TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2008 - 2012
ĐỀ TÀI:
BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ts. Dư Ngọc Bích
Nguyễn Thị Mỹ Hiền
MSSV: 5085956
Lớp: Luật thương mại 1 K34
Cần Thơ, 05/2012
NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
--- --...............................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Cần Thơ, ngày…. tháng…. năm….
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triển
trong những điều kiện lịch sử và xã hội nhất định. Sự hình thành và phát triển của công
ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn, thị trường tiền tệ. Đối với
Việt Nam, sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đã ban hành Luật công ty
năm 1990 và chín năm sau ban hành Luật doanh nghiệp để thay thế Luật công ty năm
1990 và tiếp đến là Luật doanh nghiệp năm 2005. Luật doanh nghiệp 2005 ra đời cùng
Trang 1
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
chế của pháp luật, góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số nói riêng,
pháp luật về bảo vệ cổ đông - nhà đầu tư nói chung.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài người viết chỉ đưa ra các vấn đề về các quy định của
pháp luật Việt Nam về bảo vệ cổ đông thiểu số, tìm hiểu phân tích thực trạng của vấn
đề này ở Việt Nam, từ đó người viết đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo vệ
cổ đông thiểu số, tạo tâm lý an tâm cho các nhà đầu tư, góp phần lành mạnh hóa môi
trường kinh doanh ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu và hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất người viết đã sử dụng một
vài phương pháp để làm công tác phục vụ cho việc nghiên cứu của mình như sau:
- Phương pháp phân tích nghiên cứu luật viết dùng để tìm hiểu các quy định của
pháp luật doanh nghiệp hiện hành
- Phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh, đối chiếu vận dụng các quy định
của pháp luật doanh nghiệp về quyền của cổ đông thiểu số
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, sử dụng các trang web để tìm kiếm
và sưu tầm tài liệu đồng thời vận dụng các tài liệu của các nhà nghiên cứu, các tạp chí
chuyên ngành về vấn đề nghiên cứu và những vấn đề có liên quan nhằm bổ sung kiến
thức về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật để tìm ra những vướng mắc trong
việc áp dụng pháp luật ở lĩnh vực nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài
Để trình bày ý tưởng một cách khoa học, có hướng đi đúng đắn, người viết kết
Trang 3
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Cổ đông
Một trong những đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần là tính đa đạng hóa chủ
sở hữu và khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần nên công ty cổ phần là loại hình
doanh nghiệp thu hút vốn từ đại chúng rất hiệu quả. Luật doanh nghiệp quy định cá
nhân hay tổ chức góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh được
gọi là “thành viên”, cá nhân hay tổ chức mua cổ phần của công ty cổ phần được gọi là
“cổ đông”. Về bản chất họ đều là thành viên của doanh nghiệp và tên gọi thế nào chỉ là
căn cứ để phân biệt họ là thành viên của loại hình doanh nghiệp nào.
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành, tổ chức, cá nhân sở hữu cổ phần
đã phát hành của công ty cổ phần được gọi là cổ đông2. Theo đó thì tất cả các tổ chức,
cá nhân trên không phân biệt quốc tịch nếu không thuộc trường hợp bị pháp luật cấm3
điều có thể trở thành cổ đông của công ty cổ phần. Số lượng cổ đông trong công ty cổ
phần tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa, do đó công ty cổ phần có thể lên
đến hàng ngàn, hàng vạn thậm chí hàng triệu cổ đông. Cổ đông có quyền tự do chuyển
nhượng cổ phần của mình trừ một số trường hợp Luật quy định hạn chế đối với cổ
phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập. Vì vậy, việc gia nhập và thay
đổi cổ đông đối với công ty cổ phần là rất linh hoạt, làm cho vốn cổ phần có tính thanh
khoản cao (tức dễ dàng bán ra khi cần tiền). Với cơ chế này đã tạo cho công ty cổ phần
huy động vốn một cách dễ dàng. Luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành không có quy
cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi, được nhận một số quyền ưu tiên hơn nhưng đồng thời
cũng phải từ bỏ một số quyền nhất định. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây: cổ phần
ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại. Tuy nhiên dưới góc
độ thực tiễn, người ta thường quan tâm tới tiêu chí tỷ lệ cổ phần mà cổ đông sở hữu để
phân loại cổ đông hơn. Theo tiêu chí này, thì cổ đông sẽ được chia thành cổ đông sở
hữu nhiều vốn hay còn gọi là cổ đông lớn và cổ đông ít vốn hay còn gọi là cổ đông
thiểu số. Ở góc độ này vẫn chỉ nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của cổ đông có quyền
biểu quyết: cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi biểu quyết. Theo Khoản 3 Điều 78
Luật doanh nghiệp thì chỉ có tổ chức được chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập6
được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng
lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập
chuyển thành cổ phần phổ thông. Do đó đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quyền và nghĩa
vụ của cổ đông phổ thông.
1.1.2. Cổ đông thiểu số
Cổ đông thiểu số là khái niệm tương đối trên thực tế còn tồn tại nhiều tên gọi
khác nhau. So với cổ đông sở hữu nhiều vốn thì cổ đông sở hữu ít vốn có thể gọi là cổ
đông ít vốn, cổ đông nhỏ hay cổ đông thiểu số, đôi khi còn được gọi là “những ông
chủ thấp cổ bé họng”7.
Do có nhiều cách thức để phân loại cổ đông và theo mỗi cách thức nhất định sẽ
có những loại cổ đông khác nhau. Trong quản trị công ty và khoa học pháp lý, người ta
thường chia các cổ đông thành cổ đông lớn và cổ đông thiểu số. Theo Nguyễn Đình
Cung và Nguyễn Ngọc Bích thì chia cổ đông thành cổ đông ít vốn (cổ đông thiểu số)
và cổ đông đa số. Và việc gọi là cổ đông ít vốn hay cổ đông thiểu số phải xuất phát từ
mối quan hệ giữa phần vốn góp và quyền của cổ đông, theo đó gọi là cổ đông ít vốn
hay nhiều vốn là nói đến phần vốn mà cổ đông góp vào công ty và gọi là đa số hay
thiểu số là khi họ thực hiện quyền biểu quyết. Còn theo Phạm Duy Nghĩa thì cho rằng
“người nắm giữ phần vốn đáng kể trong công ty, có thể thu gom phiếu để thao túng
công ty được gọi là cổ đông đa số. Ngược lại các cổ đông nhỏ không có ảnh hưởng
5
đưa vào con số tỷ lệ 10% để dành cho cổ đông nhỏ một số quyền nhất định9, tuy nhiên
dưới góc độ pháp lý ta có thể tiếp cận định nghĩa này trong mối quan hệ với định nghĩa
về cổ đông lớn. Định nghĩa về cổ đông lớn hiện nay có hai văn bản quy định là Luật
các tổ chức tín dụng 2010, cụ thể Khoản 26 Điều 4: “Cổ đông lớn của tổ chức tín dụng
cổ phần là cổ đông sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết
trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần đó”, và Luật chứng khoán năm 2006 (Khoản 9
Điều 6) định nghĩa: “Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở
lên số phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”. Luật doanh nghiệp Khoản 4
Điều 86 có đề cập đến việc đăng ký cổ đông sở hữu tỷ lệ 5% với cơ quan đăng ký kinh
doanh. Như vậy cả Luật chứng khoán và Luật các tổ chức tín dụng đã đưa ra một tỉ lệ
chính xác là 5% để phân định ranh giới giữa cổ đông lớn và các cổ đông còn lại trong
công ty cổ phần. Như vậy ta có thể suy ra cổ đông còn lại là những cổ đông thiểu số
hay cổ đông nhỏ (cho phù hợp với cách gọi cổ đông lớn của cặp phạm trù lớn-nhỏ) hay
không?
Rõ ràng nếu hiểu khái niệm cổ đông thiểu số dựa trên ranh giới tỷ lệ sở hữu cổ
phần như trên là không hợp lý, bởi các nhà làm luật đặt ra những tỷ lệ đó để ghi nhận
các quyền lợi cho cổ đông lớn chứ không hề phản ánh được đầy đủ về bản chất của cổ
đông lớn hay cổ đông thiểu số.
Từ những phân tích trên cho thấy với những quy định của pháp luật hiện hành
khó có thể đưa ra một định nghĩa về cổ đông thiểu số, song ta có thể hiểu “cổ đông
thiểu số thì không chi phối được công ty, không có khả năng áp đặt quan điểm, đường
lối sách lược của mình cho công ty, không thể quyết định được việc lựa chọn đa số
8
9
Theo Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình luật kinh tế, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 101-102
Khoản 2 Điều 79 Luật doanh nghiệp 2005
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
phần trăm cổ phần có quyền biểu quyết của họ, cần phải xem xét cả góc độ khả năng
chi phối, kiểm soát công ty của cổ đông. Cụ thể khả năng của họ trong việc tác động
tới chính sách, kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển, lựa chọn người quản lý, hay
vai trò của họ khi biểu quyết thông qua các vấn đề tại cơ quan quyền lực cao nhất
trong công ty - Đại hội đồng cổ đông.
Hay nói cách khác để xác định cổ đông có được xem là cổ đông thiểu số thì cần
dựa trên hai yếu tố là tỷ lệ cổ phần mà cổ đông sở hữu trong công ty và khả năng tham
gia vào quá trình trình quản lý, chi phối, kiểm soát các hoạt động của công ty. Vì nếu
không tính đến khả năng chi phối, kiểm soát công ty thì với số lượng cổ phần chưa thể
xác định cổ đông có là thiểu số hay cổ đông lớn. Và trong công ty cổ phần khả năng
tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát công ty của cổ đông phụ thuộc rất lớn vào tỷ
10
Bùi Xuân Hải, Bảo vệ cổ đông: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong luật doanh nghiệp 2005, Tạp chí khoa
học pháp lý số 01, 2009, tr. 17
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
Trang 7
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
lệ phần vốn góp mà cổ đông đó nắm giữ trong công ty, theo đó cổ đông sở hữu tỷ lệ cổ
phần càng cao trong công ty thì khả năng chi phối tới quá trình kiểm soát công ty càng
cao nên lẽ dĩ nhiên cổ đông với số lượng cổ phần nhỏ họ sẽ không thể tham gia vào
quá trình quản lý, kiểm soát công ty, khi đó quyền lợi của họ sẽ bị hạn chế. Trường
họp họ liên kết lại tạo thành nhóm cổ đông và thực thi được quyền của nhóm cổ đông
khoán tập trung cũng như thị trường phi tập trung. Họ có thể là doanh nhân, trí thức,
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
Trang 8
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
cán bộ công chức, sinh viên, lao động phổ thông hay những ngành nghề, lĩnh vực
khác, với chút tiền nhỏ nhoi, họ tham gia đầu tư vào các công ty cổ phần với ước mơ
làm giàu. Nhưng trước khi đạt được ước mơ đó, họ phải đối điện với vô vàn bất lợi từ
nhiều phía. Ít vốn, họ có ít quyền và tiếng nói ít trọng lượng trong hoạt động điều hành
công ty. Họ bị chèn ép và buộc phải cuốn theo những kế hoạch kinh doanh đã được
sắp đặt trước của các cổ đông lớn.
Chúng ta điều biết rằng công ty phải có Điều lệ song quyền lợi của cổ đông thiểu
số không thể trông cậy vào quy định của Điều lệ công ty, khi mà các nhà đầu tư ở Việt
Nam thường thành lập công ty với Bản điều lệ khá sơ sài chỉ để hoàn thành thủ tục
đăng ký kinh doanh, thậm chí sao chép điều lệ của công ty khác hay sử dụng đúng bản
mẫu điều lệ rất đơn giản mà các cơ quan đăng ký kinh doanh khuyến cáo sử dụng.
Chẳng thể hi vọng vào việc các cổ đông lớn sẽ sửa đổi bổ sung điều lệ nhằm tăng
cường việc bảo vệ các cổ đông thiếu số trong công ty bởi vì tỷ lệ biểu quyết thông qua,
sửa đổi, bổ sung điều lệ luôn ở mức cao (ít nhất 75% số phiếu biểu quyết)11. Vì vậy
đây là một trong các lý do cần phải bảo vệ cổ đông thiểu số.
Ngoài ra, do mối quan hệ giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số cũng là lý do cần
thiết phải bảo vệ cổ đông thiểu số. Với tư cách là cổ đông trong công ty cổ phần nhưng
không phải lúc nào các quyền và lợi ích giữa họ là như nhau, như khả năng chi phối,
tham gia hoạt động quản lý, kiểm soát công ty, dễ thấy nhất là trong các công ty cổ
phần có quy mô lớn, công ty đại chúng, lợi ích của các cổ đông thường không thống
lại chiếm số lượng lớn trong các nhà đầu tư chính vì vậy họ có vai trò quan trọng trong
việc tạo ra nguốn vốn cho nền kinh tế. Các cổ đông lớn dù với số vốn lớn đủ để họ
mang lại lợi nhuận cho chính mình và đóng góp quan trọng cho nền kinh tế, nhưng
thực tế đã chứng minh họ không phải là số đông đủ để giúp nền kinh tế vận hành và
phát triển một cách tốt nhất nếu như không có đồng lòng, sát cánh của của những cổ
đông thiểu số dù ít tiền nhưng chiếm số đông. Chính vì thế cần xây dựng công cụ pháp
lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư, đồng thời thông qua đó tạo niềm
tin và khuyến khích cổ đông thiểu số bỏ tiền ra kinh doannh, tạo nguồn vốn cho sự
phát triển của nền kinh tế
Thứ hai là đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của công ty cổ phần và thị trường
chứng khoán. Công ty cổ phần và thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng trong
nền kinh tế quốc gia, nếu không có nhà đầu tư nào bỏ tiền ra kinh doanh thì không thể
có công ty cổ phần cũng như thị trường chứng khoán vì vậy muốn duy trì sự tồn tại và
đảm bảo sự phát triển cho công ty cổ phần và thị trường chứng khoán, thì phải bảo vệ
được quyền lợi các cổ đông đặc biệt là cổ đông thiểu số. Nói cách khác phải bảo vệ
được quyền lợi của cổ đông thiểu số thì những ông chủ nhỏ này mới chịu bỏ tiền ra
thành lập hoặc tham gia vào công ty cổ phần và đây là điều kiện để duy trì sự tồn tại
và phát triển loại hình doanh nghiệp này cũng như thị trường chứng khoán. Ngược lại
nếu không có công cụ pháp lý đảm bảo họ thực hiện các quyền của mình hay không
tạo được niềm tin về việc đầu tư có lợi nhuận, thì chẳng có nhà đầu tư nào bỏ tiền ra
để thành lập hay tham gia vào công ty cổ phần cũng như mua chứng khoán trên thị
trường chứng khoán, bởi đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận khi không có niềm tin sẽ được
hưởng lợi nhuận từ đầu tư thì chắn chắn không ai lại bỏ tiền ra kinh doanh.
1.4. Nguyên tắc bảo vệ cổ đông thiểu số
Pháp luật là công cụ quan trọng nhất để bảo vệ cổ đông nói chung và bảo vệ cổ
đông thiểu số nói riêng, tuy nhiên pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số cần dựa trên
những nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất là bảo vệ cổ đông thiểu số cần dựa trên nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa,
cân bằng về lợi ích với cổ đông lớn, tức là không được hy sinh lợi ích của nhóm cổ
đông này để đảm bảo lợi ích của nhóm cổ đông khác nhưng một số quy định nhằm bảo
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
Trang 11
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
Trong chương này người viết sẽ trình bày các quyền của cổ đông theo pháp luật
doanh nghiệp hiện hành, ở từng quyền bên cạnh việc phân tích những quy định của
Luật, người viết trình bày những thực trạng vi phạm quyền lợi của cổ đông thiểu số đã
và đang diễn ra qua đó đề xuất một vài giải pháp hoàn thiện.
Để bảo vệ cổ đông thiểu số thì phải sử dụng công cụ pháp luật mà trong đó quy
định quyền của cổ đông đóng vai trò quan trọng nhất. Quyền của cổ đông là yếu tố đầu
tiên và quan trọng nhất để bảo vệ cổ đông thiểu số bởi vì nó là phương tiện duy nhất
mà cổ đông có thể tự mình sử dụng. Nói cách khác, quyền của cổ đông là điều kiện
cần. Tất cả những yếu tố khác như cơ cấu tổ chức nội bộ, kiểm soát bên ngoài hay các
thiết chế thực thi (sau đây gọi chung là cơ chế kiểm soát) có thể coi là những yếu tố bổ
trợ, đảm bảo, là những điều kiện đủ để bảo vệ cổ đông thiểu số13. Nhưng pháp luật
không phân định đâu là quyền của cổ đông lớn đâu là quyền của cổ đông nhỏ thay vào
đó Luật doanh nghiệp quy định quyền của cổ đông phổ thông14, một số đặc thù của
những cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong
thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ
công ty15 và quyền của cổ đông ưu đãi.
Xét một cách tổng quan, các quyền của cổ đông công ty cổ phần có thể chia
nghiệp 2005, cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi được thực hiện theo các điều kiện áp dụng
riêng cho mỗi loại cổ phần ưu đãi. Trong công ty cổ phần thì cổ phần ưu đãi cổ tức là
cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông
hoặc mức ổn định hàng năm. Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức
thưởng. Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Mức cổ
tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của
cổ phần ưu đãi cổ tức.
Cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã
thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty.
Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho cổ đông khi công ty cổ phần đã hoàn thành
nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; trích lập các
quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty;
ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán đủ các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.
Cổ tức có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc bằng tài
sản khác quy định tại Điều lệ công ty. Nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải thực hiện
bằng đồng Việt Nam và có thể được thanh toán bằng séc hoặc lệnh trả tiền gửi bằng
bưu điện đến địa chỉ thường trú của cổ đông.
Cổ tức có thể được thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng khi công ty đã
có đủ chi tiết về ngân hàng của cổ đông để có thể chuyển trực tiếp được vào tài khoản
ngân hàng của cổ đông. Nếu công ty đã chuyển khoản theo đúng các thông tin chi tiết
về ngân hàng như thông báo của cổ đông thì công ty không chịu trách nhiệm về các
thiệt hại phát sinh từ việc chuyển khoản đó.
Đại hội đồng cổ đông quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần16.
Hội đồng quản trị kiến nghị mức cổ tức được trả, quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ
tức17 mà không quy định ai quyết định việc trả cổ tức. Bên cạnh đó Luật doanh nghiệp
còn quy định Hội đồng quản trị phải lập danh sách cổ đông được nhận cổ tức, xác định
mức cổ tức được trả đối với từng loại cổ phần, thời hạn và hình thức trả chậm nhất ba
mươi ngày trước mỗi lần trả cổ tức. Thông báo về trả cổ tức phải được gửi bằng
phương thức bảo đảm đến được địa chỉ đăng ký tất cả cổ đông chậm nhất mười lăm
người khác) và khoản 5 Điều 84 (trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển
nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được
chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập
nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông)” và cổ đông dự định chuyển
nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.
Luật hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông ưu đãi biểu quyết vì
cổ đông ưu đãi biểu quyết được hưởng nhiều quyền lợi hơn các cổ đông còn lại về
phiếu biểu quyết quyết định các vấn đề của công ty, còn cổ đông sáng lập, họ là những
người đứng ra lập công ty việc quy định thời gian mà họ được phép chuyển nhượng
nhằm đảm bảo cho công ty hoạt động được ổn định khi mới thành lập. Ngoài ra Khoản
10 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ-CP cũng xác định rõ hơn hạn chế chuyển nhượng
cổ phần của cổ đông sáng lập. Theo đó hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông
sáng lập chỉ giới hạn đối với số cổ phần đã đăng ký mua tại thời điểm đăng ký doanh
nghiệp. Điều đó có nghĩa là hạn chế chuyển nhượng cổ phần không áp dụng đối với số
cổ phần mà cổ đông sáng lập mua thêm do công ty phát hành thêm trong quá trình hoạt
động.
2.1.3. Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần
Là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn, cho nên có sự liên kết của nhiều
thành viên và vì vậy có những bất đồng trong quá trình kinh doanh là điều không thể
tránh khỏi. Khi thấy lợi ích của mình có nguy cơ bị xâm hại hoặc không cùng lợi ích
và mục đích với các cổ đông khác cổ đông có thể rút lại vốn. Khoản 1 Điều 90 Luật
doanh nghiệp hiện hành quy định: “Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ
chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
Trang 14
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
ngay khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác18. Theo đó thì khi cổ đông yêu cầu công ty cổ
phần mua lại cổ phần đòi hỏi công ty cổ phần phải kiểm tra lại điều kiện tài chính và
lượng tiền mặt có sẵn. Ngoài ra sau khi thanh toán hết số cổ phần mua lại, nếu tổng giá
trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty giảm hơn 10% thì công ty phải thông
báo cho tất cả các chủ nợ biết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thanh toán hết
số cổ phần mua lại.
18
Khoản 1 Điều 92 Luật doanh nghiệp năm 2005
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
Trang 15
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
Nhìn chung Luật quy định như trên không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ
mà còn bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong đó cổ đông thiểu số có thể chủ động hơn
trong việc quyết định số vốn của mình, khi không đồng ý với quyết định của công ty
trong một số trường hợp và tránh được việc cổ đông đa số đưa ra những quyết định có
thể gây hại cho mình. Ngoài ra quy định trên còn giúp họ yên tâm khi góp vốn đầu tư.
2.1.4. Quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán
Khi công ty cổ phần cần huy động vốn công ty cổ phần có thể phát hành cổ phần
mới để gọi thêm vốn cổ phần thì khi đó công ty sẽ ưu tiên dành cho các cổ đông đang
sở hữu công ty: “Cổ đông được quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
Trang 16
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
2.2. Các quyền tham gia vào hoạt động quản lý công ty
2.2.1. Quyền lập nhóm cổ đông
Cũng giống như khái niệm cổ đông thiểu số hiện nay vẫn chưa có một quy định
nào của pháp luật định nghĩa về nhóm cổ đông. Pháp luật đặt ra chế định nhóm cổ
đông là nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho cổ đông thiểu số khi những đối tượng
này không thể thực hiện được quyền cổ đông với tư cách độc lập của mình họ có thể
liên kết lại sao cho thỏa những điều kiện của luật định, họ sẽ có một số quyền riêng
biệt. Cụ thể Khoản 2 Điều 79 Luật doanh nghiệp 2005 quy định các cổ đông có thể
liên kết lại sao cho tổng số cổ phần phổ thông mà nhóm cổ đông này sở hữu trên 10%
tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác
nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty thì sẽ có các quyền sau đây:
a) Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (nếu có);
b) Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo
cáo tài chính giữa năm và hàng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các
báo cáo của Ban kiểm soát;
c) Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong một số trường hợp;
d) Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý,
điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết.
Theo đó ta thấy để được gọi là nhóm cổ đông thì phải thỏa mãn điều kiện về thời
gian sở hữu cổ phần và tổng số cổ phần mà nhóm cổ đông sở hữu. Vấn đề đặt ra ở đây
là tại sao Luật lại quy định tổng số cổ phần phổ thông mà nhóm cổ đông sở hữu phải
hội đồng cổ đông là quyền cơ bản của cổ đông, nó gắn liền với lợi ích trực tiếp của cổ
đông, được thừa nhận rộng rãi trong Luật công ty ở các nước trên thế giới, và trong
pháp luật công ty Việt Nam. Khoản 1 Điều 79 Luật doanh nghiệp hiện hành quy định
“cổ đông phổ thông có quyền tham dự họp Đại hội đồng cổ đông và được quyền phát
biểu ý kiến, bày tỏ quan điểm của mình, và được quyền biểu quyết trên nguyên tắc mỗi
cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết”. Theo đó cổ đông phổ thông có quyền
tham gia dự họp Đại hội đồng cổ đông mà không bị hạn chế bởi điều kiện sở hữu về tỉ
lệ cổ phần. Cổ đông có thể tham dự Đại hội đồng cổ đông theo một trong các hình
thức sau đây:
- “Trực tiếp tham dự họp Đại hội đồng cổ đông;
- Gửi phiếu biểu quyết bằng thư bảo đảm đến Hội đồng quản trị chậm nhất 01
ngày trước khi khai mạc cuộc họp. Trong trường hợp này, trưởng ban kiểm phiếu của
Đại hội đồng cổ đông có quyền mở phiếu biểu quyết của cổ đông đó;
- Ủy quyền người khác dự họp Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp cổ đông là tổ
chức không có người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 96 của
Luật doanh nghiệp20 thì ủy quyền người khác dự họp Đại hội đồng cổ đông”21.
Cổ đông có thể bỏ phiếu biểu quyết bằng thư bảo đảm mà không cần tới dự họp
Đại hội đồng cổ đông, đây là một quy định tiến bộ, giúp các cổ đông nhỏ hay cổ đông
không có điều kiện đến dự họp vẫn được quyền biểu quyết thể hiện ý chí của mình.
Tuy lá phiếu biểu quyết của cổ đông nhỏ chẳng đáng kể so với cổ đông lớn, nhưng cổ
20
Cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền cổ đông
của mình theo quy định của pháp luật; trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo ủy quyền được cử thì
phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện. Việc cử chấm dứt hoặc thay đổi người
đại diện theo ủy quyền phải được thông báo bằng văn bản đến công ty trong thời hạn sớm nhất. Thông báo phải
có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số và ngày quyết định thành lập hoặc đăng ký kinh doanh của cổ đông;
b) Số lượng cổ phần, loại cổ phần và ngày đăng ký cổ đông tại công ty;
c) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp
trở thành vấn đề nổi cộm hiện nay.
Khoản 1 Điều 79 Luật doanh nghiệp quy định: Cổ đông phổ thông có quyền
tham dự và phát biểu trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết
trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu
biểu quyết;
Pháp luật đã quy định như vậy nhưng không ít công ty cổ phần đưa ra các yêu
sách bắt buộc cổ đông phải có tỷ lệ sở hữu số cổ phần tối thiểu mới được tham gia Đại
hội đồng cổ đông. Chẳng hạn như PVC Land yêu cầu phải sở hữu từ 0,1% vốn điều lệ
trở lên (tương ứng khoảng 500 triệu đồng) mới được tham dự. Một số đơn vị khác
cũng yêu cầu cổ đông phải sở hữu tối thiểu hàng trăm triệu đồng mệnh giá cổ phiếu
mới được tham dự Đại hội đồng cổ đông thường niên như công ty cổ phần Dược phẩm
TW2 (hơn 5.000 cổ phần), Licogi 18 (hơn 15.000 cổ phần), Lilama 18 (hơn 35.000 cổ
phần), Công ty cổ phần Đầu tư PV-Inconess (hơn 100.000 cổ phần, tương đương gần 1
tỷ đồng), Công ty Bia Thanh Hóa (hơn 5.000 cổ phần), Công ty cổ phần Thương mại
Bia Hà Nội (hơn 20.000 cổ phần). Trường hợp gần đây nhất là Công ty cổ phần Chế
biến Xuất khẩu Thuỷ sản Minh Hải yêu cầu điều kiện tham dự Đại hội cổ đông phải sở
hữu từ 5.000 cổ phần trở lên, các cổ đông sở hữu dưới 5.000 cổ phần phải tập hợp lại
cử đại diện tham dự22. Các cổ đông thiểu số bị hạn chế họp Đại hội cổ đông “đương
nhiên” bị tước đi quyền cao quý nhất của cổ đông là quyết định một số nội dung Nghị
quyết của Đại hội đồng cổ đông. Dẫu biết rằng quyền tham gia đại hội cổ đông không
đồng nhất với quyền biểu quyết có tính chất quyết định. Biểu quyết thông qua có tính
22
http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/kinhte-thitruong/thitruong/2009/6/18643.html;
http://www.tinnhanhchungkhoan.vn/tintuc.php?nid=20312;
http://www.tinnhanhchungkhoan.vn/tintuc.php?nid=18181
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
Trang 19
được chia xẻ ý kiến của mình đối với những người điều hành công ty. Đặc biệt liên
quan đến việc chào bán cổ phần/cổ phiếu. Nếu các cổ đông nhỏ biết liên kết để hình
thành nhóm cổ đông sở hữu đạt tỷ lệ trên 10% tổng số cổ phần phổ thông, họ có quyền
cử người vào Hội đồng quản trị. Có người là thành viên Hội đồng quản trị, họ nắm bắt
được thông tin và tham gia quyết định giá cổ phần chào bán ra bên ngoài – vấn đề nổi
cộm hiện nay. Giá cổ phần chào bán liên quan đến lợi ích kinh tế. Do đó, có rất nhiều
công ty quyết định giá cổ phần/cổ phiếu thấp hơn giá thị trường sao cho có lợi cho
những cổ đông lớn, thành viên Hội đồng quản trị… Ví dụ như trong các công ty cổ
phần Giao nhận vận tải & thương mại (Vinalink), công ty cổ phần dịch vụ Sài Gòn –
Savico (SVC),… Liên quan đến giá cổ phần/cổ phiếu, một số công ty cho phép cổ
23
http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Ai-bao-ve-co-dong-nho/50786424/411/
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
Trang 20
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
đông nhỏ mua cổ phần/cổ phiếu của công ty nhưng quy định giá mua của cổ đông nhỏ
cao hơn nhiều lần giá mua của cổ đông lớn như công ty cổ phần vận tải xăng dầu
(VIPCO)24. Những cổ đông nhỏ bị mất quyền lợi của mình ngay chính tại công ty mà
mình là chủ sở hữu. Theo Luật Chứng khoán của Australia, Uỷ ban Chứng khoán và
đầu tư (Australian Sercurities and Investments Comission – ASIC) sẽ xem xét những
trường hợp ưu ái cổ đông lớn. Nếu sự ưu ái đó bị những cổ đông nhỏ phản đối, ASIC
http://vietbao.vn/The-gioi-giai-tri/Ai-bao-ve-co-dong-nho/50786424/411/
26
http://vietbao.vn/Kinh-te/Lap-cau-lac-bo-cac-co-dong-thieu-so/55159774/91/
25
GVHD: TS. Dư Ngọc Bích
Trang 21
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hiền
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
Bên cạnh đó quyền dự họp Đại hội cổ đông của cổ đông nhỏ phải được đảm bảo
bằng những biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp tư pháp. Nhưng các cơ quan
có thẩm quyền phải hướng dẫn cụ thể để các cơ quan tiến hành tố tụng thực thi quyền
của cổ đông nhỏ. Các cổ đông nhỏ tham gia công ty cổ phần với vốn góp ít phải
nghiên cứu kỹ càng về công ty, Bản điều lệ công ty và xác định mục đích của mình (cổ
tức và lãi vốn chẳng hạn). Cổ đông nhỏ được luật pháp trao cho quyền nhất định để tự
bảo vệ mình, nhưng quyền được giới hạn trong số vốn góp. Tóm lại, khi có những cơ
chế đảm bảo quyền dự họp Đại hội cổ đông của cổ đông nhỏ là bước đầu thực hiện
quyền của họ. Bởi quyền dự họp Đại hội cổ đông là nền tảng để cổ đông nhỏ thực hiện
các quyền khác của mình. Nhưng thực tế, quyền dự họp đang trở thành vấn đề nóng
bỏng do các công ty cổ phần đang vi phạm. Thiết nghĩ, cần chấn chỉnh lại việc thực thi
Luật doanh nghiệp, sau đó phải có định hướng cho các cổ đông nhỏ biết liên kết, tự
bảo vệ quyền của mình. Cuối cùng, quyền đó phải được bảo đảm từ phía các cơ quan
bảo vệ pháp luật. Như thế, môi trường kinh doanh của Việt Nam chắc chắn sẽ được cải
thiện trong thời gian tới.
Tóm lại: Quyền lợi của cổ đông nhỏ theo quy định của pháp luật tại Điều 79