1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THÁI HÁN
BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2012 2
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU Tran
g
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA
CỔ ĐÔNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ
CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ
PHẦN
3
1.1.
Khái quát về công ty cổ phần
3
1.1.1.
Sự hình thành công ty cổ phần trong lịch sử
3
Kiểm soát nội bộ
28
Chương 2: CƠ CHẾ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
VÀ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ
NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
32
2.1.
Thực trạng bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
32
2.1.1.
Tình trạng vi phạm các quyền cơ bản của cổ đông
32
2.1.2.
Sự lạm quyền của cổ đông nhà nước trong các công ty cổ
phần hóa
33 2.1.3.
Sự vi phạm quyền của cổ đông thiểu số trên thực tế
34
2.1.4.
Bất cập trong cách thức thực hiện quyền cổ đông
39
2.2.
Thực tiễn quản lý và điều hành công ty cổ phần ở Việt Nam
39
2.2.1.
DỰNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG
THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
74
3.1.
Giải pháp bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
74
3.1.1.
Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ cổ đông thiểu số
74
3.1.2.
Xây dựng và thực hiện hoạt động giám sát có hiệu quả
75
3.1.3.
Cổ đông thiểu số tự bảo vệ mình
76
3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ
đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam
78
3.2.1.
Kiến nghị sửa đổi Luật Doanh nghiệp 2005
78
3.2.2.
Kiến nghị nhằm bảo vệ tốt quyền của cổ đông thiểu số trong
công ty cổ phần
79
KẾT LUẬN
81
các vấn đề có liên quan, đề tài cũng đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục
hoàn thiện các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số trong pháp luật Việt Nam.
7
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiếp cận và trình bày các vấn đề chủ yếu sau:
- Các vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, cổ đông và bảo vệ cổ đông;
- Quy định pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số trong
công ty cổ phần hiện nay;
- Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam;
- Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật của một số quốc gia trên
thế giới;
- Giải pháp và kiến nghị về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số trong
công ty cổ phần ở Việt Nam.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để tiếp cận nghiên cứu đề tài này một cách hệ thống và hiệu quả , tác
giả sử dụng các phương pháp nghiên cứ u chủ yếu là phân tích , tổng hợp, suy
luận logic, so sánh đối chiếu, thống kê và dùng sự kiện để chứng minh nhận
định dựa trên nền tảng tư duy của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa
duy vật lịch sử theo Chủ nghĩa khoa học Mac - Lê Nin
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quyền của cổ đông và sự cần thiết
phải bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần.
Chương 2: Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở
Việt Nam và so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới.
8
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm xây dựng và bảo vệ quyền lợi
những đặc điểm cơ bản sau:
(i) Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập;
(ii) Người góp vốn vào công ty (cổ đông) chịu trách nhiệm hữu hạn
(iii) Phần vốn góp vào công ty (cổ phần) về cơ bản được tự do chuyển
nhượng; và
(iv) Công ty được quản lý tập trung.
a) Tư cách pháp nhân độc lập
Công ty cổ phần là một thực thể có tư cách pháp nhân độc lập. Ở Mỹ,
pháp nhân được định nghĩa là "một thực thể, không phải con người tự nhiên,
nhưng có thể hoạt động, có thể đi kiện hoặc bị kiện". Luật Việt Nam dùng
cụm từ "nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập".
Công ty cổ phần tách bạch khỏi những người đã góp vốn thành lập nên nó.
Một khi cổ đông đã góp tài sản vào công ty, công ty trở thành chủ sở hữu đối
với tài sản, cổ đông không còn quyền sở hữu đối với tài sản đó nữa.
Tư cách pháp nhân độc lập còn thể hiện ở khả năng tồn tại liên tục của
công ty không phụ thuộc vào sự chuyển nhượng vốn của cổ đông. Cho nên
công ty cổ phần có thể tồn tại lâu dài, trên thế giới có nhiều công ty đã hoạt
động hàng trăm năm nay.
b) Trách nhiệm hữu hạn của cổ đông
Ý niệm "trách nhiệm hữu hạn" đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử. Khi
mà những thương nhân ở Venise, ý gom tiền để kinh doanh vận chuyển hàng
hóa bằng đường thủy thì khi thuyền đắm, họ chỉ mất đi số tiền đã bỏ vào
10
chuyển hàng ấy mà thôi, còn tiền để ở nhà thì không hề hấn gì. Nhưng phải
cần một thời gian rất dài sau đó, khái niệm trách nhiệm hữu hạn mới được
pháp luật ghi nhận. Luật cho phép những người góp vốn vào công ty cổ phần
hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn tức cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ
của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. Họ không phải lấy tài sản không
đem vào kinh doanh để trả nợ. Đó là cách pháp luật khuyến khích người dân
ty cổ phần cho ta thấy đây là phương thức huy động vốn cao nhất của loài
người. Với các đặc điểm ưu thế kể trên, công ty cổ phần đang và sẽ trở thành
loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất trong thế giới hiện đại.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.2.1. Khái quát về cổ đông
a) Khái niệm cổ đông, quyền cổ đông
Cổ đông là người đã góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ
phần của công ty. Khi đã đưa tài sản vào công ty, quyền sở hữu tài sản của cổ
đông được chuyển sang cho công ty. Đổi lại, họ trở thành các đồng sở hữu
chủ của công ty. Cổ đông có quyền lợi đối với công ty tương ứng với phần
vốn góp của mình.
Hiện có một số học thuyết về quyền của cổ đông trong công ty cổ
phần. Thuyết cổ điển cho rằng các quyền của cổ đông có cội nguồn từ khế
ước. Một thuyết khác coi công ty cổ phần là một quốc gia thu nhỏ, do đó
quyền của cổ đông có thể đem so với những quyền cơ bản của công dân mà
Nhà nước phải đảm bảo. Các quyền cơ bản gồm quyền mang tính "chính trị"
(quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty) và quyền mang tính
tài sản (ví dụ quyền hưởng cổ tức)
Người Mỹ lại quan niệm mối quan hệ giữa công ty và cổ đông là quan
hệ giữa "người thụ thác" và "người hưởng lợi". Quyển cổ đông xuất phát từ
12
quyền thụ hưởng lợi ích từ tài sản đã ký thác vào công ty mà không cần phải
nắm quyền sở hữu tài sản [3, tr. 376].
b) Các loại cổ đông
Có nhiều cách phân loại cổ đông. Sau đây là một số cách phân loại
phổ biến và có nhiều ý nghĩa hơn cả.
* Cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi
Công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau, mỗi loại cổ phần
tạo cho người sở hữu nó (cổ đông) các quyền và nghĩa vụ nhất định, kéo theo
* Cổ đông tổ chức, cổ đông cá nhân
Trong một công ty có phát hành chứng khoán trên thị trường, có hai
loại cổ đông là cổ đông tổ chức và cổ đông cá nhân. Cổ đông có tổ chức
thường là ngân hàng, các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán. Khác với
cổ đông cá nhân có xu hướng bán cổ phiếu ngay khi giá lên, việc chuyển
nhượng cổ phần cổ đông tổ chức thường ít xảy ra hơn. Chỉ có hai quốc gia là
Anh và Mỹ có cấu trúc cổ đông đa phần là cá nhân, còn lại cổ đông có tổ chức
vẫn là cổ đông đa số chi phối các công ty cổ phần ở các nước phát triển cũng
như đang phát triển.
1.2.2. Khái niệm, sự cần thiết của việc bảo vệ cổ đông trong công
ty cổ phần
Một trong các mục tiêu của luật doanh nghiệp là bảo vệ lợi ích của cổ
đông bằng việc buộc các nhà quản lý phải hành động vì lợi ích tốt nhất cho cổ
đông, đồng thời ngăn chặn khả năng các cổ đông đa số lợi dụng vị thế tước
đoạt lợi ích hợp pháp của cổ đông thiểu số.
Không chỉ là mối quan tâm của các nhà lập pháp, bảo đảm thực thi các
quyền của tất cả cổ đông cũng là mục tiêu hướng tới của quản trị công ty.
14
Quản trị công ty được hiểu là hệ thống các quy chế phân định rõ quyền hạn
giữa các cơ quan trong công ty, giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, ban giám đốc
và các bên có liên quan khác. Qua đó, công ty thực hiện được mục tiêu phát
triển hiệu quả trong khi vẫn tôn trọng lợi ích của các bên liên quan và xã hội.
Một hệ thống pháp luật bảo vệ tốt cổ đông trong công ty cổ phần phải
đảm bảo hai yếu tố:
(a) Các quy định của pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông;
(b) Cơ chế thực thi hiệu quả các quy định đó.
Những quy định bảo đảm quyền của cổ đông không chỉ tồn tại trong
luật doanh nghiệp mà còn có thể tìm thấy trong luật lệ về chứng khoán, kiểm
toán… Hơn thế, nếu thiếu sự đảm bảo thực thi hiệu quả từ tòa án, cơ quan
nhiệm của Hội đồng quản trị, giám sát các giao dịch dễ gây rủi ro cho công
ty và cổ đông.
(b) Sự áp đảo của cổ đông kiểm soát với cổ đông thiểu số
Trong công ty cổ phần, quyền của các cổ đông tương ứng với số vốn
đã góp vào công ty. Do vậy, cổ đông góp nhiều vốn (tức có nhiều cổ phần, cụ
thể là cổ phần có quyền biểu quyết) sẽ có nhiều ưu thế hơn đối với hoạt động
quản lý công ty. Với nguyên tắc thông qua các quyết định quản lý thông
thường khi có quá nửa (1/2) số cổ phần biểu quyết tại đại hội cổ đông chấp
thuận, cổ đông nắm ít cổ phần có quyền biểu quyết chịu lép vế, nếu không
muốn nói là bị loại ra khỏi cuộc sống của Đại hội đồng cổ đông. Quyền đối
với hoạt động quản lý công ty thuộc về số ít các cổ đông lớn. Một mặt khi
nhóm nhỏ cổ đông chi phối hoạt động của công ty, họ sẽ có động cơ để tối đa
hóa giá trị công ty phục vụ lợi ích của chính mình. Mặt khác lợi ích từ hoạt
động kinh doanh của công ty có khả năng bị phân phối không công bằng cho
16
đa số các cổ đông nhỏ, sự lạm quyền của nhóm nhỏ cổ đông chi phối có khả
năng gây hại cho những cổ đông còn lại.
Mặt khác, trong tương quan so sánh với các chủ thể có mối liên hệ với
công ty như chủ nợ, người lao động, người cung cấp nguyên vật liệu, cổ đông
với tư cách là người góp vốn kinh doanh luôn chịu rủi ro nhiều hơn. Thế
nhưng, lợi ích của cổ đông khó có thể được bảo vệ thích đáng chỉ bởi các thỏa
thuận hợp đồng. Điều này luận giải vì sao luật pháp cần quy định cho đối
tượng này những quyền nhất định để kiểm soát hoạt động của công ty.
Như vậy, trong công ty cổ phần, đối tượng cần được bảo vệ không
phải là người quản lý công ty vì họ có quyền và thông tin, và có lẽ cũng
không phải cổ đông lớn có khả năng chi phối hoạt động công ty, mà chính là
cổ đông thiểu số, riêng lẻ.
1.2.3. Vai trò của việc bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần
a) Vai trò đối với công ty và nhà đầu tư
Như vậy, các công ty, nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách
chia sẻ những lợi ích chung trong việc bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần.
1.3. QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG
Trong công ty cổ phần các cổ đông sở hữu các loại cổ phiếu khác
nhau sẽ có những quyền năng khác nhau.
1. Quyền của cổ đông phổ thông
18
a) Tham dự và biểu quyết trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiện
quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền; mỗi cổ
phần phổ thông có một phiếu biểu quyết;
b) Được nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông;
c) Được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ
phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty;
d) Được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và
cho người không phải là cổ đông, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều
84 của Luật doanh nghiệp;
đ) Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông
có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác;
e) Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên
bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;
g) Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn
lại tương ứng với số cổ phần vốn góp vào công ty;
h) Các quyền khác quy định tại Luật này và Điều lệ công ty.
2. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ
thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn
quy định tại Điều lệ công ty có các quyền sau đây:
a) Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (nếu có);
b) Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng
quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế
đông. Kèm theo yêu cầu phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của Hội
đồng quản trị, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền.
20
4. Trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc
đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát quy định tại điểm a
khoản 2 Điều này được thực hiện như sau:
a) Các cổ đông phổ thông tự nguyện tập hợp thành nhóm thỏa mãn các
điều kiện quy định để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
phải thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết chậm nhất
ngay khi khai mạc Đại hội đồng cổ đông;
b) Căn cứ số lượng thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, cổ
đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này được quyền đề cử
một hoặc một số người theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cử
viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Trường hợp số ứng cử viên được cổ
đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề
cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do
Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử. (Điều 79 luật
doanh nghiệp)
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp còn quy định cụ thể các quyền khác như:
Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông (Điều 90); thẩm quyền triệu tập
họp Đại hội đồng cổ đông (Điều 97); quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông
(Điều 101); yêu cầu hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Điều 107);
công khai các lợi ích liên quan và công khai thông tin về công ty cổ phần
(Điều 118, Điều 129).
Cổ đông ưu đãi không được hưởng đầy đủ các quyền trên. Cổ đông ưu
đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
(Điều 81). Cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại đều không có quyền
dự họp Đại hội đồng cổ đông, không có quyền biểu quyết và cũng không có
quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (Điều 82, Điều 83).
22
chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký. Bên chuyển nhượng vẫn là
người sở hữu cổ phần có liên quan cho đến khi tên của người nhận chuyển
nhượng được đăng ký vào sổ đăng ký cổ đông. Trường hợp chỉ chuyển
nhượng một số cổ phần trong cổ phiếu có ghi tên thì cổ phiếu cũ bị hủy bỏ và
công ty phát hành cổ phiếu mới ghi nhận số cổ phần đã chuyển nhượng và số
cổ phần còn lại (Điều 87).
Công ty chỉ có vai trò chứng nhận việc chuyển nhượng cổ phần và ghi
vào Sổ đăng ký cổ đông, chứ không phải là phê chuẩn giao dịch chuyển nhượng.
Rõ ràng, theo quy định này của Luật, hiệu lực pháp lý của việc chuyển nhượng
phụ thuộc vào việc đăng ký các thông tin vào Sổ đăng ký cổ đông, chứ dường
như chưa phát sinh từ thời điểm các bên hoàn thành việc chuyển giao quyền
sở hữu cổ phần một cách hợp pháp.
Về nguyên tắc, các thông tin trong Sổ đăng ký cổ đông đóng vai trò
như căn cứ chứng minh quyền sở hữu cổ phần chứ không phải là điều kiện
cho việc chuyển nhượng. Điều luật này có lẽ đã vô tình "tiếp tay" cho các vụ
việc vi phạm quyền cổ đông trên thực tế như: công ty cố tình trì hoãn việc
đăng ký người nhận chuyển nhượng, hay hiện tượng chuyển nhượng "chui" vì
công ty từ chối đăng ký.
Điểm yếu của Luật chính là ghi nhận quyền chuyển nhượng của cổ
đông nhưng chưa đặt ra nghĩa vụ của công ty phải đăng ký cổ đông mới một
cách kịp thời. Khiếm khuyết này tạo ra rủi ro cho các bên trong giao dịch
chuyển nhượng cổ phần, đặc biệt là bên nhận chuyển nhượng bởi quyền sở
hữu cổ phần của người này không được công ty bảo đảm. Hậu quả sâu xa hơn
là các nhà đầu tư khó có thể biết chính xác ai là người đang nắm cổ phần, điều
này làm tăng chi phí nhận diện giao dịch mua bán cổ phần.
Đối với các cổ đông thiểu số sẽ gặp phải những khó khăn để biết được
ai đang là những cổ đông thực tế trong công ty và đang nắm giữ cổ phần liên
tục trong thời gian ít nhất là sáu tháng để cùng nhau tập hợp lại thành những
phi lý khi luật không cho phép cổ đông ưu đãi cổ tức và ưu đãi hoàn lại cái
quyền được biết Đại hội đồng cổ đông bàn bạc và quyết định cái gì, liệu có
phải là quyết định giảm mức cổ tức hàng năm mà cổ đông ưu đãi được hưởng
hay không. Khi đến nội dung của quyết định cũng không được biết thì quyền
khởi kiện yêu cầu hủy bỏ trong trường hợp vi phạm pháp luật cũng trở nên vô
nghĩa lý.
Thông tin là sức mạnh, tình trạng thông tin bất cân xứng của cổ đông
Việt Nam so với các nhà quản lý khiến mọi quyền khác của cổ đông trở nên
yếu ớt trước khả năng lạm quyền ghê gớm của Hội đồng quản trị và các chức
danh quản lý khác.
c) Quyền dự họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ
phần, bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết. Theo Luật Doanh nghiệp
2005, Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định những vấn đề sau (Điều 96,
Điều 104, Điều 120).
* Trong lĩnh vực tài chính
Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền
chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần, trừ trường
hợp Điều lệ công ty có quy định khác;
Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn
50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty
nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác;
Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
25
Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được
Đại hội đồng cổ đông chấp thuận gồm: Cổ đông, người đại diện ủy quyền của
cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những
người có liên quan của họ; Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng
(Điều 97).
Người triệu tập phải thực hiện một loạt công việc như (i) lập danh
sách cổ đông có quyền dự họp, cung cấp thông tin và giải quyết khiếu nại liên
quan đến danh sách đó, (ii) chuẩn bị tài liệu, xác định địa điểm và thời gian
họp, (iii) lập chương trình và nội dung cuộc họp và (iv) gửi giấy mời họp
(kèm theo tài liệu) đến từng cổ đông có quyền dự họp (Điều 99, 100).
Danh sách cổ đông có quyền dự họp được lập dựa trên sổ đăng ký cổ
đông, có những nội dung chủ yếu như: tên, địa chỉ cổ đông, số lượng cổ phần
mỗi loại của từng cổ đông. Luật trao cho cổ đông quyền được cung cấp thông
tin trong danh sách cổ đông, nhưng chỉ giới hạn trong phần liên quan đến cổ
đông đó, và quyền yêu cầu sửa đổi thông tin sai lệch hoặc bổ sung những
thông tin về mình trong danh sách (Điều 98). Luật buộc các cổ đông nhỏ,
riêng lẻ phải tập hợp lại thành một nhóm nắm 10% tổng số cổ phần phổ thông
hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn mới được quyền triệu tập cuộc họp. Thực tế là
trong một công ty cổ phần có số cổ đông hàng nghìn người, một cổ đông sở
hữu từ 5 đến 6% đã là lớn chứ không phải 10% nữa. Luật quy định như vậy
nhưng hầu hết các công ty đều ấn định tỷ lệ nắm giữ của cổ đông là 10% để
nhằm hạn chế quyền của cổ đông nhỏ. Quy định này tỏ ra bất bình đẳng trong