MỞ ĐẦU
Giáo dục và nuôi dưỡng là hai yếu tố then chốt quyết định hình thành nên tính
cách của mỗi con người.Việc nuôi dạy con trẻ gần nhất là gia đình, sau đó là xã hội.
Giáo dục cho mọi người và tiến tới xây dựng xã hội học tập còn là mục tiêu căn bản,
chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, tình
trạng trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm ở Việt Nam hiện nay vẫn còn là vấn đề đáng
quan tâm mà trách nhiệm trên hết là của cha mẹ và những người thân trong gia đình.
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Vai trò và trách nhiệm của cha mẹ và những người thân thích đối với sự
hình thành và phát triển của trẻ em.
Trong mỗi gia đình vai trò của bố mẹ có vị trí quan trọng. Theo truyền thống
Việt Nam, đàn ông thường là chủ của gia đình. Người cha là trụ cột, là biểu hiện của
nhân cách văn hóa cao đẹp nhất để con cái học tập và noi theo. Còn người mẹ là chỗ
dựa, là nguồn lửa sưởi ấm tình yêu thương trong gia đình, nguồn tình cảm vô tận
cho các con. Cho nên gia đình là cái nôi văn hóa đầu tiên hình thành nhân cách cho
trẻ em.
Văn hóa trong gia đình nói chung, quan hệ vợ chồng nói riêng đều có sự ảnh
hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các thành viên trong
gia đình. Bầu không khí tâm lý – đạo đức của gia đình tác động trực tiếp đến nếp
nghĩ, lối sống của trẻ. Mọi xung khắc của các cá nhân trong gia đình, nhất là giữa bố
và mẹ, đều ảnh hưởng đến con cái.
Trong gia đình, ngoài các mối quan hệ nói trên còn có mối quan hệ giữa ông
bà và các cháu, anh chị và các em. Mối quan hệ này càng bền chặt thì càng làm
phong phú thêm đời sống tinh thần của các cá nhân trong gia đình. Những người lớn
tuổi phải làm gương cho con cháu, tự điều chỉnh hành vi của mình thì mới đáp ứng
được vấn đề đạo đức, văn hóa và các mối quan hệ đặt ra trong phạm vi gia đình.
Giáo dục con cái không thể chỉ bằng lời nói mà phải bằng những công việc,
ghét gia đình. Trong hoàn cảnh đó trẻ dễ bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng, khống chế thực
hiện những hành vi trái pháp luật. Con hư còn bởi cách dạy. Sự quá nuông chiều,
thỏa mãn mọi nhu cầu của con cái, thói quen đòi gì được nấy.
Ngày nay, với những biến đổi của nền kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường
văn hóa gia đình đang có biểu hiện xuống cấp vì những tác động xấu của đời sống
xã hội. Với ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã
kích thích nhu cầu ham muốn vật chất, ít chú trọng đời sống tình cảm tinh thần, tình
trạng xung đột gia đình dẫn đến đổ vỡ và ly hôn ngày càng gia tăng, làm cho gia
đình không được bền vững. Do đó chúng ta cần đặc biệt chú trọng giải quyết vấn đề
gốc rễ là giáo dục con trẻ trong gia đình.
2. Quyền được học tập của trẻ em trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Một trong những quyền cơ bản nhất của trẻ em là quyền được học tập. Trong
Công ước về quyền trẻ em cũng như trong pháp luật Việt Nam, học tập không
những được quy định là quyền của trẻ em mà còn là bổn phận của cha mẹ, gia đình
và toàn xã hội. Chính vì vậy, cha mẹ và những người thân trong gia đình có nghĩa
vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con được học tập. Mục tiêu
giáo dục được thể hiện trong Công ước về quyền trẻ em: “Gíao dục phảiphải nhằm
phát triển nhân cách, tài năng, các khả năng tinh thần và thể chất của trẻ em đến
mức cao nhất. Giáo dục phải chuẩn bị cho trẻ em một cuộc sống tích cực ở tuổi
người lớn trong một xã hội tự do và khuyến khích trẻ em lòng kính trọng cha mẹ,
bản sắc, văn hóa, ngôn ngữ và các giá trị của mình cũng như nguồn gốc văn hóa và
các giá trị của người khác”.
Cũng nhằm khẳng định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc giáo dục và
giúp đỡ con hoàn thiện về nhân cách, trưởng thành lành mạnh và trở thành người có
ích cho xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định trong một số điều
như:
Khoản 1 Điều 34 về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ:
“1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng,
năm gần đây – khi mà toàn ngành giáo dục thực hiện quyết liệt cuộc vận động "Hai
không" và Chỉ thị 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về
chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục. Tuy nhiên, tình trạng
trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm hiện nay vẫn còn báo động ở mức cao.
Theo số liệu thống kê được công bố hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỉ
lệ học sinh bỏ học ở tiểu học bắt đầu giảm từ năm học 2006-2007, ở trung học (gồm
trung học cơ sở và trung học phổ thông) đã giảm từ năm học 2005-2006, học kỳ I
năm học 2007-2008, tỉ lệ học sinh bỏ học đã giảm mạnh ở tất cả các cấp học. Cụ
thể:
- Ở cấp Tiểu học: từ năm học 2003-2004 đến năm học 2006-2007, tỉ lệ học
sinh bỏ học dao động từ 2,25% đến 3,33%; nhưng đến học kỳ I năm học
2007-2008, chỉ còn 0,19% . Theo đó, ở học kỳ I năm học 2007 - 2008, số
lượng học sinh tiểu học bỏ học là 12.966 HS.
- Ở cấp THCS và THPT: từ năm học 2003-2004 đến năm học 2005-2006, tỷ
lệ học sinh bỏ học dao động từ 6,29% đến 7,59%; Năm học 2006-2007 tỷ
lệ này chỉ còn 2,07%. Học kỳ 1 năm học 2007 - 2008, tỷ lệ học sinh bỏ
học giảm xuống 5 lần so với năm 2005 - 2006, còn 1,2%. Ở học kỳ I năm
học 2007 – 2008, số lượng học sinh THCS và THPT bỏ học là 106.228
HS.
Cũng theo thống kê của Bộ GD&ĐT:
- Đối với cấp Tiểu học, 58/64 tỉnh, thành có tỷ lệ học sinh bỏ học từ 0% 0,65%; 5 tỉnh có tỷ lệ bỏ học từ 0,95 - 2% và Kiên Giang là tỉnh có tỷ lệ
bỏ học nhiều nhất với 5,16%.
- Đối với cấp THCS và THPT, 45/64 tỉnh, thành có tỷ lệ bỏ học từ 0,06% 1,58%; 10 tỉnh có tỷ lệ bỏ học từ 1,71% - 1,99%; 8 tỉnh có tỷ lệ bỏ học từ
2,0% - 5,51% và Trà Vinh có tỷ lệ bỏ học cao nhất với 9,81%.
Như vậy, trên phạm vi cả nước, kết quả duy trì sĩ số học sinh tuy đã có tiến bộ
vượt bậc nhưng số lượng học sinh bỏ học vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm và phải
tích cực khắc phục. Học kỳ I năm học 2007-2008 vẫn còn 12.966 học sinh tiểu học,
106.228 học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông bỏ học. Cũng cần phải
Nguyên nhân khách quan:
Các tỉnh có tỉ lệ học sinh bỏ học cao đều là những địa phương có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và miền Tây Nam bộ.
Điều đó cho thấy rằng nguyên nhân học sinh bỏ học trước hết là do hoàn cảnh khó
khăn: dân cư sống rải rác, đường xá đi lại khó khăn, nhà xa trường, tỉ lệ hộ nghèo
cao, nhiều học sinh thiếu ăn, suy dinh dưỡng, mặc không đủ ấm; một số học sinh lớp
4, lớp 5 bỏ học do phải phụ giúp gia đình lao động kiếm sống; một số em phải bỏ
học vì theo gia đình di dân tự do. Các trường học ở đây thường thiếu thiết bị, sân
chơi, bãi tập; giáo viên ít có cơ hội giao lưu sinh hoạt, trao đổi chuyên môn, nghiệp
vụ hơn ở các nơi khác. Những yếu tố này là nguyên nhân hạn chế chất lượng giáo
dục và đời sống văn hoá của các nhà trường và do đó làm giảm niềm vui đến trường
của học sinh. Còn một nguyên nhân khác là do nhận thức của các cấp lãnh đạo, của
những người làm cha mẹ và của chính trẻ em về tầm quan trọng của tri thức và việc
học tập còn hạn chế.
Tuy vậy, ở các tỉnh, thành phố có kinh tế - xã hội phát triển cũng vẫn còn học
sinh bỏ học do ở đó vẫn có một số địa bàn khó khăn như làng chài, vùng kinh tế
mới. Tại buổi họp phối hợp hành động cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, đại diện các
đoàn thể, tổ chức xã hội đã chỉ ra nhiều nguyên nhân khác nữa. Ví dụ, ở nhiều vùng
nông thôn hiện nay có các gia đình bố mẹ đi làm ăn xa, con ở nhà với ông bà nên
thiếu điều kiện chăm sóc, động viên theo dõi việc học hành. Ở các đô thị các quán
chơi điện tử, các tụ điểm tệ nạn xã hội luôn là nơi rình rập, lôi kéo học sinh, nhất là
đối với những em thiếu sự theo dõi, quản lý của gia đình. Đã sa đà vào những nơi đó
thì học lực của các em càng giảm sút nên nguy cơ bỏ học càng tăng. Có đại biểu cho
rằng trong khi mở ra nhiều khu công nghiệp, một bộ phận học sinh trung học phổ
thông đã sớm rời ghế nhà trường để đi làm thì đó là một dấu hiệu tích cực của sự
phân luồng tự nhiên sau cấp trung học cơ sở.
Nguyên nhân chủ quan:
Đó là bệnh thành tích của nhiều năm qua, chúng ta đã đánh giá học sinh không
vụ, trách nhiệm của cha mẹ và những người thân thích đối với việc đảm bảo cho trẻ
em được học tập.
- Tăng cường sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội. Nhà
trường trong việc quản lý giáo dục trẻ em, cần phải thực hiện tốt công tác tư vấn,
tham vấn học đường và phát huy vai trò của công tác Đoàn, Đội. Môi trường gia
đình có tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách, do đó cha mẹ phải là tấm
gương tốt để con cái noi theo. Chính quyền địa phương phải quan tâm, chăm lo cho
học tập và sự phát triển của trẻ em. Không chỉ riêng Bộ GD-ĐT, nhiều tổ chức, đoàn
thể cùng tham gia như quyên góp sách giáo khoa, quần áo, tài chính… đảm bảo học
sinh đến trường đều có sách vở. Các tổ chức chính trị xã hội cũng kết hợp với nhà
trường phân công người giúp đỡ học sinh yếu kém…
- Ưu tiên tăng ngân sách đầu tư cho phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng
giáo dục ở những vùng, miền khó khăn của đất nước, vùng có đông người dân tộc
thiểu số, biên giới, hải đảo. Đồng thời, mở rộng các trung tâm giáo dục thường
xuyên, giáo dục cộng đồng để tất cả người dân Việt Nam đều có quyền bình đẳng và
được học tập
KẾT LUẬN
Để đầu tư phát triển nguồn nhân lực của đất nước, trước hết phải quan tâm
đến việc học tập của trẻ em vì trẻ em là tương lai của đất nước. Mục tiêu đầu tiên là
giảm tỉ lệ trẻ em bỏ học và nghỉ học. Giải quyết vấn đề này cần có sự tham gia đồng
bộ của nhiều ngành, nhiều tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng, gia đình và chính
bản thân các em. Việc đảm bảo cơ hội học tập của các em phải được quan tâm
thường xuyên và coi đó là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong đó trách nhiệm
chính và trực tiếp là gia đình.
MỤC LỤC
Tra