Hình phạt cải tạo không giam giữ trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HIỀN HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2007

1

2

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN

Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục MỞ ĐẦU
1

21
1.2.2.
Ý nghĩa của hình phạt cải tạo không giam giữ
23
1.2.2.1.
Ý nghĩa chính trị xã hội
23
1.2.2.2.
Ý nghĩa pháp lý
24
1.2.3.
So sánh hình phạt cải tạo không giam giữ với một số
hình phạt và biện pháp hình sự khác
25
1.2.3.1.
So sánh với một số hình phạt khác
25
1.2.3.2.
So sánh với biện pháp pháp lý hình sự khác - án treo
27
1.3.
Hình phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật hình
sự một số nước
30

Chương 2: HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM
GIỮ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
37
2.1.
Trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985

không giam giữ
72
3.2.3.
Các biện pháp tăng cường hiệu quả áp dụng hình
phạt cải tạo không giam giữ
73

KẾT LUẬN
78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
80 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với tội phạm là trừng trị kết
hợp với cải tạo, giáo dục cảm hóa; thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục,
cảm hóa cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó bồi
dưỡng mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp
luật, chủ động tích cực tham gia đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách tư pháp theo Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 là hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, dân sự và
thủ tục tố tụng tư pháp. Để thực hiện được nhiệm vụ trên, Nghị quyết xác định:
Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư
pháp phù hợp với mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và

văn thạc sĩ luật học của mình là "Hình phạt cải tạo không giam giữ trong
Luật Hình sự Việt Nam".
2. Tình hình nghiên cứu
Hình phạt cải tạo không giam giữ trong pháp luật hình sự Việt Nam là
một trong những chế định pháp lý hình sự quan trọng trong chính sách hình
sự của Nhà nước ta. Bản thân hệ thống hình phạt nói chung và hình phạt cải
tạo không giam giữ nói riêng đã được nhiều nhà khoa học, học giả quan tâm
nghiên cứu, được đề cập trong nhiều bài viết nghiên cứu - trao đổi, xây dựng
pháp luật… và được thể hiện trên báo chí trung ương và địa phương, nhất là
các báo, tạp chí chuyên ngành pháp luật. Ví dụ như: Pháp luật thi hành án
hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, 2006, của
PGS.TS Võ Khánh Vinh và PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng; Tìm hiểu về hình 3
phạt và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị
quốc gia, 2000, của ThS. Đinh Văn Quế; Hình phạt trong luật hình sự Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 1994, của tập thể nhiều tác giả. Tuy nhiên, hình
phạt cải tạo không giam giữ vẫn chưa được quan tâm đúng mức, các nghiên
cứu về hình phạt cải tạo không giam giữ thường mới chỉ đề cập, tập trung
nghiên cứu chung với các hình phạt khác hoặc từ góc độ khác. Cho đến nay
chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về
hình phạt cải tạo không giam giữ để trên cơ sở đó đưa ra được giải pháp hoàn
thiện pháp luật hình sự nói chung và hệ thống hình phạt nói riêng nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng hình phạt này.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý
luận, phân tích các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt cải
tạo không giam giữ, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định của Luật
Hình sự về cải tạo không giam giữ và kiến nghị, đề xuất những giải pháp nâng

Chương 1: Một số vấn đề chung về hình phạt cải tạo
Chương 2: Hình phạt cải tạo không giam giữ theo luật hình sự Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và một
số kiến nghị.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ

1.1. KHÁI NIỆM HÌNH PHẠT
Để có cái nhìn toàn diện về hình phạt cải tạo không giam giữ - những
vấn đề lý luận và thực tiễn, trước tiên, chúng ta cần xem xét một cách tổng thể
lý luận về hình phạt.
1.1.1 . Định nghĩa
"Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện của xã hội để
tự bảo vệ mình chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó" [28, tr. 513].
Với khẳng định này, Mác đã chỉ dẫn về tính phổ biến, tính giai cấp và tính
lịch sử của hình phạt. Theo đó, hình phạt là một trong những công cụ, phương
tiện chủ yếu và lâu đời để thực hiện chính sách hình sự nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích của Nhà nước và giai cấp lãnh đạo nói riêng, của xã hội nói chung.
Lịch sử phát triển của Hình phạt trong luật hình sự ghi nhận nhiều
quan điểm khác nhau về hình phạt nhưng tựu chung lại xoay quanh hai quan
điểm chủ chốt:
Thời kỳ trung cổ, với phương ngôn "nợ máu phải trả bằng máu", hình
phạt đã từng được coi là công cụ trả thù người phạm tội. Nhà cầm quyền đã
nghĩ ra những biện pháp hà khắc, dã man nhất để trừng phạt người phạm tội
như: phanh thây, bêu đầu, tùng xẻo, chặt tay…

được ghi nhận lần đầu tiên (tại Điều 26):
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của
Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người
phạm tội. 7
Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa
án quyết định [10].
Bắt đầu từ đây, các nhà luật học đã đưa vào các tài liệu, sách báo pháp lý
chuyên khảo xuất bản ở nước ta một quan niệm khá thống nhất về hình phạt.
Tuy nhiên, chúng ta đồng tình với quan điểm của Tiến sĩ khoa học -
PGS Lê Văn Cảm, tại Điều 26 Bộ luật Hình sự 1999 nên sửa thuật ngữ pháp
lý "người phạm tội" thành "người bị kết án".
Các dấu hiệu đặc trưng được chỉ ra từ khái niệm hình phạt nói trên
bao gồm:
- Hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất so
với tất cả các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác của Nhà nước. Hình
phạt là biện pháp tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền, lợi ích của người bị kết
án. Việc áp dụng hình phạt đối với người bị kết án sẽ đưa đến hậu quả pháp lý
là người đó bị coi là có án tích. Chịu hình phạt, người bị kết án có thể bị tước
bỏ hoặc bị hạn chế quyền tự do, quyền về tài sản, về chính trị, thậm chí cả
quyền sống
- Hình phạt chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội. Hình phạt là
một trong những dấu hiệu cấu thành tội phạm (là một dạng của trách nhiệm
hình sự). Các dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính trái pháp
luật hình sự và tính có lỗi của người phạm tội luôn gắn liền với tính chịu
hình phạt.
- Cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng hình phạt là tòa án. Ngoài
tòa án không có cơ quan nào khác có quyền quyết định hình phạt.

phạm tội, mà còn nhằm giáo dục người bị kết án có thái độ đúng đắn đối với
lao động, tuân thủ pháp luật và tôn trọng các quy tắc cuộc sống xã hội chủ
nghĩa, cũng như phòng ngừa phạm tội mới, không chỉ riêng đối với người bị
kết án mà cả những người khác". 9
Pháp luật hình sự Mỹ (Đ3 - 101 Điều 3 "Các hình phạt'' trong Luật
mẫu năm 1978 về quyết định và thi hành hình phạt), tại các quy phạm liên
quan đến các mục đích của hình phạt đã khẳng định những đặc điểm cơ bản
như sau: 1. Khi trừng trị kết án cần phải đảm bảo việc quyết định hình phạt
cho phù hợp với tội phạm mà người đó đã thực hiện. 2. Khi quy định tính chất
ngăn ngừa hợp pháp của bản án và thủ tục công bằng trong việc tuyên án phải
đảm bảo sự đối xử công minh với tất cả những người bị kết án bằng cách loại
trừ sự bất bình đẳng không thể chấp nhận được trong việc thi hành hình phạt.
3. Ngăn ngừa việc phạm tội và đảm bảo sự tôn trọng pháp luật được thực hiện
bằng cách: a) Tìm phương pháp có hiệu quả để răn đe những người khác có
khả năng thực hiện tội phạm tương tự; b) Cách ly những người có quá khứ về
hình sự lâu dài (ý nói những kẻ phạm tội hình sự chuyên nghiệp); c) Hỗ trợ
cho việc thực hiện các chương trình cải tạo nhằm mục đích đạt được sự tự
nguyện trong việc hợp tác và tham gia của những người phạm tội vào các
chương trình đó.
Luật hình sự Việt Nam có quan điểm chính thức của Nhà nước về mục
đích hình phạt, thể hiện tại Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự
1999. Theo đó:
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà
còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức
tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ
nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục
người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội

phạt đảm bảo cho công bằng xã hội được thiết lập và duy trì vững chắc.
Song song với bảo đảm công bằng xã hội, hình phạt còn hướng tới mục
đích phòng ngừa tội phạm. Trong mục đích này tồn tại ba nội dung cơ bản:
- Cải tạo và giáo dục người bị kết án, đồng thời ngăn ngừa họ phạm
tội mới - ngăn ngừa riêng. Tác động của phòng ngừa riêng chủ yếu ở sự giáo 11
dục cho người phạm tội nhận thức đầy đủ và đúng đắn về pháp luật, hướng
người phạm tội hoàn lương, kìm chế không cho họ phạm tội mới.
- Góp phần giáo dục các thành viên khác trong xã hội ý thức tôn trọng,
tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật - ngăn ngừa chung. Hình phạt
có tác động nâng cao ý thức pháp luật của công dân, ngăn cản và phòng ngừa
họ có các hành vi vi phạm pháp luật hình sự.
Hiệu quả phòng ngừa chung phụ thuộc một phần quan trọng vào kết
quả phòng ngừa riêng. Nếu phát sinh xung đột giữa phòng ngừa chung và
phòng ngừa riêng thì mục đích của phòng ngừa riêng phải dựa vào phòng
ngừa chung.
- Hỗ trợ cho cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Ở góc độ này,
hình phạt có tác dụng giáo dục, động viên, tập hợp quần chúng nhân dân tham
giam vào quá trình đấu tranh phòng và chống tội phạm. Bên cạnh đó, hình phạt
là công cụ để cơ quan thi hành pháp luật tiến hành các hoạt động tố tụng của
mình để duy trì trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội và Nhà nước.
Tóm lại, trừng trị và cải tạo, giáo dục là phương tiện để hình phạt đạt
được mục đích cuối cùng là bảo đảm công bằng xã hội và phòng ngừa tội
phạm. Với từng hình phạt cụ thể, nội dung thực chất của mục đích hình phạt
cũng theo đó mà đậm nhạt khác nhau. Điều đó dẫn đến đòi hỏi sự linh hoạt tối
đa của những người cầm cân nẩy mực trong các quyết định hình phạt. Một
hình phạt không công bằng sẽ không có tác dụng cải tạo người phạm tội và
răn đe, giáo dục chung đối với xã hội. Sự công bằng phải luôn được duy trì

bản khác có tính chất hình sự và bao gồm 12 hình phạt: 1. Tử hình; 2. Tù chung
thân; 3. Tù có thời hạn; 4. Cải tạo không giam giữ; 5. Tịch thu một phần hoặc
toàn bộ tài sản. 6. Buộc phải bồi thường thiệt hại đã gây ra; 7. Tước một số
quyền công dân; 8. Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định hoặc làm nghề nhất
định; 9. Cư trú bắt buộc; 10. Cấm cư trú; 11. Quản chế; 12. Phạt tiền. 13
Bộ luật Hình sự 1985 ra đời tạo một bước ngoặt phát triển quan trọng
của pháp luật hình sự. Lần đầu tiên một hệ thống hình phạt gồm 11 loại hình
phạt được quy định chặt chẽ và chính xác với những điều kiện áp dụng cụ thể
có tính chất bắt buộc với Tòa án thành một điều luật (Điều 21). Theo đó hình
phạt cảnh cáo được quy định bổ sung, đồng thời các hình phạt buộc phải bồi
thường thiệt hại đã gây ra, cư trú bắt buộc bị loại bỏ. Ngoài ra, có hai loại
hình phạt nữa được quy định để áp dụng riêng đối với quân nhân phạm tội là:
Cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội và Tước danh hiệu quân nhân.
Điều 28, Bộ luật Hình sự 1999 quy định hệ thống hình phạt như sau:
Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
1. Hình phạt chính bao gồm: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền; c)
Cải tạo không giam giữ; d) Trục xuất; đ) Tù có thời hạn; e) Tù
chung thân; g) Tử hình.
2. Hình phạt bổ sung bao gồm: a) Cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; b) Cấm cư trú; c)
Quản chế; d) Tước một số quyền công dân; đ) Tịch thu tài sản; e)
Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;
g) Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.
3. Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một
hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ
sung [10].
Bộ luật Hình sự hiện hành đã đưa ra một hệ thống hình phạt mà ở đó

- Hệ thống hình phạt phải có tính linh hoạt đảm bảo các điều kiện cần
thiết để các loại hình phạt phát huy tác dụng của mình.
- Hệ thống hình phạt phải có tính khả thi. Điều đó đòi hỏi việc quy
định trình tự áp dụng các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt phải tương 15
ứng với sự phân chia các tội phạm thành các loại nhất định. Mặt khác, hệ
thống hình phạt phải được quy định một cách cụ thể, rõ ràng và chính xác nội
dung và điều kiện áp dụng, cũng như giới hạn tối thiểu và tối đa của các loại
hình phạt.
1.2. HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Bản chất pháp lý
Cải tạo không giam giữ được quy định tại Điều 31 Bộ luật Hình sự
1999 như sau:
1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến
ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội
nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn
định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết
phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.
Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian
tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải
tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày
cải tạo không giam giữ.
2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương
nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị
kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền
địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

như các hình phạt khác, cải tạo không giam giữ một mặt có tính cả đến đặc
điểm của hình phạt nhưng mặt khác có nội dung, điều kiện và giới hạn áp
dụng cụ thể riêng. 17
1.2.1.2. Đặc điểm
- Điểm nổi bật của hình phạt này chính là khả năng tiến hành trừng trị
và giáo dục, cải tạo người bị kết án nhưng không cần cách ly họ ra khỏi xã
hội. Người bị kết án được thi hành án trong môi trường bình thường trước sự
giám sát, giáo dục của cơ quan tổ chức hoặc chính quyền địa phương cụ thể.
Người bị kết án hoàn toàn được quyền tham gia lao động, được bố trí làm
việc trong những vị trí hợp lý, được sinh hoạt bình thường, được trả công lao
động và tiếp tục hưởng các chế độ xã hội như họ đã từng được hưởng trước
khi phạm tội và bị kết án.
- Khác với các hình phạt tù, việc thi hành án cải tạo không giam giữ
không phải được giao cho một cơ quan chuyên trách thực hiện. Thẩm quyền
giám sát giáo dục này thuộc về cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi
người bị kết án cư trú hoặc lao động sản xuất. Hình phạt này thể hiện rất rõ
chính sách xã hội hóa công tác thi hành án của Đảng và Nhà nước ta trong
những năm gần đây. Sự phối hợp giữa cơ quan, tổ chức và gia đình người bị
kết án là điều cần thiết để tạo ra hiệu quả của hình phạt này. Những cơ quan
này được tự do thực hiện các biện pháp giám sát để quản lý người bị kết án.
Pháp luật hiện hành quy định rất cụ thể về các cơ quan, tổ chức có thể được
tòa án giao trách nhiệm giáo dục, giám sát là:
+ Cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý người bị kết án, nếu người đó là
cán bộ, công chức, người đang học tập tại các cơ sở giáo dục, đào tạo;
+ Đơn vị quân đội từ cấp đại đội hoặc tương đương trở lên, nếu người
bị kết án là quân nhân, công nhân quốc phòng;
+ Doanh nghiệp, hợp tác xã nếu người bị kết án là người lao động làm

+ Người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để
sung quỹ nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc 19
khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án. Trường hợp phải
thực hiện khấu trừ thu nhập, người đó phải tiến hành khai báo và giao nộp đầy
đủ phần thu nhập bị khấu trừ theo quyết định của Tòa án cho cơ quan thi hành
án dân sự. Nếu không nộp đúng hạn thì phải chịu lãi suất theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
+ Làm bản cam kết với cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục, trong đó
nêu rõ nội dung quyết tâm và hướng sửa chữa lỗi lầm của mình. Bản cam kết
phải có ý kiến của người người trực tiếp giám sát, giáo dục. Đồng thời người
bị kết án phải thực hiện nghiêm chỉnh bản cam kết của mình, phải tích cực
sửa chữa lỗi lầm, làm ăn lương thiện và tham gia các hoạt động chung tại
cộng đồng nơi mình cư trú. Trong thời gian cải tạo, người thực hiện cải tạo
không giam giữ phải ghi chép đầy đủ các nội dung quy định trong sổ theo dõi
và nộp cho người trực tiếp giám sát, giáo dục khi hết thời hạn cải tạo không
giam giữ;
+ Bên cạnh đó, hàng tháng, người thực hiện cải tạo không giam giữ
phải báo cáo bằng văn bản với người trực tiếp giám sát, giáo dục về tình hình
rèn luyện, tu dưỡng của mình. Trong trường hợp người bị kết án vắng mặt
khỏi nơi cư trú trên 30 ngày, thì bản báo cáo phải có nhận xét của cảnh sát
khu vực hoặc công an xã nơi người đó đến tạm trú. Cứ ba tháng một lần,
người bị kết án phải tự kiểm điểm về kết quả thực hiện bản cam kết của mình
trước tập thể nơi mình làm việc, học tập hoặc cư trú;
+ Phải có mặt khi cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục yêu cầu;
+ Trong trường hợp người bị kết án cần đi khỏi nơi cư trú:
Nếu là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người
lao động làm công ăn lương, thì phải xin phép Thủ trưởng cơ quan, tổ chức

phạm tội bị áp dụng hình phạt này khi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi họ gây ra không lớn hoặc lớn chưa đến mức phải chịu hình phạt tù và nếu 21
cảnh cáo và phạt tiền thì quá nhẹ. Không buộc người phạm tội phải vào trại
cải tạo tước đi quyền tự do thân thể của họ, nhưng với hình phạt này người
phạm tội phải chịu sự giám sát chặt chẽ, nghiêm ngặt của cơ quan, tổ chức nơi
họ làm việc, sinh sống, thường trú. Người phạm tội phải cải tạo, tự sửa chữa
bản thân mình, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước; tích cực
tham gia lao động, học tập, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, quy tắc của
thôn, làng, bản, cụm dân cư nơi mình cư trú, sinh sống.
- Giống như các hình phạt khác, cải tạo không giam giữ có quy định
rất chặt chẽ về thời hạn thi hành. Theo luật hình sự 1999, thời gian đó kéo dài
từ 6 tháng đến 3 năm. Mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt này được ghi
nhận cụ thể. Tòa án không thể tuyên án dưới mức tối thiểu và vượt mức tối
đa. Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm
giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ
một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ.
1.2.1.3. Điều kiện áp dụng
Mục đích của hình phạt cải tạo không giam giữ là tạo điều kiện cho người
bị kết án tự giác cải tạo, giáo dục trong môi trường xã hội bình thường, không
bị tước tự do. Vì vậy, để áp dụng hình phạt này trong thực tiễn xét xử, Bộ luật
Hình sự năm 1999 quy định cụ thể điều kiện để áp dụng. Các điều kiện đó là:
- Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người phạm
tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn
định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly
người phạm tội khỏi xã hội.
Như vậy, điều kiện đầu tiên để người phạm tội được hưởng hình phạt
cải tạo không giam giữ là tội mà người đó phạm phải là tội ít nghiêm trọng "là

gồm những chi tiết nào? Không có quy định chi tiết về các vấn đề trên, với
những gợi ý mở cho phép Tòa án tự đánh giá về khả năng tự cải tạo giáo dục
của người phạm tội, pháp luật vô hình chung đã tạo điều kiện cho các sai lầm

Trích đoạn So sánh với biện pháp pháp lý hình sự khác án treo HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ Thực tiễn áp dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status