Tiểu luận pháp luật VẤN ĐỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG Ở CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT THEO QUY ĐỊNH PHÁP LÝ CỦA MỘT SỐ NƯỚC – BÀI HỌC CHO VIỆT NAM - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LUẬT TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT
“VẤN ĐỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG
Ở CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT THEO QUY
ĐỊNH PHÁP LÝ CỦA MỘT SỐ NƯỚC – BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM ”

Giảng viên hướng dẫn: ThS Hà Công Anh Bảo
Nhóm thực hiện:
Lê Ngọc Minh Anh
MSV
1213330005

Phạm Minh Hà
MSV
1213330025

Phan Thị Mỹ Linh
MSV
1211330043

Bùi Thị Đức Minh

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ Ở MỸ 13
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ Ở NHẬT BẢN 16
CHƯƠNG 4: VẤN ĐỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM – BÀI HỌC
RÚT RA 18
I. Vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số tại Việt Nam 18
II. Bài học kinh nghiệm 20 3

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, cả thế giới đã chứng kiến hậu quả của khủng hoảng tài chính
là sự sụp đổ của nhiều công ty lớn như Enron, Worlcom, nối tiếp theo đó là các tập
đoàn lớn như General Motors. Các doanh nghiệp niêm yết không còn được công
chúng đặt nhiều niềm tin như trước kia. Chính phủ các nước đang phải chịu áp lực từ
công chúng, yêu cầu cải tổ hệ thống pháp lý để bảo vệ một cách hiệu quả hơn các cổ
đông trong các doanh nghiệp niêm yết.
Việt Nam chịu ảnh hưởng không lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua,
nhưng các vụ việc khiến quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, các cổ đông ở
Việt Nam diễn ra thường xuyên. Không chỉ cá nhân người đầu tư phải chịu thiệt hại,
những vụ việc này xảy ra còn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của Thị trường
chứng khoán, làm giảm đáng kể khả năng huy động vốn khi mà các nhà đầu tư, nhất là
những nhà đầu tư chỉ sở hữu lượng vốn nhỏ đang rút dần vào ranh giới an toàn, không
muốn đầu tư để tránh rủi ro.
Trong khi các doanh nghiệp niêm yết đang tăng nhanh về số lượng, thị trường
chứng khoán ngày càng phát triển thì vấn đề thiết lập thể chế, hệ thống pháp lý để bảo
vệ tốt quyền và lợi ích của các nhà đầu tư, các cổ đông nói chung và các cổ đông thiểu
số nói riêng, lại càng trở nên cấp thiết. Các cổ đông thiểu số chỉ nắm giữ một lượng cổ
phần rất nhỏ, nhưng chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của họ khi mà số

4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 4 chương:
 Chương 1: Những vấn đề cơ bản về bảo vệ cổ đông thiểu số
 Chương 2: Vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số ở Mỹ
 Chương 3: Vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số ở Nhật Bản
 Chương 4: Vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam – bài học rút ra

5

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU
SỐ
I. Giải thích khái niệm
1. Công ty cổ phần
Công ty cổ phần (CTCP) là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và
phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự hình thành và phát triển
của công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền tệ.
Ở các nước khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau. Tại Việt Nam, khái
niệm công ty cổ phần được quy định tại điều 77, Luật doanh nghiệp 2005:
“1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn
chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này.
2. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh.

b) Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt
chào bán chứng chỉ quỹ phù hợp với quy định của Luật này.
4. Chính phủ quy định điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng đối với
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành
công ty cổ phần, doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công
nghệ cao; chào bán chứng khoán ra nước ngoài và các trường hợp cụ thể khác."
3. Cổ đông
Không giống như các loại hình tổ chức doanh nghiệp khác, công ty cổ phần là thực
thể kinh tế duy nhất được phép phát hành cổ phiếu và huy động thêm vốn chủ sở hữu
từ cổ đông. Cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ
phần, có thể là tổ chức, cá nhân (khoản 11 điều 4 và khoản 1 điều 77, Luật doanh
nghiệp 2005). Căn cứ theo loại cổ phần nắm giữ thì cổ đông được chia thành cổ đông
phổ thông và cổ đông ưu đãi (điều 78 Luật doanh nghiệp 2005). Tuy nhiên trên thực
tế, tiêu chí tỷ lệ cổ phần nắm giữ thường được sử dụng để phân chia cổ đông thành cổ
đông lớn (majority shareholder) và cổ đông thiểu số (minority shareholder). Khái
niệm này không được quy định trong Luật doanh nghiệp 2005 và các luật chuyên
ngành có liên quan đến doanh nghiệp. Luật các tổ chức tín dụng 2010 lại có riêng một
tiêu chí để xác định cổ đông lớn tại khoản 26 điều 4: “Cổ đông lớn của tổ chức tín
dụng cổ phần là cổ đông sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu
quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần đó”.
7

4. Cổ đông thiểu số
Cho đến nay, pháp luật thực định của Việt Nam chưa có một định nghĩa về cổ
đông thiểu số hay các đặc điểm của cổ đông thiểu số. Một số văn bản pháp luật hiện
hành của Việt Nam không định nghĩa cổ đông thiểu số mà đưa ra quy định về cổ đông
lớn như đã nêu ở trên. Vậy 5% có thể được cho là ranh giới phân định giữa cổ đông
lớn và loai cổ đông còn lại trong CTCP? Rõ ràng nếu hiểu theo khái niệm cổ đông
thiểu số dựa trên tỷ lệ sở hữu cổ phần là không hợp lý bởi nó chỉ được sử dụng để ghi
nhận quyền lợi của các cổ đông lớn chứ không phản ánh đầy đủ bản chất của cổ đông

Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần được xem xét ở hai khía cạnh là có quyền
chuyển nhượng cho bất kỳ ai vào bất cứ lúc nào và không cần thủ tục phê chuẩn của
công ty.
b) Quyền tiếp cận thông tin
Quyền được nắm bắt những thông tin về công ty một cách đầy đủ là cơ sở để
cổ đông thực hiện các quyền cơ bản khác như quyền biểu quyết tại cuộc họp của
ĐHĐCĐ, quyền bầu và miễn nhiệm HĐQT và cả quyền chuyển nhượng cổ phần. Luật
Doanh nghiệp quy định cổ đông được xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong
danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính
xác; xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản ĐHĐCĐ và
các nghị quyết của ĐHĐCĐ.
c) Quyền dự họp và biểu quyết tại ĐHĐCĐ
ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần, bao gồm tất cả cổ
đông có quyền biểu quyết. Theo Luật Doanh nghiệp 2005, ĐHĐCĐ có quyền quyết
định những vấn đề sau (điều 96, điều 104, điều 120): trong lĩnh vực tài chính; trong
lĩnh vực điều hành; các lĩnh vực khác; quyền dự họp ĐHĐCĐ; quyền biểu quyết. Điều
26, nghị định 102/2010/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
Doanh nghiệp quy định quy định thêm một số vấn đề liên quan đên ĐHĐCĐ.
d) Quyền bầu, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị
HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có quyền nhân danh công ty quyết định mọi
vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm
quyền của ĐHĐCĐ: quyền đề cử thành viên HĐQT; quyền bầu thành viên HĐQT;
quyền bãi nhiệm thành viên HĐQT (điều 96).
e) Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần
Điều 90 Luật Doanh nghiệp được đánh giá là một trong những điều khoản tiêu
biểu nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số. Theo điều này, cổ đông có quyền yêu cầu công ty
mua lại cổ phần của mình theo giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy
định tại Điều lệ công ty. Có ý kiến cho rằng, quy định trên tạo ra nguy cơ là công ty
phải dùng mọi khoản tiền hiện có để mua lại cổ phần, có thể dẫn đến phá sản nếu cổ
đông đồng loạt phản đối công ty theo kiểu này. Tuy nhiên, việc yêu cầu công ty mua

CĐTS mới cần được bảo vệ, cổ đông lớn với số lượng cổ phần mà họ sở hữu tỏng
công ty đã được pháp luật bảo vệ rất nhiều. Bằng khả nhăng chi phối công ty, cổ đông
lớn không chỉ tự bảo vệ được quyền lợi của mình mà họ còn có đủ sức mạnh để chèn
ép, xâm phạm quyền lợi của CĐTS vì nhiều mục đích mà chủ yếu là vì mục đích tư
lợi. Các cổ đông lớn không khó để thưc hiện được điều đó bởi trong tay họ có sức
mạnh quyền lực được tạo ra từ phần vốn góp trong công ty. Còn các CĐTS với thẩm
quyền ít ỏi của mình, dù họ có nhận thức được quyền lợi đang bị xâm phạm, họ cũng
đành cam chịu thấp phận. Trên thực tế hiện nay, mối quan hệ này có thể được diễn tả
ví von như là "cá lớn nuốt cá bé"

Với nhiều thủ đoạn khác nhau, các cổ đông lớn đang sử dụng hoặc lạm dụng
quyền lực của mình trong công ty để thưc hiện nhiều hành vi vi pham, xâm phạm
nghiêm trọng đến quyền lợi của CĐTS với mục đích thâu tóm công ty và thu lợi về
cho mình. Việc đó có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, nhưng
trong đó phổ biến là việc cổ đông lớn thông qua Hội đồng quản trị (HĐQT) để thực
10

hiện các hành vi ngăn cản hoặc tước bỏ quyền cổ đông của CĐTS; sử dụng các thông
tin của công ty để thực hiện các giao dịch tư lợi

b) Ý thức và khả năng tự bảo vệ của cổ đông thiểu số

Ý thức của CĐTS trong việc họ chủ đọng tự bảo vệ mình là điều vô cùng quan
trọng, dù không có khả năng để tự bảo vệ được quyền lợi của mình nhưng nếu các
CĐTS luôn ý thức được sự cần thiết của vấn đề này và không còn thờ ơ, phó mặc số
phận mình cho các cổ đông lớn thì đây là điều kiện quan trọng để họ tập hợp, liên kết
với nhau để thực hiện các quyền của nhóm cổ đông và ít nhiều thông qua đó thể hiện
tiếng nói của mình trong công ty.

Tuy nhiên, thực tiễn Việt Nam về vấn đề này còn nhiều bất cập, mặc dù CĐTS

IV. Mục tiêu bảo vệ cổ đông thiểu số
Khi mà ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình của các CĐTS còn hạn chế và bản
thân họ không có khả năng giải quyết vấn đề quyền lợi của mình đang bị xâm phạm
thì nhà nước cần phải bằng pháp luật đặt ra những nguyên tắc, xây dựng những công
cụ pháp lý tạo điều kiện cho các CĐTs thực hiện hiệu quả các quyền cổ đông, tạo cho
họ vị trí và tiếng nói trong công ty. Ngoài ra, nhà nước còn có thể đảm bảo được các
lợi ích cao hơn cho xã hội và các mục tiêu quan trọng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Các mục tiêu bảo vệ quyền lợi của CĐTS bao gồm:
a) Khuyến khích nhà đầu tư bỏ tiền ra kinh doanh, tăng nguồn vốn cho nên kinh
tế
Để huy động được các nguồn vốn từ các nhà đầu tư, chúng ta cần phải đặt ra
các cơ chế pháp lý để bảo vệ họ, đảm bảo quyền lợi, lợi ích chính đang mà họ thu
được từ hoạt động đầu tư. Một khi quyền lợi của các cổ đông không được đảm bảo thì
họ sẽ không đầu tư hoặc lựa chọn các lĩnh vực đầu tư khác an toàn và hiệu quả hơn
như gửi tiết kiệm ở ngân hàng, hoặc cũng có thể mang tiền đi đầu tư ở những nơi có
cơ chế bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.
Việc CĐTS bỏ tiền ra đầu tư kinh doanh trước tiên đảm bảo nhu cầu tìm kiếm
lợi nhuận cho chính họ và cũng thông qua đó thu hút, tập trung nguồn vốn cho nền
kinh tế. Các cổ đông lớn, dù số vốn đủ lớn để mang lại lợi nhuân cao cho chính họ và
đóng góp quan trong trong nền kinh tế nhưng thực tế đã chứng minh các cổ đông lớn
không phải là số đông để giúp nền kinh tế vận hành và phát triển một cách tốt nhất
nếu như không có sự đồng lòng, sát cánh của các CĐTS dù ít tiền nhưng luôn chiếm
đại đa số các nhà đầu tư.
Chính vì vậy, nhà nước với vai trò là người thực hiện các sách lược vĩ mô điều
tiết nên kinh tế cần phải thông qua việc xây dựng các công cụ pháp lý hữu hiệu và
hoàn thiện các chế định pháp lý hiện hành nhằm bảo về nhà đầu tư nhỏ để tạo niềm tin
nhằm khuyến khích CĐTS bỏ tiền ra kinh doanh hoặc tin tưởng các dự án đầu tư trong
nước và trực tiếp tạo nguồn vốn cho sự vận hành của nền kinh tế.
b) Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của công ty cổ phần và thị trường chứng
khoán

nghiệp , tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận rằng sự yếu kém trong công tác vảo
vệ các nhà đầu tư nói cung và các CĐTS nói riêng đã góp phần tạo nên tình trạng
đáng buồn của môi trường kinh doanh trong nước hiện nay. Trước thực trạng môi
trường kinh doanh Việt Nam còn nhiều yếu kém và hạn chế cùng với sự cần thiết phải
thu hít các nhà đầu tư, chúng ta cần phải thực hiện một cách hiệu quả vấn đề đề bảo vệ
CĐTS. Bảo vệ được quyền lợi CĐTS là việc làm quan trọng và cần thiết đầu tiên để
xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh nhằm thu hút các nhà đầu tư, kể cả
nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

13

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ Ở MỸ

Trong những năm gần đây, rất nhiều bài nghiên cứu về thực trạng bảo vệ quyền lợi
cổ đông thiểu số đã được thực hiện, khắc phục những trở ngại và phản ánh thực trạng
về quyền lợi của cổ đông thiểu số tại Mỹ. Dựa trên bài nghiên cứu của Arthur R. Pinto
tại trường luật Brooklyn
1
“Bảo vệ cổ đông thiểu số trong các doanh nghiệp đóng
2
tại
Mỹ” - một trong những nghiên cứu gần đây về những vấn đề cổ đông thiểu số cần đối
mặt trong doanh nghiệp đóng, tiểu luận này sẽ đề cập đến sự thay đổi và ban hành luật
pháp của các bang cũng như của cả nước Mỹ để bảo vệ những cổ đông này khỏi
những hạn chế và đàn áp trong doanh nghiệp.
Bài nghiên cứu nói trên thảo luận về việc được bảo vệ về mặt pháp lý của các cổ
đông thiểu số trong các doanh nghiệp đóng của Mỹ. Các cổ đông này quan tâm đến
việc họ có tiếng nói, có quyền được tiếp cận với thông tin, một vài quyền kiểm soát,
lợi suất và khả năng bán toàn bộ cổ phiếu và rút khỏi công ty. Hơn nữa, họ thường lo
ngại rằng: những cổ đông với quyền kiểm soát trong tay sẽ hành động một cách “cơ

PINTO BOOK, supra note 13 at § 6.06

14

công ty
4
. Bởi quyền bỏ phiếu của các cổ đông đa số là cơ bản, cổ đông thiểu số
thường xuyên bị hạn chế bởi nhóm kiểm soát.
Quyền được tiếp cận thông tin của các cổ đông thường bị hạn chế. Không giống
như các công ty đại chúng, nơi mà luật an ninh liên bang yêu cầu sự công bố đầy đủ
các thông tin, phần lớn đạo luật của các bang hạn chế thông tin và sự thông báo về các
cuộc họp cũng như việc phát hành cổ phiếu. Các cổ đông thiểu số có thể có tiếng nói
trong việc quản lí bằng cách tham gia vào ban giám đốc hoặc trở thành viên chức
trong công ty. Tuy nhiên, cổ đông thiểu số không thể thực hiện các quyền trên mà
không có sự đồng thuận của đại đa số cổ đông. Lý do là bởi việc tham gia và đại hội
các giám đốc và trở thành viên chức của công ty còn đem lại lợi ích lớn cho cổ đông,
đó là sự tiếp cận dễ dàng hơn với thông tin
5
.
Một vấn đề quan ngại nữa của các cổ đông thiểu số là khi các cổ phiếu mới được
phát hành cho những người khác không bao gồm họ, có khả năng lợi tức của chính họ
sẽ bị nhỏ dần đi. Trên thực tế, luật pháp về quyền ưu tiên mua trước cho phép mỗi cổ
đông có quyền được mua một lượng cổ phiếu mới phát hành với tỷ lệ tương đương
với số cổ phiếu họ đang nắm giữ do công ty của họ phát hành.
Trước những khó khăn cổ đông thiểu số phải đối mặt trong các doanh nghiệp đóng
tại Mỹ, nhiều đạo luật của bang đã được ban hành nhằm bảo vệ họ khỏi sự đàn áp đó.
Trong lịch sử, tòa án thường miễn cưỡng đưa ra quyết định giải thể công ty thậm chí
trên cơ sở luật pháp về giải thể công ty, những bất đồng trong quản lý làm lãng phí tài
sản của công ty, trong khi giải thể chỉ là một sự lựa chọn. Điều này trở nên đúng hơn
trong trường hợp công ty làm ăn có lợi nhuận

gian lận và trái pháp luật, thay vào đó, có thể hướng đến sự đầu tư của từng cá nhân vào công ty.
15

đàn áp, áp bức. Sự đàn áp thường là cơ sở dẫn đến việc giải thể nhưng điều này không
được định nghĩa trong luật, vậy nên các tòa án đã đưa ra khái niệm
10
.
Giải thể công ty có thể là một biện pháp cho sự đàn áp, nhưng đây không phải cách
duy nhất. Một vài đạo luật cho phép các cổ đông kiểm soát mua lại cổ phần từ các nhà
đầu tư thiểu số và nếu họ không thể đi đến thỏa thuận ở một mức giá, tòa án sẽ quyết
định giá trị thỏa đáng. Một vài đạo luật còn cho phép tòa án “đặt hàng” của bất kì cổ
đông nào, từ đó cho phép nhà đầu tư thiểu số mua cổ phần của nhà đầu tư lớn. Một vài
đạo luật khác tập trung vào việc mua lại cổ phần thay vì giải thể doanh nghiệp
11
.
Thêm vào đó tòa án có thể sử dụng quyền lực của họ để cung cấp những biện pháp
khác nhằm cứu vãn sự giải thể của công ty.
Tóm lại, một vấn đề quan trọng cho các công ty đóng ở Mỹ là sự cần thiết phải bảo
vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số. Luật doanh nghiệp ngày nay đã có nhiều điều
khoản để bảo vệ những nhà đầu tư thiểu số, đồng thời cân bằng những yêu cầu của các
cổ đông kiểm soát. Hơn nữa, luật này còn cho phép và khuyến khích hợp đồng cá
nhân để bảo vệ các nhà đầu tư này. Trong hệ thống liên bang, không phải tất cả các
bang đều đi theo cùng một con đường, nhưng có rất nhiều các luật, điều khoản và một
số bang của Mỹ coi hợp đồng như một phương tiện để bảo vệ cổ đông thiểu số.

10
Trong OPPRESSION BOOK supra note 9 at §7:11 (thảo luận về các cách tiếp cận khác nhau của các đạo luật

quản trị nơi cổ đông lớn nắm quyền kiểm soát sẽ thông qua việc mua lại cổ phần của
các cổ đông thiểu số, và cổ đông lớn bồi thường cho cổ đông thiểu số bằng tiền mặt
hoặc là bằng chính cổ phần của cổ đông lớn. Luật này bảo vệ cổ đông thiểu số bằng
việc trao quyền cho các cổ đông thiểu số yêu cầu tòa án thẩm định lại tính công bằng
của giao dịch. Thông thường, tòa án sẽ xem xét giao dịch thâu tóm này qua hai yếu tố.
Yếu tố đầu tiên là tiến trình thâu tóm này có hợp pháp và công bằng hay không, qua
việc bỏ phiếu và quyền sở hữu của cổ đông lớn, kể cả ý kiến của cổ đông thiểu số (nếu
có). Yếu tố thứ hai là xem xét giá thế nào được xem là công bằng và hợp lý. Tuy
nhiên, tùy theo kinh nghiệm và nhận định của từng thẩm phán thụ lý vụ việc, đã nảy
sinh nhiều tranh cãi xoay quanh việc thẩm định giá như thế nào được xem là hợp lý.
Đối với một số thẩm phán, ngày hội đồng quản trị công ty niêm yết, hoặc đại hội
đồng cổ đông quyết định mua lại cổ phần phổ thông của cổ đông thiểu số sẽ được xem
là ngày xác định giá hợp lý, theo đó giá hợp lý là giá giao dịch niêm yết vào cuối ngày
tại các sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên,
có nhiều thẩm phán không đồng ý và không theo cách thức nêu trên vì cho rằng, giá
xác định vào ngày giao dịch tại các sở giao dịch và trung tâm giao dịch thường bị ảnh
hưởng yếu tố thị trường và tâm lý của nhà đầu tư, do vậy giá đó không phản ảnh đúng
17

giá trị thật của cổ phần. Vì vậy cách mà các thẩm phán sử dụng nhiều nhất là đánh giá
lại chỉ số P/E (giá thu nhập trên mỗi cổ phần), giá trị ròng của công ty, giá dự kiến
trong tương lai của mỗi cổ phiếu và tiềm năng phát triển của công ty, giá trị thương
hiệu Tựu chung lại, việc đưa ra phán quyết cuối cùng chỉ có thể thực hiện được sau
quy trình thẩm định phức tạp và trải qua nhiều bất đồng ý kiến giữa cổ đông thiểu số
và cổ đông lớn cũng như giữa quan điểm của các cơ quan luật pháp có thẩm quyền.
Điều này gây ra nguy cơ cá cổ đông thiểu số có thể phải gánh chịu thiệt hại do thẩm
định thiếu chính xác, thiệt hại về thời gian chậm trễ trong việc nhận bồi thường và các
tổn thất do các chi phí cơ hội khác.
Sự phức tạp trong xử lý việc bồi thường cho cổ đông thiểu số trong trường hợp họ
bị loại bỏ khỏi công ty niêm yết như ta vừa phân tích là minh chứng cho yếu điểm

quyền tham dự của họ .Thậm chí, có những trường hợp, doanh nghiệp lựa chọn các
địa điểm thật xa trụ sở công ty, một số khác tổ chức họp ở những thành phố khác.
Động thái này nhằm gây khó khăn cho các cổ đông nhỏ lẻ vì họ sẽ mất chi phí đi lại,
sắp xếp công việc của mình để có thể tham gia cuộc họp.
Theo khoản 2 Điều 79 Luật doanh nghiệp năm 2005: cổ đông hoặc nhóm cổ
đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục, ít nhất là 6
tháng thì có quyền đề cử người vào hội đồng quản trị/ biên kiểm soát nếu có. Tuy
nhiên, số lượng 10 % là quá lớn.
Một thực tế khác là tại nhiều công ty cổ phần ( bao gồm cả công ty đại chúng
và công ty niêm yết),khi mà các cổ đông lớn đã sở hữu lượng cổ phần ở mức độ có thể
thông qua các Nghị quyết có lợi cho mình ( ví dụ 65% hay 75%) , thì hầu như vai trò
của cổ đông/ nhóm cổ đông còn lại sẽ “ không được đếm xỉa”
Tại cơ quan có quyền cao nhất của công ty là Đại hội cổ đông , mặc cho cổ
đông nhỏ/ thiểu số phát biểu, chất vấn, đề xuất các nội dung quan trọng hoặc có liên
quan đến quyền lợi của họ, cổ đông lớn vẫn “bình chân như vại”, vì họ đã có được tỉ
lệ biểu quyết đủ để thông qua các Nghị quyết có lợi cho mình, gạt cổ đông nhỏ/ thiểu
số ra bên lề , cho dù nội dung này có được đưa vào chương trình họp
Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 1/10/2010 có thể coi là một bước tiến quan
trọng trong việc bảo vệ các cổ đông nhỏ, lần đầu cho phép “ con kiến kiện củ khoai”
khi quy định: cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1 % cổ phần phổ thông liên tục
trong thời hạn 6 tháng có quyền yêu cầu Ban kiểm soát khởi kiện trách nhiệm dân sự
đối với thành viên HĐQT, giám đốc (TGĐ) khi các chức danh này không thực hiện
đúng các quyền và nhiệm vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ,
không kịp thời quyết định của HĐQT; thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao trái
với quy định của pháp luật, Điều lệ công ty hoặc Nghị quyết của ĐHCĐ.
2. Ví dụ thực tế:
19

Vào ngày 5/4/2013, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội đã mở phiên tòa xét
xử vụ kiện của một nhóm cổ đông của CTCP Phát triển Kỹ thuật và Đầu Tư ( ITD)

nhau như: việc chủ động tìm hiểu các quy định pháp luật có liên quan của cổ đông,
việc tuân thủ của chính công ty và ban lãnh đạo với các quy định của pháp luật về bảo
vệ cổ đông, vai trò giám sát và xử lý vi phạm một cách kịp thời và nhanh chóng của
các cơ quan cơ liên quan ( sở KH& ĐT, UBCK, Tòa án Nhân dân ). Để minh họa
cho những bất cập này, ta có thể thấy ví dụ về việc hai cổ đông với 13.600 cổ phần
"quyết định" tương lai của CTCP Khoáng sản Hòa Bình (mã KHB). Ngày 4/12/2013,
trong khi các doanh nghiệp đang hối hả tổng kết kinh doanh năm cũ để đưa ra phương
án sản xuất – kinh doanh năm 2014, thì tại CTCP Khoáng sản Hòa Bình, diễn ra cuộc
họp ĐHCĐ thường niên 2013. 13.600 cổ phần "quyết định" tương lai của CTCP
20

Khoáng sản Hòa Bình (mã KHB). Vốn điều lệ 62,7 tỷ đồng, nhưng chỉ có 2 cổ đông,
với 13.600 cổ phần sở hữu dự họp, KHB vẫn đủ điều kiện tổ chức họp ĐHCĐ thường
niên và họp thành công, vì đây là lần thứ 3, HĐQT triệu tập họp. Hai lần trước đó, các
cuộc họp diễn ra vào ngày 28/10/2013 và 18/11/2013 không được tổ chức thành công,
vì cũng chỉ có 2 cổ đông, đại diện cho 13.600 cổ phần tham dự họp. Việc chỉ có 2 cổ
đông, với 13.600 cổ phần tham dự ĐHCĐ thường niên cho thấy, Ban lãnh đạo Công
ty cũng không mặn mà với chính DN mình đang trực tiếp quản lý, điều hành. Với thực
trạng thua lỗ triền miên 7 quý liền, doanh thu sụt giảm, KHB đang đối diện với một
câu chuyện buồn cười: người có tiền (cổ đông, ông chủ) không để ý, còn người có
quyền (HĐQT, Ban điều hành) không tập trung kinh doanh, doanh nghiệp như bị bỏ
rơi.
II. Bài học kinh nghiệm
1. Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ cổ đông thiểu số
Hệ thống pháp luật được xây dựng một cách đồng bộ, đầy đủ và hoàn chỉnh là
cơ sở cho các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư nghiên cứu, áp dụng có
hiệu quả. Để đảm bảo sự bình đẳng ngang nhau giữa các cổ đông cùng sở hữu một
loại cổ phiếu thì pháp luật cần quan tâm, bảo vệ hơn nữa đến quyền lợi của các cổ
đông nhỏ, cổ đông thiểu số. Xây dựng và thực thi các chế tài nghiêm khắc trong các
công ty có những hoạt động vi phạm quyền lợi của các cổ đông và đặc biệt là cổ đông

sự.
Các cổ đông nhỏ cần nghiên cứu quyền lợi và nghĩa vụ của mình trước khi
tham gia vào công ty. Các cổ đông nhỏ cần có sự tư vấn của các chuyên gia hay thuê
luật sư tư vấn và cần liên kết lại để tự bảo vệ mình.
22

KẾT LUẬN
Doanh nghiệp niêm yết là một hình thức doanh nghiệp phổ biến trên thế giới
hiện nay. Doanh nghiệp niêm yết có ưu thế vượt trội về khả năng huy động được
lượng vốn lớn trong thời gian vô cùng ngắn, bên cạnh đó, doanh nghiệp niêm yết còn
có khả năng chuyển nhượng vốn linh hoạt, hình thức doanh nghiệp lại đặc biệt thích
hợp cho các lĩnh vực kinh doanh có quy mô sản xuất lớn, kinh doanh đa ngành nghề,
nhất là ở Việt Nam. Vì những lý do đó, doanh nghiệp niêm yết ngày càng thu hút
được nhiều sự chú ý từ các nhà đầu tư.
Việt Nam đang ở trong giai đoạn nền kinh tế thị trường phát triển nhanh và
mạnh mẽ, điều đó lại càng đòi hỏi các doanh nghiệp niêm yết phải phát triển với tốc
độ cao, nhưng đồng thời cũng phải bền vững, mà vai trò không thể thiếu là của các
doanh nghiệp niêm yết.
Một doanh nghiệp niêm yết có thể phát triển đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế
thị trường được hay không là phụ thuộc hoàn toàn vào các cổ đông, trong đó số lượng
cổ đông thiểu số không hề nhỏ. Vì vậy, vấn đề cấp thiết được đặt ra lúc này chính là
việc cải tổ hệ thống pháp lý nước nhà để có thể bảo vệ một cách hiệu quả quyền và lợi
ích của cổ đông thiểu số. Có như vậy thì các nhà đâu tư mới sẵn sàng góp vốn, qua đó,
thúc đẩy thị trường phát triển. Có thể nói, chú trọng đến việc bảo vệ cổ đông thiểu số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status