Thời hạn thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ thời điểm
nào?
20:53' 12/9/2010
Việc xác định thời điểm chấp hành hình phạt là rất quan trọng trong
công tác xét xử các vụ án hình sự. Bởi đó không chỉ là thời điểm mà người bị
kết án phải bị áp dụng chế tài hình sự (hình phạt) mà còn là cái mốc để xác
định thời điểm họ chấp hành xong hình phạt và xác định người bị kết án được
xoá án tích từ lúc nào qua đó để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm nếu
sau đó họ tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, hiện nay Bộ luật hình sự năm 1999
(BLHS) cũng như Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) và các văn
bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định cụ thể về thời điểm chấp hành hình
phạt cải tạo không giam giữ tính từ lúc nào nên thực tiễn xét xử vẫn áp dụng
chưa thống nhất.
Khi nói rằng hiện nay pháp luật chưa có quy định thời hạn chấp hành hình
phạt cải tạo không giam giữ tính từ thời điểm nào ắt sẽ có người viện dẫn khoản 5
điều 5 của Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30-10-2000 của Chính phủ quy định
việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 60)
để phản bác lại nhận định này. Tại khoản 5 Điều 5 của Nghị định số 60 đã quy
định: “người bị kết án là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng,
người lao động làm công ăn lương, thì thời gian chấp hành hình phạt cũng được
tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ, nhưng không được tính vào thời gian
xét nâng lương, phong quân hàm theo niên hạn. Thời gian chấp hành hình phạt
được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó nhận được quyết
định thi hành bản án và trích lục bản án”. Để hiểu rõ về quy định này chúng ta có
thể tham khảo thêm khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30-10-
2000 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo (sau đây
gọi tắt là Nghị định số 61). Tại khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61 cũng có quy định
giống như khoản 5 Điều 5 Nghị định số 60 đó là: “người được hưởng án treo là cán
bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn
lương, thì thời gian thử thách cũng được tính vào thời gian công tác, thời gian tại
ngũ, nhưng không được tính vào thời gian xét nâng lương, phong quân hàm theo
tạo không giam giữ tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc có những bản án
tuyên tính từ ngày có quyết định thi hành án.
Những người theo quan điểm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không
giam giữ tính từ ngày tuyên án đã cho rằng: hình phạt cải tạo không giam giữ cũng
giống như thời hạn thử thách của án treo, vì theo quy định tại Điều 31 và Điều 60
của Bộ luật hình sự thì khi chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ và trong
thời gian thử thách của án treo toà án đều giao người bị kết án cho cơ quan, tổ chức
nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú phối
hợp với gia đình người bị kết án để giám sát, giáo dục. từ sự giống nhau đó những
người theo quan điểm này còn cho rằng thời gian thử thách của án treo cũng là loại
hình phạt giống như hình phạt cải tạo không giam giữ, thậm chí có nhiều thẩm
phán còn gọi là “tù treo” để phân biệt với “tù giam” (lưu ý là BLHS chỉ có khái
niệm hình phạt “tù có thời hạn” và “tù chung thân” chứ hoàn toàn không có khái
niệm “tù treo” và “tù giam”). Cái lý của những người theo quan điểm này lập luận
là nếu cho rằng án treo là “biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có Điều kiện”,
mà đã gọi là miễn chấp hành hình phạt tại sao toà án lại phải ra quyết định thi
hành. Và theo quy định tại Điều 264 của Bộ luật tố tụng hình sự và các điều luật đã
viện dẫn ở trên, thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo hoàn toàn giống
như hình phạt cải tạo không giam giữ. Do đó, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo
không giam giữ cũng phải được tính từ ngày tuyên án như cách tính thời hạn thử
thách của án treo.
Ngược lại với quan điểm nêu trên, những người theo quan điểm thứ hai
khẳng định rằng: hình phạt cải tạo không giam giữ và thời gian thử thách của án
treo là hoàn toàn khác nhau về bản chất. Cải tạo không giam giữ là một loại hình
phạt trong hệ thống các hình phạt được quy định tại Điều 28 của Bộ luật hình sự.
Còn án treo không phải là một loại hình phạt mà là một biện pháp miễn chấp hành
hình phạt tù có điều kiện. tức là căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các
tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì toà
án cho miễn chấp hành hình phạt tù với một điều kiện là trong thời hạn thử thách
do toà án ấn định người bị kết án phải không phạm tội mới, nếu trong thời hạn đó
việc chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ với thời gian thử thách của án
treo. Bản chất của án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
Ngoài ra, việc quy định đưa bản án cho hưởng án treo ra thi hành án liệu có phù
hợp với cơ sở lý luận về bản chất của án treo hay không? Đây cũng là vấn đề cần
phải nghiên cứu xem xét lại nhất là khi xây dựng ban hành luật thi hành án hình sự.
Để có sự nhận thức và áp dụng thống nhất trong việc xác định thời điểm
chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ nhằm phát huy được tác dụng và hiệu
quả của loại hình phạt này và sự công bằng giữa những người bị kết án, rất mong