dương Cộng Sản Đảng”.
Ngày 17-6-1929, đại biểu các tổ chức cộng sản được thành lập ở các tỉnh Bắc Kỳ đã
triệu tập một cuộc họp tại số nhà 312 Khâm Thiên (Hà Nội) quyết định thành lập Đông
Dương Cộng sản đảng.
Hội nghị đã thông qua Chính cương, Tuyên ngôn, Điều lệ của Đảng, xuất bản báo Búa
liềm và cử ra ban chấp hành trung ương lâm thời của đảng bao gồm Trịnh Đình Cửu,
Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, Trần Văn Cung, Nguyễn Phong Sắc, Trần Tư Chính,
Nguyễn Văn Tuân(Kim Tôn).
Việc thành lập Đông Dương Cộng sản đảng đã ảnh hưởng lớn đến phong trào cách
mạng cả nước. Những thành viên tiên tiến trong Thanh niên, Tân Việt…đều hướng về xu
hướng thành lập tổ chức cộng sản, một số gia nhập Đông Dương Cộng sản đảng, một số
xúc tiến giải thể tổ chức cũ để thành lập đảng cộng sản.
2. Sự ra đời của “An Nam Cộng Sản Đảng”

sự tồn tại của 3 tổ chức này và hoạt dộng biệt lập của nó đã dẫn tới sự chia rẽ lớn của
phong trào cách mạng Việt Nam, yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một Đảng
thống nhất lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt
Nam, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu đó của lịch sử: thống nhất
các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.
II. Hội Nghị thành lập Đảng
1. Bối cảnh
Ba tổ chức cộng sản khi ra đời đều giương cao ngọn cờ chống đế quốc, phong kiến, xây
dựng Chủ nghĩa Cộng sản ở Việt. Tuy nhiên, sự tồn tại và hoạt động riêng rẽ của ba tổ
chức cộng sản làm cho lực lượng và sức mạnh của phong trào cách mạng bị phân tán, điều
đó không phù hợp với lợi ích của cách mạng và nguyên tắc tổ chức của đảng cộng sản
Cuối năm 1929, những người cộng sản tiên tiến ở Việt Nam đã tự ý thức được sự cần
thiết phải thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất.
Ngày 27/10/1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người cộng sản ở Đông Dương tài liệu
“Về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương” đã chỉ rõ "Việc thiếu một Đảng
Cộng sản duy nhất trong lúc phong trào quần chúng công nhân và nông dân ngày càng phát
triển đã trở thành một điều nguy hiểm vô cùng cho tương lai trước mắt của cuộc cách
mạng ở Đông Dương". Quốc tế Cộng sản nhấn mạnh: "Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp
bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng
có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần
chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông
Dương. Song, tài liệu này chưa đến tay những người cộng sản Việt Nam.
Lúc đó Nguyễn ái Quốc đang ở Xiêm tìm đường về nước thì nhận được tin Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên phân liệt, "những người cộng sản chia thành nhiều phái",
Nguyễn ái Quốc rời Xiêm đến Hương Cảng (Trung Quốc). "Với tư cách là phái viên của
Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách
mạng ở Đông Dương", Người chủ động triệu tập "đại biểu của hai nhóm (Đông Dương và
An Nam)" và chủ trì Hội nghị hợp nhất đảng tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc).
Hội nghị bắt đầu họp ngày 6-1-1930. Sau này, Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng
(1960) căn cứ vào những tài liệu hiện có, đã ra Nghị quyết về ngày thành lập Đảng, trong

Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Lan, Nguyễn Văn Hới, Nguyễn Phong Sắc, Hoàng Quốc Việt, Phan
Hữu Lầu, Lưu Lập Đạo, do Trịnh Đình Cửu đứng đầu. Tiếp đến các xứ uỷ cũng được thành lập.
Đỗ Ngọc Du là Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ,Nguyễn Phong Sắc, Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ, Ngô Gia Tự, Bí
thư Xứ uỷ Nam Kỳ.
Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban Chấp hành Trung
ương Lâm thời họp và ra quyết nghị chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng
Cộng sản Việt Nam
Như vậy sự kiện Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời thể hiện bước phát triển biện chứng
qua trình vận động của cách mạng Việt Nam - sự phát triển về chất từ Hội Việt Nam cách
mang thanh niên đến ba tổ chức cộng sản, đến Đảng Cộng Sản Việt Nam trên nền tảng CN
Mác – Lenin và quan điểm cách mạng Nguyễn Ái Quốc.
III. Ý nghĩa của việc thành lập Đảng
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã quy tụ ba tổ chức cộng sản thành
một Đảng Cộng Sản duy nhất – Đảng Cộng Sản Việt Nam điều đó có ý nghĩa vô cùng to
lớn được thể hiện rõ trong 2 luận điểm:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 là tất yếu của lịch sử.
+ Kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời
đại mới.
+ Sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào
yêu nước Việt Nam.
Hồ Chí Minh viết:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status