Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong Công ty niêm yết ở Việt Nam - Pdf 28



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG

BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NHÀ ĐẦU TƯ TRONG CÔNG TY NIÊM YẾT Ở
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
Hà nội – 2012
3

MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU

1

Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT

22
1.1.5.
Các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
trong công ty niêm yết
23
1.2.
Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tư trong công ty niêm yết
25
1.2.1.
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm
yết
25
1.2.2.
Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tư trong công ty niêm yết
28
1.2.2.1.
Bảo vệ quyền tham gia thị trường, quyền thực hiện các giao
dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
28
1.2.2.2.
Bảo vệ quyền sở hữu tài sản đầu tư của nhà đầu tư trong công
ty niêm yết
30
1.2.2.3.
Bảo vệ quyền được cung cấp thông tin của nhà đầu tư trong
công ty niêm yết
31

ty niêm yết
55
2.4.
Bảo vệ các quyền và lợi ích phát sinh từ quyền sở hữu đối với
tài sản của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
57
2.5.
Nguyên nhân của những vướng mắc trong bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
61
2.5.1.
Quản trị công ty niêm yết ở mức sơ khai
61
2.5.1.1.
Trách nhiệm của Hội đồng quản trị chưa tương xứng với quyền
hạn
62
2.5.1.2
Mức độ công khai và minh bạch hóa thông tin chưa đáp ứng
được yêu cầu
68
2.5.1.3.
Chưa kiểm soát được các giao dịch của công ty niêm yết với
các bên có liên quan
70
2.5.1.4.
Kiểm soát nội bộ còn hình thức và kém hiệu quả
72
2.5.2.
Sự bất cập của pháp luật về một số vấn đề khác
5

Chƣơng 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP
PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƢ TRONG CÔNG TY NIÊM
YẾT Ở VIỆT NAM

83
3.1.
Hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty niêm yết
83
3.1.1.
Nâng cao trách nhiệm của Hội đồng quản trị và thành viên Hội
đồng quản trị
83
3.1.2.
Tăng cường công khai, minh bạch hóa thông tin
87
3.1.3.
Tăng cường kiểm soát giao dịch của công ty niêm yết với các
bên có liên quan
89
3.1.4.
Ban kiểm soát hoạt động độc lập
89
3.2.
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi
ích của nhà đầu tư trong công ty niêm yết


6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Thị trường chứng khoán
TTCK
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
UBCKNN
Sở giao dịch chứng khoán
SGDCK
Hội đồng quản trị
HĐQT
Ban kiểm soát
BKS

mua bán các vật phẩm hàng hoá Lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, sau đó tăng dần
và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ XV, để thuận tiện cho việc làm
ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc thống nhất các quy ước và dần dần
các quy ước này được sửa đổi và hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị
bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia “thị trường”. Phiên chợ đầu tiên
diễn ra tại gia đình của Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có một bảng hiệu hình ba
túi da với một từ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “Mậu dịch thị trường” hay còn
gọi là “Sở giao dịch”, hình 3 túi da tượng trưng cho ba loại giao dịch là: giao
dịch hàng hóa, giao dịch ngoại tệ và giao dịch chứng khoán động sản. Vào
năm 1547, thành phố ở Bruges (Bỉ) mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị
lấp cát nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn
Auvers (Bỉ). Ở đây, thị trường phát triển nhanh vào giữa thế kỷ XVI. Sau một
thời gian hoạt động, thị trường không chứng tỏ khả năng đáp ứng được yêu
cầu của ba loại giao dịch khác nhau. Vì vậy, theo tính chất tự nhiên nó lại
được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao dịch hàng
hoá, thị trường giao dịch hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai
và thị trường chứng khoán Quá trình các giao dịch chứng khoán hình thành 8
và diễn ra một cách tự phát như vậy cũng tương tự ở Pháp, Hà Lan, các nước
Bắc Âu, Tây Âu và Bắc Mỹ [8, 65].
Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những
ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Cho đến
năm 1921, ở Mỹ, khu chợ ngoài trời được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch
chứng khoán (SGDCK) chính thức được thành lập. Với sự phát triển của khoa
học công nghệ, các phương thức giao dịch tại các SGDCK cũng được cải tiến.
Các Sở giao dịch dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và
chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn
toàn hệ thống giao dịch điện tử. Giai đoạn thị trường phát triển một cách tự

Dấu mốc đầu tiên đánh dấu sự hình thành thị trường chứng khoán nước
ta là Luật Công ty ra đời năm 1990 với quy định cho phép các công ty cổ
phần được phát hành cổ phiếu. Quy định này ra đời cùng với chương trình thí
điểm cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước vào năm 1992. Tuy nhiên, do
thiếu cơ sở pháp lý là các văn bản hướng dẫn thi hành nên hoạt động của thị
trường giao dịch chứng khoán còn diễn ra một cách tự phát và chưa có sự
quản lý của Nhà nước.
Sau đó, phải đến ngày 20/7/2000, trường chứng khoán Việt Nam mới
chính thức đi vào hoạt động được đánh dấu bằng sự đi vào hoạt động của
Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh). Năm 2005, Trung tâm Giao dịch
chứng khoán Hà Nội (nay là Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội) triển khai
hoạt động. Để tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của thị trường
chứng khoán, Chính phủ ban hành Nghị định 75/1996/NĐ-CP về tổ chức và
hoạt động của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Nghị định 48/1998/NĐ-CP
ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán, sau đó là Nghị 10
định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị
trường chứng khoán (thay thế Nghị định 48). Các văn bản pháp luật này bước
đầu đã tạo được một khuôn khổ pháp lý cho thị trường chứng khoán Việt
Nam hình thành và phát triển dưới sự quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, sau
một số năm hoạt động cho thấy quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam
còn quá nhỏ bé so với tiềm năng phát triển của nền kinh tế và xu hướng hội
nhập quốc tế, chưa đáp ứng được kỳ vọng của Chính phủ là trở thành một
kênh huy động vốn trong nước hữu hiệu cho nền kinh tế bên cạnh thu hút
nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế này xuất phát từ hệ thống pháp luật về
chứng khoán còn thiếu đồng bộ, chưa có Luật Chứng khoán để tạo môi trường
pháp lý thống nhất, đầy đủ, ổn định điều chỉnh mọi hoạt động diễn ra trên thị

trường. Ở phạm vi toàn thị trường, bảo vệ tốt nhà đầu tư giúp thị trường phát
triển ổn định, an toàn, giảm thiểu được những rủi ro vốn có của thị trường
chứng khoán. Do đó, không chỉ ở thị trường chứng khoán mới nổi như Việt
Nam mà cả các thị trường chứng khoán phát triển khác, các nhà lập pháp luôn
dành sự quan tâm thích đáng tới tiêu chí bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư
khi đưa ra chính sách phát triển thị trường này.
Để cụ thể hoá Luật Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Chứng khoán; Luật Doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã ban hành Điều lệ
mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết (kèm theo Quyết định 15/2007/QĐ-
BTC ngày 19/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) và Quy chế quản trị công
ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán/Trung
tâm giao dịch chứng khoán – sau đây gọi tắt là Quy chế quản trị công ty niêm
yết (kèm theo Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính). Tuy nhiên, thực tế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trong các
công ty niêm yết vẫn chưa thực sự hiệu quả. Quyền của cổ đông thiểu số bị
lạm dụng, các nhóm cổ đông có sự phân hoá quyền lực và lợi ích rất sâu sắc, 12
chưa kiểm soát được các giao dịch tư lợi của thành viên quản lý công ty niêm
yết gây thiệt hại cho các nhà đầu tư khác…
Ngày 09/9/2010, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố “Báo cáo
năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 – 2011”, trong đó Việt Nam được thăng
hạng 16 bậc từ vị trí 75/133 lên vị trí 59/139. Mặc dù vậy, có nhiều yếu tố mà
Việt Nam đứng ở gần cuối bảng xếp hạng của WEF trong đó mức độ bảo vệ
nhà đầu tư đứng thứ 133/139 [4]. Chính mức độ bảo vệ nhà đầu thấp cũng là
một yếu tố khiến Việt Nam bị giảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh
doanh do Tạp chí Forber công bố mới đây. Ở yếu tố này trong xếp hạng của
Tạp chí Forber, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo [9].
Trong các “Báo cáo Môi trường kinh doanh” do Ngân hàng Thế giới và Quỹ

lợi của nhà đầu tư. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc
nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo vệ nhà đầu tư trên thị
trường chứng khoán một cách bao quát, tổng thể. Ngoài ra, một số bài báo và
ấn phẩm đã bắt đầu nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhà đầu tư và công ty
niêm yết trong việc bảo vệ nhà đầu tư như: “Bảo vệ nhà đầu tư nhỏ trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” của PGS.TS Lê Hoàng Nga, “Bảo vệ quyền
lợi của cổ đông nhỏ: Biết bệnh nhưng chưa tìm thấy thuốc?” của tác giả Hà
Minh… Nhưng các bài báo, ấn phẩm này cũng mới chỉ đề cập đến hoặc
nghiên cứu một số khía cạnh của vấn đề này. Cho đến nay, ở Việt Nam chưa
có một công trình nghiên cứu nào đề cập, đánh giá một cách có hệ thống và
đầy đủ nhất về vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong
các công ty niêm yết. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm
mục đích góp một tiếng nói vào vấn đề bảo vệ nhà đầu tư xét trong các công
ty niêm yết - các tổ chức phát hành cổ phiếu ra công chúng.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
3.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp
luật về quyền và lợi ích của nhà đầu tư trong công ty niêm yết. Trong đó, tập
trung vào các quy định tại Luật Doanh nghiệp; Luật Chứng khoán; Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Quy chế quản trị công ty
niêm yết; Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết. Ngoài ra, các số liệu
thống kê, một số tình huống nghiên cứu cũng được phân tích trên cơ sở quy
định của pháp luật. Từ sự phân tích này, tác giả sẽ tổng hợp vấn đề để đưa ra
ý kiến, nhận định cho vấn đề được xem xét.
3.2. Phương pháp so sánh
Khi xem xét các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp

tư trong công ty niêm yết ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa
nhà đầu tư và công ty niêm yết trong việc bảo vệ nhà đầu tư theo quy định của
Luật Doanh nghiệp; Luật Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Chứng khoán; Quy chế quản trị công ty niêm yết; Điều lệ mẫu áp
dụng cho công ty niêm yết. Luận văn không đề cập đến vấn đề này trong mối
quan hệ giữa nhà đầu tư với các cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và
thị trường chứng khoán hoặc giữa nhà đầu tư với các tổ chức kinh doanh dịch
vụ chứng khoán như: công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty
quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Bên cạnh đó, khái niệm nhà đầu tư được đề
cập trong luận văn chỉ đề cập đến những người sở hữu cổ phiếu của công ty 16
niêm yết (gắn với quyền sở hữu cổ phiếu là quyền mua cổ phần và chứng
quyền) hay cổ đông công ty; không bao gồm những nhà đầu tư sở hữu trái
phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai,
chỉ số chứng khoán. Do đó, chứng khoán được đề cập đến chỉ là cổ phiếu,
không bao gồm những loại chứng khoán khác.
5. Giới hạn thời điểm nghiên cứu
Các số liệu và quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhà đầu tư trong luận văn được cập nhật đến 30/01/2012.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương được kết cấu như sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
Chƣơng 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết ở Việt Nam

quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng
khoán hoặc chỉ số chứng khoán. Thứ hai, công ty niêm yết là công ty cổ phần
và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng tựu chung lại, công ty niêm yết
cần được hiểu theo nghĩa rộng. Nó không chỉ là công ty cổ phần (có các loại
chứng khoán được niêm yết) mà còn có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn
(có trái phiếu niêm yết) trên Sở giao dịch chứng khoán. 18
* Đặc điểm của công ty niêm yết
Xuất phát từ khái niệm trên, công ty niêm yết có những đặc điểm như
sau:
Thứ nhất, công ty niêm yết là loại hình công ty cổ phần hoặc công ty
trách nhiệm hữu hạn
Nếu công ty niêm yết là công ty cổ phần thì các loại chứng khoán đều
có thể được đưa vào niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán khi có đủ điều
kiện theo quy định của pháp luật. Đối với công ty niêm yết là công ty trách
nhiệm hữu hạn thì loại chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chỉ là trái
phiếu.
Thứ hai, công ty niêm yết có cổ phiếu được chấp thuận niêm yết, giao
dịch tại Sở giao dịch chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam.
Để được Sở giao dịch chứng khoán chấp thuận niêm yết thì doanh
nghiệp phải đáp ứng được điều kiện niêm yết về vốn, tình hình hoạt động kinh
doanh và được thể hiện trong hồ sơ đăng ký niêm yết. Sau khi được Sở giao
dịch chứng khoán chấp thuận niêm yết, cổ phiếu của doanh nghiệp mới có thể
được tiếp tục mua, bán trên Sở giao dịch theo quy định của pháp luật.
Hoạt động giao dịch cổ phiếu tạo ra nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp
niêm yết như: tăng cơ hội thu hút nguồn vốn để đầu tư vào sản xuất, kinh
doanh đồng thời công chúng đầu tư có thêm một kênh đầu tư mới để không

yết; thực hiện đăng ký, lưu ký chứng khoán tập trung tại Trung tâm lưu ký
chứng khoán [14, 12]. Việc yêu cầu công ty niêm yết tuân thủ các nghĩa vụ
này hướng tới mục tiêu quan trọng là minh bạch hóa thông tin, bảo vệ quyền
lợi nhà đầu tư. 20
Bên cạnh đó, một số nghĩa vụ khác mà công ty cũng phải thực hiện
trong hoạt động kinh doanh của mình như: Hoạt động kinh doanh theo đúng
ngành, nghề; tuân thủ quy định về kế toán, báo cáo tài chính; bảo đảm quyền
lợi của người lao động trong đơn vị…
Để đảm bảo công ty được thực hiện các quyền và đặc biệt là tuân thủ
đúng các nghĩa vụ như trên, nhiều quy định của Luật Doanh nghiệp; Luật
Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Quy
chế quản trị công ty niêm yết và Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết
đồng thời điều chỉnh đối với hoạt động của công ty niêm yết.
Thứ tư, cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty niêm yết phức tạp hơn so
với công ty cổ phần
Công ty niêm yết có cơ cấu tổ chức nội bộ giống với công ty cổ phần ở
chỗ công ty có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng
Giám đốc), Ban kiểm soát. Ngoài ra, theo Quy chế quản trị công ty niêm yết
và Điều lệ mẫu thì công ty niêm yết còn có Thư ký công ty, cán bộ chuyên
trách công bố thông tin và các tiểu ban của Hội đồng quản trị. Cụ thể là:
- Thư ký công ty: Để hỗ trợ cho hoạt động quản trị công ty được tiến
hành một cách có hiệu quả, Hội đồng quản trị phải chỉ định ít nhất một người
làm thư ký công ty. Nhiệm kỳ của thư ký công ty do Hội đồng quản trị quyết
định. Thư ký công ty phải là người có hiểu biết về pháp luật. Thư ký công ty
không được đồng thời làm việc cho công ty kiểm toán hiện đang kiểm toán
công ty. Hội đồng quản trị có thể bãi nhiệm Thư ký công ty khi cần nhưng
không được trái với các quy định pháp luật hiện hành về lao động. Hội đồng

Trong đó, hai Sở giao dịch chứng khoán có chức năng tổ chức và giám sát 22
hoạt động giao dịch chứng khoán niêm yết tại các Sở giao dịch [14, 15]. Còn
Trung tâm lưu ký chứng khoán có chức năng tổ chức và giám sát hoạt động
đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán [14, 19].
1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của nhà đầu tƣ chứng khoán trong công ty
niêm yết
* Khái niệm nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết
Theo quan niệm của Luật Chứng khoán thì nhà đầu tư là tổ chức, cá
nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường
chứng khoán [14, 4].
Từ khái niệm trên và phạm vi nghiên cứu của luận văn thì nhà đầu tư
chứng khoán trong công ty niêm yết (sau đây gọi tắt là nhà đầu tư trong công
ty niêm yết) được hiểu là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước
ngoài tham gia đầu tư cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch
chứng khoán.
* Đặc điểm của nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết
Nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết có đặc điểm như sau:
- Nhà đầu tư chứng khoán trong công ty niêm yết rất đa dạng. Họ có
thể là đầu tư chuyên nghiệp hoặc nhà đầu tư không chuyên nghiệp; có thể là
tổ chức hoặc cá nhân; có thể là tổ chức, cá nhân trong nước hoặc tổ chức, cá
nhân nước ngoài. Nhà đầu tư chuyên nghiệp được hiểu là những tổ chức có tư
cách pháp nhân, có lợi thế về vốn, am hiểu chuyên môn về chứng khoán và
thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường, đó là:
ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức
kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán. Nhà đầu tư không
chuyên nghiệp là các cá nhân, tổ chức khác trong nền kinh tế.


tư chứng khoán thường thấp hơn so với các nhà đầu tư cá nhân do các quyết
định đầu tư được thực hiện bởi chuyên gia có chuyên môn và kinh nghiệm.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại các quyền và lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tƣ trong công ty niêm yết
* Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong công ty
niêm yết
Khái niệm “quyền” được tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở góc
độ ngôn ngữ học: Quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho
được hưởng, được làm, được đòi hỏi [18, 786]. Ở góc độ pháp lý, quyền là
những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế. Phân
loại quyền gồm có: 1. Quyền đương nhiên như quyền làm người, quyền được
sống, quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc; 2. Quyền do luật pháp
cho phép làm hoặc luật pháp không cấm làm (quyền pháp lý); 3. Quyền do
điều lệ của tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng cho phép hội
viên được làm; 4. Quyền do người khác uỷ quyền v.v. [17, 395-396].
Từ những khái niệm trên, quyền của nhà đầu tư trong công ty niêm yết
được hiểu là những việc mà nhà đầu tư được làm khi họ sở hữu chứng khoán
của công ty niêm yết.
“Lợi ích” là điều có lợi, điều cần thiết [31]. Ngoài ra, Từ điển tiếng Việt cũng
có cùng khái niệm như trên về lợi ích [26]. Như vậy, lợi ích của nhà đầu tư
trong công ty niêm yết là điều có lợi cho nhà đầu tư khi họ sở hữu chứng
khoán của công ty niêm yết.
* Đặc điểm của các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ trong công
ty niêm yết 25
Quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty niêm yết có
đặc điểm như sau:
Thứ nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status