Bảo vệ Cổ đông thiểu số trong Công ty Cổ
phần ở Việt Nam Đỗ Thái Hán Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Vũ Quang
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Trình bày những vấn đề cơ bản về quyền của cổ đông và sự cần thiết phải
bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần. Tìm hiểu cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu
số trong công ty cổ phần ở Việt Nam và so sánh với pháp luật một số nước trên thế
giới: thực trạng bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần, thực tiễn quản lý và
điều hành công ty cổ phần ở Việt Nam, bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật của
Nhật Bản, bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật của Pháp, bảo vệ cổ đông thiểu số
theo pháp luật của Mỹ, bảo vệ cổ đông theo nguyên tắc quản trị công ty của OECD,
một số nghiên cứu tham khảo áp dụng tại Việt Nam. Giải pháp và kiến nghị nhằm
xây dựng và bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt
Nam.
Keywords. Luật kinh tế; Cổ đông; Công ty cổ phần; Việt Nam
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, với sự sụp đổ của các công ty cổ phần như Worlcom, Enron và
gần đây, do sự khủng hoảng của thị trường tài chính dẫn đến phá sản hàng loạt công ty cổ
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quyền của cổ đông và sự cần thiết phải bảo vệ cổ
đông thiểu số trong công ty cổ phần
Chương 2: Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam và so sánh
với pháp luật một số nước trên thế giới.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm xây dựng và bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu
số trong công ty cổ phần ở Việt Nam.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI
BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát về công ty cổ phần
1.1.1. Sự hình thành công ty cổ phần trong lịch sử
công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh có nguồn gốc từ xa xưa, y, hình thức
công ty cổ phần được sử dụng rộng rãi khi khởi sự kinh doanh, từ các xí nghiệp nhỏ đến các
công ty thuộc sở hữu của hàng chục ngàn cổ đông hoạt động trong những ngành nghề kinh
doanh khác nhau trên khắp các châu lục của thế giới.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần
a) Tư cách pháp nhân độc lập
công ty cổ phần là một thực thể có tư cách pháp nhân độc lập. Luật doanh nghiệp dùng
cụm từ "nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập". Công ty cổ phần
tách bạch khỏi những người đã góp vốn thành lập nên nó. Một khi cổ đông đã góp tài sản vào
công ty, công ty trở thành chủ sở hữu đối với tài sản, cổ đông không còn quyền sở hữu đối
với tài sản đó nữa.
b) Trách nhiệm hữu hạn của cổ đông
Luật cho phép những người góp vốn vào công ty cổ phần hưởng chế độ trách nhiệm hữu
hạn tức cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. Họ
không phải lấy tài sản không đem vào kinh doanh để trả nợ. Đó là cách pháp luật khuyến
b) Sự áp đảo của cổ đông kiểm soát với cổ đông thiểu số
Trong công ty cổ phần, quyền của các cổ đông tương ứng với số vốn đã góp vào công ty.
Do vậy, cổ đông góp nhiều vốn (tức có nhiều cổ phần, cụ thể là cổ phần có quyền biểu quyết)
sẽ có nhiều ưu thế hơn đối với hoạt động quản lý công ty.
1.2.3. Vai trò của việc bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần
a) Vai trò đối với công ty và nhà đầu tư
Khi pháp luật bảo vệ cổ đông có hiệu quả, các nhà đầu tư có nhiều động lực hơn bỏ vốn
vào công ty cổ phần. Đối với các công ty thu hút vốn cổ phần khả năng huy động vốn sẽ gia
tăng một khi nhà đầu tư yên tâm rằng đồng vốn đầu tư của mình được bảo toàn và phát triển,
các quyền và lợi ích được bảo đảm.
b) Vai trò đối với nền kinh tế
Bảo vệ cổ đông hiệu quả có tác động tích cực lên toàn bộ nền kinh tế.
Thứ nhất, nó thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Thứ hai, bảo vệ cổ đông tốt góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế
1.3. Quyền của cổ đông
Quyền của cổ đông phổ thông được quy định cụ thể tại Điều 79 Luật Doanh
nghiệp.Ngoài ra luật doanh nghiệp còn quy định cụ thể các quyền khác như: Mua lại cổ phần
theo yêu cầu của cổ đông (Điều 90); Thẩm quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông
(ĐHĐCĐ) (Điều 97); Quyền dự họp ĐHĐCĐ (Điều 101); Yêu cầu hủy bỏ quyết định của
ĐHĐCĐ (Điều 107); Công khai các lợi ích liên quan và công khai thông tin về công ty cổ
phần (Điều 118, Điều 129).
Cổ đông ưu đãi không được hưởng đầy đủ các quyền trên. Cổ đông ưu đãi biểu quyết
không được chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác (Điều 81). Cổ đông ưu đãi cổ
tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại đều không có quyền dự họp ĐHĐCĐ, không có quyền biểu
quyết và cũng không có quyền đề cử người vào HĐQT và Ban kiểm soát (BKS) (Điều 82,
Điều 83).
a) Quyền chuyển nhượng cổ phần
Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần được xem xét ở hai khía cạnh là có quyền chuyển
nhượng cho bất kỳ ai vào bất cứ lúc nào và không cần thủ tục phê chuẩn của công ty.
b) Quyền tiếp cận thông tin
Luật doanh nghiệp quy định quyền lợi cho các cổ đông khá đầy đủ. Tuy nhiên, khi những
quyền này bị vi phạm thì chế tài bảo vệ cho các cổ đông lại chỉ được quy định sơ sài, cổ đông
không thể kiện HĐQT hay Ban lãnh đạo công ty khi họ có hành vi vi phạm ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền lợi của các cổ đông.
1.4. Công khai hóa các giao dịch tƣ lợi và các lợi ích liên quan
Luật Doanh nghiệp quy định hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng quy
định tại Điều 120 phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận
1.5. Công khai thông tin về công ty cổ phần
Minh bạch hóa thông tin là một phương tiện hiệu quả để bảo vệ cổ đông. Thông tin đầy
đủ và kịp thời về công ty là yếu tố rất quan trọng giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư
chính xác.
1.6. Trách nhiệm của HĐQT và giám đốc
Luật Doanh nghiệp quy định nghĩa vụ của HĐQT và giám đốc trong "nghĩa vụ người
quản lý" như sau (Điều 119):
Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất
nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty và cổ đông công ty.
Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông của công ty; không sử dụng thông tin, bí
quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư
lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty và các doanh nghiệp mà họ và người
có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ phần chi phối; thông báo này được
niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty.
1.7. Kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ là cách thức để cổ đông gián tiếp giám sát hoạt động quản lý được thực
hiện bởi BKS.
BKS thực hiện giám sát HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và
điều hành công ty; chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong việc thực hiện các nhiệm vụ được
giao.
Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều
hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.
sự phát triển của thị trường vốn cũng như nền kinh tế nói chung.
Chương 2
CƠ CHẾ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM VÀ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT MỘT
SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Thực trạng bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
2.1.1. Tình trạng vi phạm các quyền cơ bản của cổ đông
Luật Doanh nghiệp đã quy định các quyền cơ bản của cổ đông trong công ty cổ phần một
cách rõ ràng, nhưng trong thực tế tình trạng vi phạm quyền của cổ đông vẫn diễn ra thường
xuyên.
Quyền tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ bị hạn chế
Luật Doanh nghiệp đã quy định rất rõ ràng rằng tất cả các cổ đông phổ thông đều có
quyền tham dự và biểu quyết mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. Mỗi một cổ phần
phổ thông có một phiếu biểu quyết, như vậy về nguyên tắc, đã là cổ đông nắm giữ cổ phần
của công ty thì dù ít hay nhiều đều có quyền ngang nhau trong việc tham dự và biểu quyết tại
cuộc họp ĐHĐCĐ.
Trên thực tế, hầu hết các công ty cổ phần đều không thực hiện triệt để nguyên tắc này. Lý
do mà các công ty đưa ra đều không dựa trên cơ sở pháp lý cụ thể mà chỉ là ý chí của từng
công ty để biện minh cho sự vi phạm của mình như: Do địa điểm tổ chức chật hẹp, không đủ
diện tích cho tất cả các cổ đông trong công ty tham dự ngồi họp.
Quyền thông tin của cổ đông.
Phần lớn các cổ đông không được tiếp cận các thông tin trọng yếu của công ty hoặc
không đầy đủ, hoặc thiếu chính xác và trung thực. Các cổ đông thiểu số hầu như không nhận
được thông báo về quyết định của ĐHĐCĐ, tóm tắt báo cáo tài chính, thông báo về việc trả
cổ tức.
2.1.2. Sự lạm quyền của cổ đông nhà nước trong các công ty cổ phần hóa
Khi còn là doanh nghiệp nhà nước, cách hành xử của chủ sở hữu Nhà nước khác xa với
cách sử dụng quyền sở hữu của Nhà nước với tư cách cổ đông trong công ty cổ phần sau quá
trình chuyển đổi.
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông trên thực tế
Trong quá trình áp dụng pháp luật thời gian qua cho thấy không ít các cổ đông đã vi
phạm quyền và nghĩa vụ của mình.
Cổ đông lớn (nhất là các cổ đông nhà nước) đã lạm dụng quyền và thực thi quyền của
mình chưa đúng với quy định của pháp luật
2.2.3. Hội đồng quản trị
Chức năng và quyền hạn của HĐQT theo luật doanh nghiệp là tập trung vào các vấn đề
chiến lược, định hướng, vốn và cơ cấu vốn, nhân sự chủ chốt, giám sát quản lý điều hành và
đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, hiệu lực của HĐQT trên thực tế còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác.
Thành viên HĐQT ở các công ty cổ phần thường là thành viên có tỷ lệ lớn về sở hữu cổ
phần trong công ty. Như vậy, có thể nói đa số các thành viên HĐQT ở nước ta là các cổ đông
lớn hoặc đại diện các cổ đông lớn và người lớn nhất trong số họ thường kiêm luôn chức Tổng
giám đốc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày tại công ty
2.2.4. Ban kiểm soát
Về hình thức, cơ cấu quản lý nội bộ của các công ty cổ phần là hợp lý và cân bằng. BKS
thực hiện việc giám sát và kiểm soát nội bộ, trực tiếp giám sát HĐQT và Ban giám đốc. BKS
có vai trò ngang bằng với HĐQT, cùng chịu trách nhiệm trước cổ đông trong việc thực hiện
các quyền và nhiệm vụ của mình.
Đa số thành viên BKS đều là người lao động trong công ty. Như vậy, họ chỉ là kiểm soát
viên kiêm nhiệm và nhiệm vụ chính của họ có lẽ không phải là thực hiện giám sát quản lý nội
bộ công ty mà là thực hiện các công việc với vai trò là người lao động trong công ty.
Như vậy, các thành viên BKS không độc lập; họ là những người cấp dưới và hoàn toàn
phụ thuộc vào các thành viên HĐQT và Tổng giám đốc. Họ cũng không phải là người chuyên
trách, có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm nghề nghiệp, không chuyên trách kiểm soát
nội bộ công ty. Có thể nói, trong nội bộ công ty, các thành viên BKS có vị thế, trình độ
chuyên môn và có thể cả uy tín thấp hơn so với các thành viên HĐQT và Tổng giám đốc.
2.3. Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật của Nhật Bản
công ty ở Nhật chịu sự can thiệp mạnh mẽ của Bộ tài chính, bộ này kiểm soát công ty
trong nhiều lĩnh vực kể cả đồng vốn ra vào của công ty. Một kết cấu vốn chằng chịt giữa các
lý công ty là việc của HĐQT và Tổng giám đốc.
b) Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc
HĐQT là người đại diện cho cổ đông và quyền lực của công ty thuộc về họ. Tất cả quyền
lực trong công ty đều phải được thi hành bởi HĐQT hay theo sự ủy quyền của nơi này. Hoạt
động kinh doanh và công việc nội bộ trong công ty được quản lý theo sự hướng dẫn hay điều
hành của HĐQT. Do vậy, TGĐ và các nhà quản lý cấp dưới khác tiến hành công việc theo sự
chỉ đạo từ HĐQT, và chịu trách nhiệm trước HĐQT.
2.6. Bảo vệ cổ đông theo Bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD
Bộ nguyên tắc quản trị công ty của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD xây dựng
dựa trên các nhân tố chung của các mô hình quản trị công ty khác nhau trên thế giới. Bộ nguyên
tắc nêu lên những xâyyến nghị hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách trong quá trình xây
dựng khung pháp lý, thể chế phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị và văn hóa của quốc gia
mình, cũng như giúp các doanh nghiệp, hiệp hội xây dựng các quy tắc tốt nhất về quản trị
công ty. Tuy vậy, như bản thân từ "nguyên tắc", Bộ nguyên tắc không sắp sẵn các quy định
pháp luật cụ thể mà chỉ nêu ra những mục tiêu khái quát và các biện pháp để đạt mục tiêu đó.
Quyền của cổ đông
Các quyền cơ bản của cổ đông bao gồm: Quyền được đảm bảo các phương thức đăng ký
quyền sở hữu; Quyền chuyển nhượng hoặc chuyển giao cổ phần; Quyền tiếp nhận các thông
tin trọng yếu và liên quan đến công ty kịp thời và đều đặn; Quyền tham dự và bỏ phiếu trong
đại hội cổ đông; Quyền bầu và bãi nhiệm thành viên HĐQT; Quyền được chia lợi nhuận của
công ty.
Đối xử công bằng giữa các cổ đông
Khuôn khổ quản trị công ty cần hướng tới đối xử công bằng giữa các cổ đông, bao gồm
cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài. Mọi cổ đông đều có cơ hội được bồi thường thỏa
đáng khi quyền của họ bị vi phạm.
Tất cả các cổ đông cùng một hạng cần phải được đối xử bình đẳng
Công khai và minh bạch
Thông tin phải công bố bao gồm (i) các kết quả hoạt động và tài chính của công ty như
báo cáo tài chính, (ii) các mục tiêu hoạt động của công ty, (iii) sở hữu của các cổ đông chính
và quyền bỏ phiếu, (iv) chính sách lương, thưởng cho HĐQT và các nhà điều hành chủ chốt,
Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị thường.
So với các nước trên thế giới thì nền kinh tế nước ta còn rất non trẻ. Từ khía cạnh lập pháp
đến việc vận dụng và áp dụng pháp luật từ phía các cơ quan nhà nước đến việc thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của chính các doanh nghiệp và các nhà đầu tư còn gặp rất nhiều lúng túng.
Hệ thống các cơ quan giám sát, tòa án cũng chưa có nhiều kinh nghiệm và chưa được trang bị
các công cụ pháp lý một cách đầy đủ để có thể giải quyết các tranh chấp, xung đột về quyền
và nghĩa vụ của các bên một cách rạch ròi. Thói quen làm việc hay quản lý kinh doanh của ta
cũng còn dựa nhiều vào mối quan hệ quen biết, theo sự chỉ đạo. Pháp luật chưa được áp dụng
một cách triệt để vào mọi hoạt động của nền kinh tế.
Ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, mỗi nước đều có những điều kiện, hoàn cảnh khác
biệt nhau. Nền kinh tế của mỗi nước từ đó mà có những ảnh hưởng nhất định. Mục đích chung
của tất cả các nền kinh tế từ đang phát triển đến những nền kinh tế đã vững mạnh thì đều hướng
tới mục đích tạo ra sản phẩm, dịch vụ là những giá trị kinh tế cho xã hội một cách ổn định và bền
vững. Tuy nhiên, cách thức thực hiện việc quản trị nền kinh tế ở mỗi quốc gia là khác nhau. Tùy
thuộc và từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế của từng nước mà có cách áp dụng hình thức
quản trị cho phù hợp.
Các nước được đánh giá là có hệ thống quản trị nền kinh tế có hiệu quả khi pháp luật và
cơ chế giám sát áp dụng pháp luật của họ bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của các cổ đông. Với
nhiều cách thức khác nhau, pháp luật có thể trao quyền cho các cổ đông can thiệp trực tiếp
vào hoạt động kinh doanh của công ty hoặc trao quyền cho người quản lý nhưng cổ đông có
quyền giám sát và sa thải ban lãnh đạo nếu họ hoạt động không vì quyền lợi của các cổ đông.
Từ những kinh nghiệm, bài học của các nước khác nhau, chúng ta cần nghiên cứu để
đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của mỗi nền kinh tế, nhưng điểm phù hợp và không
phù hợp so với Việt Nam, từ đó có những kiến giải tốt nhất cho nền kinh tế nước ta trong giai
đoạn hiện nay và xây dựng một mô hình kinh tế ổn định trong tương lai.
Chương 3
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA CỔ
ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
3.1. Giải pháp bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
3.1.3. Cổ đông thiểu số tự bảo vệ mình
Các cổ đông thiểu số có thể thực hiện quyền cổ đông thông qua việc tham dự hội nghị cổ
đông, đề xuất chương trình hành động tại hội nghị cổ đông, bầu ban lãnh đạo, thực hiện các
hành vi pháp lý như nộp hồ sơ kiện dân sự, nộp hồ sơ điều tra hình sự.
Các cổ đông nhỏ cần nghiên cứu quyền lợi và nghĩa vụ của mình trước khi tham gia vào
công ty. Các cổ đông nhỏ cần có sự tư vấn của các chuyên gia hay thuê luật sư tư vấn.
Các cổ đông thiểu số cần liên kết lại để tự bảo vệ mình. Thực tế, nhiều cổ đông nhỏ đã tự
hạn chế những quyền lợi của chính họ. Tại không ít doanh nghiệp cổ phần niêm yết, phần lớn
các cổ đông nhỏ không có điều kiện thực hiện đầy đủ quyền của cổ đông, thậm chí không bao
giờ nghiên cứu điều lệ của doanh nghiệp mà mình nắm giữ cổ phần Họ không tham gia đại
hội cổ đông vì cho rằng ý kiến của mình không giải quyết được điều gì; không nắm được
thông tin cần thiết nên không có khả năng tham gia quản lý, quyết định các vấn đề liên quan
đến doanh nghiệp.
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong
công ty cổ phần ở Việt Nam
3.2.1. Kiến nghị sửa đổi Luật doanh nghiệp 2005
Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần,
chú trọng các vấn đề sau:
Đảm bảo các quyền cơ bản của cổ đông như quyền tiếp cận thông tin, chuyển nhượng cổ
phần, thiết lập cơ chế để cổ đông thực thi quyền một cách có hiệu quả.
Định rõ các thể thức tiến hành hợp ĐHĐCĐ, thủ tục ủy quyền biểu quyết, thủ tục lấy ý
kiến cổ đông bằng văn bản để thông qua quyết định của ĐHĐCĐ.
Quy định các biện pháp nhằm giám sát giao dịch tư lợi, yêu cầu người quản lý công khai
hóa các lợi ích liên quan nhằm chống các xung đột về quyền lợi.
Tăng thêm quy định yêu cầu công khai, minh bạch đối với công ty cổ phần. Tăng cường
trách nhiệm của BKS.
Xây dựng cơ chế chuyển nhượng cổ phần thông thoáng hơn, bảo đảm quyền lợi của các
cổ đông trong quá trình chuyển nhượng.
3.2.2. Kiến nghị nhằm bảo vệ tốt quyền của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Bảo vệ cổ đông không phải là nhiệm vụ của duy nhất Luật doanh nghiệp. Để bảo vệ tốt
như vai trò của bảo vệ cổ đông đối với sự phát triển của công ty và nền kinh tế.
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Thực trạng pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam.
Vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật quốc tế. Các nguyên tắc về quản trị công
ty của OECD với các khuyến nghị về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam.
Cuối cùng, luận văn đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam. References
1. Hoàng Anh (2007), "Cổ đông thiểu số cần được bảo vệ", Bản tin tài chính, ngày 30/7.
2. Ban pháp chế - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (2007), "Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
cho thị trường chứng khoán", Chứng khoán Việt Nam, (99+100).
3. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty: vốn, quản lý và tranh chấp theo
luật doanh nghiệp 2005, Nxb Trí thức, Hà Nội.
4. Chính phủ (2004), Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11 quy định về việc chuyển
công ty Nhà nước thành công ty cổ phần, Hà Nội.
5. Chính phủ (2006), Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8 quy định về đăng ký kinh
doanh, Hà Nội.
6. Chính phủ (2007), Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Chứng khoán, Hà Nội.
7. Chính phủ (2007), Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26-6 về chuyển doanh nghiệp
100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, Hà Nội.
8. Chính phủ (2007), Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9 hướng dẫn chi tiết thi hành
một số điều của Luật Doanh nghiệp, Hà Nội.
9. Chính phủ (2006), Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21/9 quy định việc đăng ký lại,
chuyển đổi và đăng ký đổi giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài theo quy định của luật doanh nghiệp và luật đầu tư, Hà Nội.
10. Chính phủ (2006), Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành luật đầu tư, Hà Nội.
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
31. Lê Thị Thu Thủy và Nguyễn Anh Sơn (2004), Pháp luật về tổ chức và hoạt động của
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
32. Trần Thu Trang (2007), "Cổ đông thiểu số cần liên kết lại để bảo vệ mình", Đầu tư
chứng khoán, ngày 15/6.
33. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (2009), Công văn số 1019/UBCK-QLPH ngày 02/6 về
việc vi phạm luật doanh nghiệp trong việc hạn chế quyền của cổ đông tham dự Đại
hội đồng cổ đông, Hà Nội.
TIẾNG ANH
34. OECD (2004), OECD Principles of Corporate Governance.