con nuôi trong luật hôn nhân và gia đình việt nam năm 2000 - Pdf 25

Luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
Gia đình là tế bào, nền tảng vững chắc của xã hội. Chính từ nơi đây,
nhân cách của mỗi con người được hình thành, nuôi dưõng và phát triển trong
cái nôi của mái ấm gia đình.Trong gia đình cũng như trong xã hội, mối quan
hệ giữa cha mẹ và con cái là mối quan hệ mang tính chất thiêng liêng và cao
quý nhất. Quan hệ đó không chỉ phát sinh dùa trên quan hệ huyết thống mà
còn được phát sinh trên cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ nuôi đối với
con nuôi. Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em đã khẳng định:” Để
phát triển đầy đủ và hài hoà nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng
thành trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc,yêu thương
và thông cảm ”.Trẻ em có quyền được sống trong gia đình, được cha mẹ nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Không có sự chăm sóc, giáo dục nào tốt hơn sự
chăm sóc, giáo dục của gia đình. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, vì nhiều
nguyên nhân khác nhau mà có rất nhiều trẻ em không nhận được sự chăm sóc,
giáo dục của gia đình, đặc biệt là những trẻ em mồ côi cha, mẹ; trẻ em bị bỏ
rơi mà không xác định được cha mẹ.Việc chăm sóc, giáo dục những trẻ em
này là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội.Nhiều hình thức bảo trợ của
xã hội đã ra đời như trại trẻ mồ côi, làng SOS… nhưng sự chăm sóc và giáo
dục có hiệu quả nhất đối với những trẻ em này là được nhận làm con
nuôi.Việc nuôi con nuôi là một biện pháp pháp lý bảo đảm tốt nhất cho quyền
được sống trong gia đình của trẻ em, đồng thời đáp ứng được nhu cầu về tinh
thần, ước muốn quyền được làm cha, mẹ của người nhận nuôi đối với trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử xã
hội loài người. Đây là một chế định pháp lý quan trọng trong pháp luật về hôn
nhân và gia đình. Hiện nay, việc nhận nuôi con nuôi vì mục đích nhân đạo
1
Luận văn tốt nghiệp
luôn được nhà nước quan tâm, khuyến khích.Các văn bản quy phạm pháp luật

2
Luận văn tốt nghiệp

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT NUÔI
CON NUÔI
I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NUÔI CON.
1.1 Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội
Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đã có từ lâu trong lịch sử, quan
hệ xã hội này xuất hiện là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng các nhu cầu tinh
thần và vật chất của con người.Hiểu theo cách thông thường, nuôi con nuôi là
một người hoặc cả hai người (là vợ chồng) nhận chăm sóc, nuôi dưỡng một đứa
trẻ mà do hoàn cảnh nhất định không có sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ đẻ,
gia đình ruột thịt.Mối quan hệ được hình thành giữa người nhận nuôi và người
được nhận làm con nuôi là mối quan hệ cha mẹ và con. Quan hệ xã hội đặc biệt
này được xã hội thừa nhận, có thể thay thế một phần hoặc toàn bộ quan hệ huyết
thống, quan hệ nuôi con nuôi được coi nh quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ.
Dưới góc độ xã hội, quan hệ nuôi con nuôi là quan hệ mang tính tự
nguyện, xuất phát từ cả hai phía người nhận nuôi và người được nhận nuôi.Sự tự
nguyện Êy có nhiều lý do khác nhau nhưng chủ yếu là do yếu tố tình cảm chi
phối. Đó là người nuôi muốn nhận nuôi dưỡng, chăm sóc một đứa trẻ. Đem tình
yêu thương của mình tạo ra một mái Êm gia đình cho những đứa trẻ có hoàn
cảnh đặc biệt nhằm làm cho đứa trẻ có điều kiện phát triển đầy đủ về thể chất,
tinh thần, và lớn hơn cả là ước muốn được xác lập mối quan hệ cha mẹ và con
với người được nhận nuôi.Với tư cách là một quan hệ xã hội, quan hệ nuôi con
nuôi không đòi hỏi những điều kiện chặt chẽ mà chủ yếu đáp ứng những nhu cầu,
lợi Ých của con người về vật chất như có thêm lao động, người thừa tự, có người
chăm sóc khi tuổi già hoặc về mặt tinh thần như sự cảm thông, chia sẻ, ước muốn
quyền được làm cha, mẹ.
3

riêng:
4
Luận văn tốt nghiệp
Quan hệ nuôi con nuôi không làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con giữa
nguời nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi. Quan hệ cha mẹ và
con không phát sinh trên cơ sở sinh học tự nhiên mà được xác lập trên cơ sở pháp
lý. Bởi vì, nếu các bên có quan hệ sinh thành ra nhau thì quan hệ đó sẽ trở thành
quan hệ huyết thống trực hệ mà không còn là quan nuôi con nuôi. Do đó, giữa
nguời nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi,về nguyên tắc không
thể là cha mẹ và con hoặc ông bà và cháu, “ trường hợp người có quan hệ họ
hàng là ông bà xin nhận cháu hoặc anh chị em xin nhận nhau làm con nuôi, thì
không giải quyết” (theo quy định tại điểm c, khoản 2, tiểu mục 1 Mục II thông tư
số 08/2006/TT-BTP ).
Không giống như quan hệ cha mẹ đẻ và con là quan hệ sinh học tự
nhiên.Quan hệ nuôi con nuôi xác lập quan hệ cha mẹ và con trên cơ sở pháp lý.
Do đó, trong quan hệ nuôi con nuôi không phải bất cứ ai cũng trở thành cha mẹ
nuôi và con nuôi. Chỉ những người đáp ứng được những điều kiện nhất định của
pháp luật mới trở thành cha mẹ nuôi và con nuôi.
Quan hệ nuôi con nuôi là một quan hệ pháp luật hôn nhân và gia
đình, mang đặc điểm của một quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là tồn tại
một cách lâu dài, bền vững, không xác định thời hạn tồn tại của nó. Bởi vì, trong
quan hệ này chỉ có thế xác định được thời điểm bắt đầu quan hệ là thời điểm
đăng ký nhận nuôi con nuôi mà không thể xác định trước được thời điểm kết thúc
của quan hệ đó. Tình cảm giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận
làm con nuôi là bền vững, sâu sắc không khác gì quan hệ cha mẹ và con về huyết
thống.
1.3. Khái niệm chế định nuôi con nuôi
Chế định pháp luật nuôi con nuôi có thể hiểu là “tổng hợp các quy
phạm pháp luật cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực nuôi
con nuôi, cụ thể là điều chỉnh việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền

nuôi mới chỉ là một phần mục đích của nuôi con nuôi. Đối tượng chủ yếu của
việc cho, nhận con nuôi là trẻ em và việc cho, nhận con nuôi chỉ được thực hiện
vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.Việc nuôi con nuôi phải hướng tới mục tiêu bảo vệ
6
Luận văn tốt nghiệp
trẻ em, đảm bảo quyền trẻ em, đặc biệt là quyền được sống trong gia đình. Vì
vậy, mục đích chính của việc nuôi con nuôi là nhằm thiết lập quan hệ cha mẹ và
con trong gia đình, hình thành một mái ấm gia đình, mang lại hạnh phúc cho trẻ
có hoàn cảnh đặc biệt như bị bỏ rơi, lang thang cơ nhỡ, bị khuyết tật , không có
gia đỡnh.Mục đớch nuôi con nuôi là nền tảng bảo đảm việc cho, nhận con nuôi
thực sự vì mục đích nhân đạo, vì lợi ích của trẻ em. Pháp luật nghiêm cấm các
trường hợp lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình
dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác (khoản 3 Điều 67 Luật
HN&GĐ năm 2000).Do đó, pháp luật cần có quy định cụ thể mục đích của việc
nuôi con nuôi để đảm bảo tốt nhất quyền lợi của trẻ được nhận làm con nuôi,
ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra.
2.2 Ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi
Việc nuôi con nuôi có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, thể hiện
tính nhân đạo, đảm bảo cho người được nhận nuôi, đặc biệt là trẻ em được sống
trong mái ấm gia đình, trong tình yêu thương, đùm bọc, chở che của cha mẹ,
được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và có đầy đủ điều kiện để phát
triển về thể chất, tinh thần.Việc nuôi con nuụi cũn mang lại niềm vui, niềm hạnh
phúc cho người nhận nuôi, đáp ứng niềm mong muốn được thực hiện quyền làm
cha, làm mẹ của họ và đảm bảo cho người nhận nuôi được hưởng sự chăm sóc,
thương yêu của con cái khi về già.
Đối với toàn xã hội hiện nay, nuôi con nuôi còn là một biện pháp hữu hiệu giải
quyết tình trạng trẻ em lang thang cơ nhỡ, góp phần ngăn ngừa trẻ em phạm tội,
hoặc các hành vi lạm dụng trẻ em vào mục đích vô nhân đạo.
2.3 So sánh nuôi con nuôi với một số hình thức chăm sóc, giáo dục trẻ em
khác.

2005). Trong quan hệ giám hộ, người giám hộ không có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà
chỉ có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục người được giám hộ và việc chăm sóc này
chủ yếu bằng tài sản của người được giám hộ.Giữa người giám hộ và người được
giám hộ không có quan hệ cha mẹ và con. Trong khi đó, trong quan hệ nuôi con
8
Luận văn tốt nghiệp
nuôi giữa các bên có quan hệ cha mẹ và con, nghĩa vụ nuôi dưỡng là nghĩa vụ bắt
buộc đối với cỏc bờn.
Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản về bản chất pháp lý của hình thức nuôi con
nuôi và giám hộ là: nuôi con nuôi làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con giữa
người nhận nuôi và con nuôi, thể hiện sự gắn bó lợi ích của hai bên. Còn việc
giám hộ chỉ thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
chưa thành niên trong những điều kiện nhất định mà không làm phát sinh quan
hệ cha mẹ và con trước pháp luật.
- Điều kiện pháp lý: Do bản chất của các hình thức trên là khác nhau nên
việc xác định điều kiện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng có khác nhau. Việc nuôi con
nuôi hình thành quan hệ cha mẹ và con nên điều kiện đối với hình thức này đòi
hỏi chặt chẽ, được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật.
- Hậu quả pháp lý: Việc nuôi con nuôi làm phát sinh các quyến và nghĩa
vụ của cha mẹ và con, bao gồm các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài
sản.Giữa người nhận nuôi và con nuôi đều có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn
nhau.Người con nuôi được thừa kế tài sản của cha mẹ nuụi.Kinh phớ chăm sóc,
nuôi dưỡng người con nuôi là của cha mẹ nuụi.Đối với hình thức giám hộ bằng
các nguồn khác nhau như: của cha mẹ đẻ,của người thân được giám hộ, bằng
nguồn tài trợ hoặc bằng sự tự nguyện của người giám hộ.
- Chấm dứt: Căn cứ chấm dứt đối với các hình thức trên cũng khác nhau:
Đối với việc nuôi con nuụi cỏc căn cứ chấm dứt được quy định tại Điều 67 Luật
HN&GĐ năm 2000.Đó là khi có những hành vi của một bên hoặc cả hai bên đối
với nhau dẫn đến việc tiếp tục quan hệ nuôi con nuôi là không thể tiếp tục duy trì
được (thông thường là do lỗi của đương sự).Cũn với việc giám hộ,căn cứ chấm

khoản 1 Điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình là hợp lý, phù hợp với các quy định
của các ngành luật khác (như Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
2004) và các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết. Theo
10
Luận văn tốt nghiệp
Điều 3 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em thì đây là những người cần có sự quan
tâm đặc biệt: “những lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu.
Bên cạnh đó, trong những trường hợp đặc biệt, người trên mười lăm tuổi
có thể được nhận làm con nuôi nếu đối tượng thuộc một số trường hợp đặc biệt:
“là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con
nuôi người già yếu cô đơn.”
- Trường hợp thứ nhất: là những người thương binh, người tàn tật, người
mất năng lực hành vi dân sự.Những người này do bị hạn chế về thể chất hoặc
tinh thần, khó có thể tự đảm bảo được cuộc sống cho mình, thường họ có hoàn
cảnh khó khăn, cần có sự chăm sóc, giúp đỡ.Nếu được nhận làm con nuôi thì họ
được chăm sóc, nuôi dưỡng từ phía gia đình, cha mẹ.Quy định trên thể hiện tinh
thần nhõn đạo,phự hợp với đạo lý, truyền thống đạo đức xã hội của dân tộc
“thương người như thể thương thõn”.
Những người trên mười lăm tuổi trong những hoàn cảnh trên có thể nhận
làm con nuôi và không bị giới hạn về độ tuổi nhưng vẫn phải đảm bảo khoảng
cách về độ tuổi với người nhận nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Luật Hôn
nhân và Gia đình , Do đó có thể thấy,quy định trên chỉ áp dụng đối với một số
trường hợp nhất định vì trong trường hợp người là thương binh, người tàn
tật,người mất năng lực hành vi dân sự mà tuổi của họ đã cao thì điều kiện trên sẽ
khó được đảm bảo.Bởi vì nếu người nhận nuôi hơn con nuôi phải từ hai mươi
tuổi trở lên thì họ khó có thể thực hiện được việc chăm súc,nuụi dưỡng do sự suy
giảm về sức khỏe hoặc các điều kiện khỏc…
Trường hợp thứ hai là người trên mười lăm tuổi làm con nuôi người già
yếu,cụ đơn .Những người già yếu cô đơn gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống
do sự suy giảm về sức khỏe, không có con cái để chăm súc.Vỡ vậy, họ cần có nơi

vi dân sự đầy đủ có thể nhận thức và làm chủ hành vi của mỡnh.Họ cú sự trưởng
thành về tâm lý, nhận thức và thể hiện rõ ý chí tự nguyện khi nhận nuôi con
nuụi,cú khả năng thực hiện được quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Mặt
khỏc,đối với người từ mười tám tuổi trở lên, họ có thể tự lao động kiếm sống. có
12
Luận văn tốt nghiệp
thu nhập để tự nuôi sống bản thân và người khỏc.Do đú họ có thể tham gia vào
quan hệ nuôi con nuôi để chăm sóc ,nuôi dưỡng người con nuôi.
Đồng thời,quy định này cũng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người được
nhận nuôi, nhất là trẻ em,đảm bảo cho trẻ em làm con nuôi được chăm súc,nuụi
dưỡng trong môi trường tụt nhất,cú cuộc sống bình thường như bao trẻ em khác.
- Người nuôi con nuôi phải hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên :
Đây là khoảng cách tối thiểu giữa người nhận nuôi và người được nhận
làm con nuôi. Tuổi của người nhận nuôi phụ thuộc vào tuổi của người con nuôi
mà không bị giới hạn một độ tuổi tối thiểu nhất định.Thụng thường, những người
trên hai mươi tuổi là những người đó cú sự trưởng thành nhất định. Họ đó cú
nhận thức và kinh nghiệm sống nhất định và có thể có những điều kiện vật chất
đảm bảo cho cuộc sống.Do đó, họ có thể chăm lo, giáo dục con cái. Quy định
khoảng cách này là phù hợp với quy định tuổi kết hôn và tuổi sinh con theo pháp
luật(Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000), phù hợp với mục đích nuôi
con nuụi,phự hợp với độ tuổi đáp ứng quyền làm cha, làm mẹ đối với người
nhận nuôi. Với độ tuổi đó, người nhận nuôi nhận thức được trách nhiệm của
mình đối với con cái trong gia đỡnh.Mặt khỏc, giữa hai thế hệ kế cận có một
khoảng cách về tuổi tác, đảm bảo được sự tôn trọng và khả năng nuôi dưỡng,
giáo dục con cái, cỏh ứng xử trong gia đình đạt hiệu quả và tụt đẹp hơn.
-Người nhận nuôi con nuôi phải có tư cách đạo đức tốt:
Cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển nhân cách của con,do đó
đảm bảo cho trẻ sống trong một gia đình lành mạnh là đảm bảo cho trẻ được
chăm súc,giỏo dục tụt nhất. Tuy nhiờn,về điều kiện này, pháp luật quy định chưa
cụ thể, rõ ràng, vẫn mang tính chung chung bởi vì phạm trù đạo đức là một phạm

Tuy nhiên, quy định này khó được đảm bảo trong trường hợp người già
yếu cô đơn nhận người trên mười lăm tuổi làm con nuôi vì trong trường hợp này
chính người nhận nuôi mới là người cần được trông nom, chăm sóc, bản thân họ
khó có thể đáp ứng được điều kiện trờn.(vớ dụ về điều kiện sức khỏe ). Vớ
vậy,cú quan điểm cho rằng quy định này không áp dụng đối với trường hợp
14
Luận văn tốt nghiệp
người già yếu,cụ đơn nhận người trên mười lăm tuổi làm con nuụi.Trong trường
hợp đặc biệt này, việc nuôi con nuôi là vì lợi ích của người nhận nuôi.
-Người nhận nuôi con nuôi không phải là những người quy định tại khoản
5 Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Đó là những người không nằm
trong tình trạng là người đang bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa
thành niên hoặc đang bị kết án mà chưa được xúa ỏn tớch về một trong các tội cố
ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược
đãi hoặc hành hạ ông, bà,cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi
dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp;
mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em;
có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã
hội. Việc luật quy định người nhận nuôi con nuụi khụng thuộc các trường hợp
trên nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích của trẻ em được nhận làn con nuôi,
đảm bảo việc những trẻ em được nhận làm con nuôi được chăm sóc, giáo dục,
nuôi dưỡng bởi những người thực sự có mong muốn nhận nuôi con nuụi.Đảm
bảo được mục đích của việc nuôi con nuôi, ngăn chặn những người có ý định
nhận nuôi con nuôi với mục đích trục lợi, hoặc thực hiện các hành vi trái pháp
luật với con nuụi.Những người đã từng có những hành vi này không đủ tư cách
nuôi con nuôi bởi họ đã từng xâm hại đến những người than của mình, đặc biệt là
đã từng xâm hại đến trẻ em, nên nếu những người này được nhận nuôi con nuụi
thỡ họ có thể gây ảnh hưởng xấu đến trẻ em được nhận làm con nuôi, không
đảm bảo được quyền của trẻ em, không đảm bảo cho trẻ em được nhận làm con
nuôi một gia đình trọn vẹn, đảm bảo được chăm sóc, nuôi dưỡng trong một gia

định tại Điều 69 mà không có ngoại lệ, ngay cả trường hợp vợ hoặc chồng nhận
nuôi con nuôi riêng của bên kia thì người nhận nuôi vẫn phải thỏa mãn các điều
kiện đó. Điều này làm hạn chế việc nhận nuôi con nuôi là con riêng của vợ hoặc
chồng mình, dẫn đến hạn chế khả năng trẻ em được sống trong một môi trường
gia đình trọn vẹn.
2.3. Sự thể hiện ý chí của các chủ thể trong việc nuôi con nuôi
16
Luận văn tốt nghiệp
Các chủ thể trong quan hệ cho nhận nuôi con nuôi gồm người nhận nuôi
con nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ và bản thân người được nhận làm con
nuôi.Sự thể hiện ý chí của các chủ thể này trên cơ sở tự nguyện là yếu tố quan
trọng đảm bảo cho việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lý.
Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi:
Người muốn nuôi dưỡng, chăm sóc một đứa trẻ nhằm xác lập quan hệ cha
mẹ và con giữa hai bên để thỏa mãn nhu cầu nhất định của bản thân hay của gia
đình họ.Chớnh bản thân người nhận nuôi mới nhận thức được đầy đủ và hiểu rõ
mong muốn của họ trong việc nhận nuôi con nuụi.Việc nhận nuôi con nuôi là do
chính bản thân người nhận nuôi quyết định trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, chủ
động và nhận thức được hậu quả pháp lý của nú.Sự tự nguyện ấy phải xuất phát
từ nhu cầu tình cảm của người nhận nuôi và phải phù hợp với lợi ích của người
được nhận làm con nuôi mới được coi là hợp pháp. Do đó, sự thể hiện ý chí của
người nhận nuôi là rất quan trọng.
Ý chí của người nhận nuôi con nuôi phải được thể hiện một cách khách
quan thong qua Đơn xin nhận nuôi con nuụi.Trong đú người nhận nuôi có thể
bày tỏ ý chí của mình trong việc xin nhận đích danh đứa trẻ mà mình mong muốn
nhận nuôi hoặc nêu đặc điểm của đứa trẻ phù hợp với nguyện vọng của mình.
Trong trường hợp cả hai vợ chồng muốn nhận nuôi con nuôi thì phải thể
hiện ý chí chung của hai vợ chồng, khi đó người được nhận nuôi sẽ là con nuôi
chung của hai vợ chồng.Tuy nhiên, trong trường hợp chỉ có vợ hoặc chồng nhận
nuôi con nuôi riêng mà bên kia không đồng ý thì họ không thể cùng nhận nuôi

năng lực hành vi dân sự. Sự đồng ý đó thể hiện sự gửi gắm, tin tưởng của họ đối
với những người nhận nuôi con nuôi, đem lại hạnh phúc cho người con nuôi,
đồng thời để tránh những tranh chấp có thể xảy ra sau này giữa cha mẹ đẻ và cha
mẹ nuôi.
-Sự thể hiện ý chí của người giám hộ:
Cũng theo quy dịnh tại khoản 1 Điều 71 của Hôn nhân và Gia đình năm
2000 : “Nếu cha mẹ đẻ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định
được cha, mẹ thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ.”
18
Luận văn tốt nghiệp
Người giám hộ chỉ có quyền thể hiện ý chí cho người mình giám hộ được
làm con nuôi trong trường hợp cả cha mẹ đẻ người được nhận làm con nuôi đã
chết, không xác định được hoặc đều mất năng lực hành vi dân sự.Người giám hộ
có thể là giám hộ đương nhiên, giám hộ được cử hoặc người đứng đầu cơ sở nuôi
dưỡng ( trong trường hợp trẻ có nguồn gốc bị bỏ rơi, bị bỏ lại cơ sở y tế hoặc khi
trẻ em đó được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng, đó cú giấy của cha mẹ đồng ý cho con
làm con nuôi hoặc cha mẹ đẻ của đứa trẻ đó mất năng lực hành vi dân sự).
Như vậy, sự đồng ý của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ trong trường hợp
trên phải được thể hiện bằng văn bản và dựa trên sự tự nguyện.Nếu có sự lừa dối,
cưỡng ép hoặc tác động của một áp lực nào đó để đạt được sự đồng ý này thì việc
nuôi con nuôi sẽ không được chấp nhận.
- Sự thể hiện ý chí của người được nhận làm con nuôi;
Theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000:
“ Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng
ý của trẻ em đú” trừ trường hợp người đó mất năng lực dân sự hoặc hạn chế năng
lực hành vi dân sự. Sự đồng ý của trẻ trong trường hợp trên là điều kiện bắt buộc
để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lý. Đây là quyền thể hiện ý chí, quyền bày
tỏ ý kiến của trẻ em.quyền này được quy định tại Điều 12, Điều 13 Công ước
của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, Điều 20 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em.

của người nhận nuôi có nhiều ưu điểm hơn vì ở UBND cấp xã, nơi cư trú của
người nhận nuôi có điều kiện nắm rõ và kiểm tra các điều kiện của người nhận
nuôi một cách tốt nhất để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được
nhận làm con nuôi. Việc xác định tại địa phương khác sẽ có khó khăn hơn.
Đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi, theo khoản 2
Điều 25 Nghị định 158/CP thì thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi được xác
định: “ Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ
rơi đăng ký việc nuôi con nuụi’, trong trường hợp trẻ em đó được đưa vào cơ sở
nuôi dưỡng thì thẩm quyền đăng ký thuộc về UBND cấp xã, nơi có trụ sở của cơ
sở nuôi dưỡng đó.
20
Luận văn tốt nghiệp
Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi:
Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi theo Nghị định 158/CP đã được rút gọn
thủ tục, điều kiện thuận tiện hơn rất nhiều so với Nghị định 83/CP, bao gồm
những giấy tờ pháp lý sau:
1/ Giấy thỏa thuận về việc cho và nhận con nuôi. Văn bản này thể hiện ý
chí của những người có liên quan: người nhận nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ,
hoặc bản thân trẻ từ chin tuổi trở lên. Đây là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến
hành kiểm tra, xác minh tính tự nguyện của cỏc bờn và tiến hành đăng ký thủ tục
nuôi con nuôi.
2/ Bản sao Giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi. Đây là cơ
sở để xác định lý lịch, nguồn gốc, độ tuổi, giới tính của người được nhận làm con
nuôi và là cơ sở để xem xét các điều kiện khác như: sự chênh lệch độ tuổi với
người nhận nuôi, ý chí thể hiện của người con nuôi, ý chí của cha mẹ đẻ….
3/ Biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, nếu trường hợp người
được nhận làm con nuôi là trẻ bị bỏ rơi. Biên bản này có ý nghĩa quan trọng
trong việc xác định thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi, thể hiện ý chí của
người cho trẻ em làm con nuôi khi trẻ em được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng.
Trên đây là những giấy tờ cần thiết tối thiểu đối với hồ sơ đăng ký việc

Thủ tục đăng ký nuôi con nuôi ở các vùng dân tộc thiểu số được thực hiện
theo Nghị định số 32/CP. Quy định tại Nghị định này có phần đơn giản hơn
nhằm phát huy phong tục tập quán tốt đẹp và khuyến khích đồng bào thực hiện
đúng các quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 16 Nghị định 32/CP thì
thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi có thể ở UBND cấp xã nơi người nhận
nuôi hoặc tại tổ dân phố, thôn, bản, phum, sóc, nơi cư trú của người nhận nuôi
hoặc người được nhận nuôi. Lệ phí cho việc đăng ký nuôi con nuôi cho người
dân ở vựng sõu, vựng xa được miễn.
Trên đây là trinh tự, thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, hiện
nay vẫn còn trường hợp nuôi con nuôi không có đăng ký (nuôi con nuôi thực tế).
Về vấn đề này, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 21/01/1988 đã hướng dẫn: “
22
Luận văn tốt nghiệp
Đối với những trường hợp nuôi con nuôi trước ngày Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 1986 có hiệu lực (ngày 03/1/1987) thì vẫn có giá trị pháp lý( trừ những việc
nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội của việc nhận nuôi con nuôi nhằm bóc lột
sức lao động hoặc sử dụng con nuôi trong những hoạt động xấu xa, trục lợi, trái
với đạo đức xã hội và pháp luật).Nếu việc nhận con nuôi trước đây chưa được
ghi vào sổ hộ tịch nhưng việc nuôi con nuụi đó được mọi người công nhận, cha
mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa vụ đối với con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có
những hậu quả pháp lý do Luật định”. Như vậy, theo quy định của Nghị quyết 01
thì quan hệ nuôi con nuôi thực tế xác lập trước ngày 03/1/1987 vẫn được pháp
luật thừa nhận.
Vấn đề này được tiếp tục điều chỉnh tại Điều 17 Nghị định 32/2002/NĐ-
CP quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình đối với các dân tộc thiểu
số: “Những trường hợp nhận nuôi con nuôi được xác lập trước ngày 01 tháng 01
năm 2001( ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật) mà
chưa đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng có đủ điều kiện theo
quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và trên thực tế, quan hệ giữa
cha mẹ nuôi và con nuôi đã được xác lập, cỏc bờn đã thực hiện đầy đủ các quyền

Cha, mẹ nuôi có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi
dưỡng,chăm súc,bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của
con;chăm lo việc hoc tập và giáo dục để con pháp triển lành mạnh về thể chất, trí
tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo trong gia đình, công dân có ích cho
xã hội (Khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đỡnh).Cha mẹ nuôi không được
phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được
lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xỳi giục,ộp buộc
con làm những việc trỏi phỏp luật,trỏi đạo đức xã hội( khoản 2 Điều 34 Luật Hôn
nhân và Gia đỡnh).Cha mẹ nuôi có nghĩa vụ và quyền giáo dục con,chăm lo và
tạo điều kiện cho con học tập(Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đỡnh).Cha mẹ nuôi
theo quy định tại Điều 39 là người đại diện cho con chưa thành niên, con đã
thành niên mất năng lực hành vi dân sự,trừ trường hợp con nuôi có người khác
24
Luận văn tốt nghiệp
làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.Luật quy định các quyền
và nghĩa vụ của cha,mẹ nuôi tạo cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo quyền của trẻ
em khi được nhận làm con nuụi,đảm bảo cho trẻ em được nhận làm con nuôi
được yêu thương,chăm súc,nuụi dưỡng,giỏo dục trong môi trường gia đỡnh.Cỏc
quy định này của luật giúp cho cha mẹ nuôi ý thức được trách nhiệm chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục người con nuôi.
Con nuôi có bổn phận yờu quý,kớnh trọng,biết ơn, hiếu thảo với cha
mẹ,lắng nghe những lời khuyên bảo đúng dắn của cha mẹ,giữ gìn danh dự,truyền
thống gia đình. Con nuôi có nghĩa vụ và quyền chăm súc,nuụi dưỡng cha mẹ
nuôi theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình.
Ngoài các quyền và nghĩa vụ nhân thân được quy định trong các Điều 34,
Điều 35, Điều 37, Điều 39, Luật còn quy định các quyền và nghĩa vụ nhân thân
khác giữa cha mẹ nuôi và con nuụi.Cỏc quyền và nghĩa vụ nhân thân này xuất
phát từ bản chất đặc thù của quan hệ nuôi con nuôi là các quan hệ này không
hình thành từ quan hệ huyết thống,quan hệ sinh học mà hình thành trên cơ sở
nuôi dưỡng,chăm sóc giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Các quyền và nghĩa vụ nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status