ÔN tập LUẬT hôn NHÂN và GIA ĐÌNH - Pdf 28

Ôn tập Luật Hôn nhân & Gia đình
1.Nam tròn 20 tuổi, nữ tròn 18 tuổi trở lên mới được đăng kí kết hôn.
SAI: Chỉ cần Nam đang ở tuổi hai mươi (19 tuổi + 1 ngày), nữ đang ở tuổi
mười tám(17 tuổi + 1 ngày) là đã đủ điều kiện về tuổi kết hôn. Đ.9 LHN
2. Mọi trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng
ký kết hôn thì ko được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. SAI: Quan hệ vợ
chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 nếu chưa đăng ký kết hôn mà
chung sống với nhau như vợ chồng thì vẫn được pháp luật công nhận là vợ
chồng và chỉ khuyến khích chứ không bắt buộc đăng ký kết hôn. NQ.35
3. Những giao dịch lien quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ
chồng do 1 bên vợ hoặc chồng thực hiện luôn bị coi là vô hiệu.

SAI: Giao dịch đối với tài sản chung nhưng đã được chia để đầu tư kinh
doanh riêng theo qui định tại khỏan 1 Điều 29 vẫn có thể do 1 bên xác lập
thực hiện.
4.Khi vợ hoặc chồng thực hiện những giao dịch phục vụ cho nhu cầu thiết yếu
của gia đình mà không có sự đồng ý của bên kia thì người thực hiện giao dịch
đó phải thanh toán bằng tài sản riêng của mình.
SAI: Đối với những giao dịch phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình do 1
bên thực hiện mà không có sự đồng ý của bên kia thì TS chung của vợ chồng
sẽ được chi dùng để thanh tóan. Đ.25
5.Quan hệ nuôi con nuôi chỉ chấm dứt khi có sự thoả thuận của cha mẹ nuôi
và con nuôi.
SAI: Quan hệ nuôi con nuôi còn được TA ra quyết định chấm dứt khi con
nuôi bị kết án theo qui định tại khỏan 2 Điều 76 hoặc trong trường hợp cha
mẹ nuôi đã có các hành vi qui định tại khỏan 3 Điều 67 hoặc khỏan 5 Điều
69.
6. Những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng là kết hôn trái pháp
luật.
SAI: Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết
hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do PL qui định. Đ.9(a.2 k1 NQ02/2000)

1. Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục con riêng cùng sống chung với mình theo quy định tại các
điều 34, 36 và 37 của Luật này.
2. Con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ
kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 35 và Điều 36 của Luật
này.
3. Bố dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng không được
ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau.”
13. Con riêng và bố dượng mẹ kế có tất cả các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ
và con khi cùng chung sống với nhau.
ĐÚNG: Theo qui định tại các điều từ 34 đến 38.
14. Tài sản chung của vợ chồng nếu phải đăng kí quyền sở hữu thì phải đăng
kí tên của hai vợ chồng, do đó tài sản nào đứng tên 1 bên vợ hoặc chồng sẽ là
tài sản riêng của người đó.
SAI: Tài sản đứng tên 1 bên vợ hoặc chồng nhưng không có chứng cứ chứng
minh tài sản đó là tài sản riêng của bên đó thì tài sản đó vẫn là tài sản
chung. K3 D9.5 NĐ 70/CP
15. Đơn xin ly hôn bắt buộc phải có chữ kí của cả vợ và chồng.
SAI: Trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên thì đơn xin ly hôn chỉ cần
có chữ ký của một bên.
16. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân chỉ được đặt
ra khi vợ chồng không thoả thuận được việc dùng tài sản chung để thực hiện
nghĩa vụ riêng về tài sản của một bên vợ hoặc chồng.
SAI: Việc thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân còn được đặt ra trong trường hợp vợ chồng có nhu cầu đầu tư kinh
doanh riêng.Đ.29
17. Khi vợ hoặc chồng bị toà án tuyên bố mất tích bằng 1 quyết định co hiệu
lực pháp luật thì quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt.
SAI: Quan hệ hôn nhân trong trường hợp này chỉ thực sự chấm dứt khi yêu
cầu xin ly hôn của người có vợ hoặc chồng đã bị tòa án tuyên bố mất tích

kết hôn với nhau.
SAI: Pháp luật nghiêm cấm những người đã từng là cha mẹ nuôi kết hôn với
con nuôik4đ10 va nq02.
26. Khi đi làm con nuôi người khác, người con đó sẽ chấm dứt quyền và
nghĩa vụ đối với gia đình cha mẹ đẻ.
SAI: Khi được cho đi làm con nuôi người khác thì nguời con đó vẫn được PL
đảm bảo quyền thừa kế đối với cha mẹ đẻ.d74
27. Thuận tình ly hôn ko cần phải thông qua thủ tục hoà giải.
SAI: Hòa giải tại tòa án là thủ tục bắt buộc trong trường hợp có tranh chấp TS
chung hoặc con chung. d88
28. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản có trong thời kì hôn nhân.
SAI: Còn có thể là các tài sản riêng có trước thời kỳ hôn nhân nhưng được
nhập vào khối tài sản chung.
Khoản 1.đều 27. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng
tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu
nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ
chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác
mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
29. Mọi tài sản mà vợ hoặc chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều
là tài sản chung.
Sai/ Vì khi vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản
tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân từ số tài sản đã chia sẽ thuộc sở hữu riêng
của mỗi người
- Trường hợp vợ chồng thực sự tự nguyện ly hôn, đã thoả thuận được
về việc chia tài sản và nuôi dưỡng con cái thì Toà án phải chấp nhận cho ly
hôn.
Sai/ Trường hợp người vợ đang còn mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ
dưới 12 tháng tuổi thì không được ly hôn. Trong trường hợp này người chồng
bị hạn chế do luật định (khoản 2, điều 85 Luật HNGĐ). Nếu có thể chỉ là
người vợ đứng tên xin ly hôn thì Tòa án mới thụ lý vụ việc

tài sản chung vợ chồng. Tuy nhiên, theo qui định tại khoản 2 Điều 8
NĐ70/2001 về hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân có qui định: “Thu nhập do lao động, họat động SXKD và những thu
nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân sẽ là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận
khác”. Theo luật định thì “thỏa thuận khác” ở đây phải là “thỏa thuận bằng
văn bản”. Dẫn chứng: khoản 1 Điều 4 NĐ70/2001 qui định: “… sự thỏa thuận
của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký
của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực)”. Ở đây đề bài chỉ nói là
“A nói với B” nên coi như thỏa thuận với nội dung “lương của B sẽ chi tiêu
cho gia đình còn A kinh doanh để tích lũy cho gia đình” không được xem là
“thỏa thuận của vợ chồng”. Như vậy, đối chiếu với qui định tại khoản 2 Điều
8 NĐ70/2001 thì số lương 5 triệu/tháng của B vẫn là tài sản riêng của B.
Cũng thế, theo khoản 1 Điều 8 NĐ70/2001 thì: “Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ
chồng có thỏa thuận khác bằng văn bản”. Do vậy, số tiền thu được từ việc A
kinh doanh từ tài sản riêng của mình (sau 3 năm là 200 triệu) vẫn là tài sản
riêng của A bởi lẽ hai người không có thỏa thuận nào khác bằng văn bản. Số
tiền này nếu A không đồng ý nhập vào khối tài sản chung của 2 người thì mặc
nhiên nó vẫn là tài sản riêng của A và A có toàn quyền định đoạt, muốn làm
gì thì làm, muốn cho ai thì cho (không vi phạm khoản 5 Điều 33 do hoa lợi,
lợi tức từ tài sản riêng không phải là nguồn sống duy nhất của gia đình do đó
A có quyền định đọat mà không cần hỏi ý kiến B). Việc B phát hiện mối quan
hệ bất chính của A và yêu cầu tòa cho ly hôn là có cơ sở và phù hợp các qui
định của PL. Tuy nhiên việc B yêu cầu “đòi lại số tài sản đã có” là không có
cơ sở. Ở đây B không thể “đòi lại số tài sản đã có” mà B chỉ có thể đòi lại
những tài sản nào là “tài sản riêng” của mình đồng thời yêu cầu tòa phân định
“phần tài sản mà mình được chia trong khối tài sản chung của vợ chồng” mà
thôi. Theo Điều 95 về nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn thì khi phân xử, tòa
án phải bảo đảm 2 nguyên tắc : (1) “Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền

sao?
Về chia tài sản:
Trong lễ cưới, cha mẹ anh T đã tuyên bố cho chị H sợi dây chuyền nên
đấy sẽ là tài sản riêng của của chị H. Còn mảnh đất và ngôi nhà cùng với các
tài sản có được trong thời kỳ anh chị chung sống và con cái thì chia như khi
anh chị ly hôn. Vì ngôi nhà anh chị được cha mẹ anh T tặng cho chung nên là
tài sản của cả hai người.
- Chị H có đơn yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa anh T và
chị X. Toà án sẽ xử lý yêu cầu này ra sao?
Trước tiên, ta xem xét quan hệ giữa anh T và chị H có phải là vợ
chồng không.
Tại khoản 2.TT01: Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với
nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001
(ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện
kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ
chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội
họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày
01/01/2003; do đó, cần phân biệt như sau:
a. Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng
ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý
vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý trong trường hợp họ
thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết
số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể
từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ
ngày đăng ký kết hôn.
Việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số
35 của Quốc hội do Bộ Tư pháp hướng dẫn.
b. Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo
quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status