TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
***
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
Môn học: Kinh tế vĩ mô 2

TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ CỦA TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM Nhóm thực hiện: Nhóm 4
Lớp: _LT
Khóa: 51
Người HDKH: ThS.

Hà Nội, tháng 06 năm 2014
DANH SÁCH NHÓM 4

STT
HỌ VÀ TÊN
MSSV


DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, BẢNG

Hình 1: Xu hướng vốn FDI vào Trung Quốc năm 2013 11
Hình 2: Tổng đầu tư vào tài sản cố định của các doanh nghiệp FDI vào Trung Quốc
14

FDI của Trung Quốc qua đó rút ra bài học kinh nghiệm để áp dụng cho nền kinh tế của
Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tình hình sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI của
Trung Quốc.
Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng, nguyên nhân, các vấn đề liên quan đến tình hình
sử dụng vốn FDI của Trung Quốc và một số khuyến nghị cho Việt Nam
- Không gian: Nền kinh tế Trung Quốc
- Thời gian: Giai đoan sau cải cách kinh tế Trung Quốc (1978 – nay) 4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Thu thập, tổng hợp, trình bày, số liệu, tính
toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự
đoán và ra quyết định.
Phương pháp quan sát: Thu thập và ghi nhận thông tin cá biệt liên quan đến đối
tượng nghiên cứu.
Phương pháp điều tra: Quan sát và điều tra thực tế để lấy thông tin, số liệu cụ thể
cho đề tài nghiên cứu.
5. Kết cấu của tiểu luận
Tiểu luận của nhóm em bao gồm 10 trang, 6 bảng và biểu đồ. Ngoài phần mở đầu và kết
luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được kết cấu thành ba chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lí thuyết về FDI
- Chương 2: Tình hình thu hút FDI và tác động cuả FDI đến tăng trưởng của
Trung Quốc
- Chương 3: Đánh giá thành tựu và hạn chế của Trung Quốc trong việc thu hút
và sử dụng FDI, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ FDI

FDI bao gồm:
- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: một nước có vị trí địa lý và điều kiện tự
nhiên thuận lợi thường hấp dẫn vốn FDI, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực công nghiệp
- Môi trường chính trị - kinh tế - xã hội: Nền chính trị có ổn định thì mới khuyến
khích thu hút FDI còn nếu có sự bất ổn nào trong đời sống kinh tế - chính trị -
xã hội cũng đều gây tác động không nhỏ đến nhà đầu tư
- Luật pháp và cơ chế chính sách: hiện nay các quốc gia đang chủ trương mở
cửa, thực hiện thông thoáng trong cơ chế chính sách để thu hút được tối đa
nguồn vốn FDI nước ngoài.
- Cơ sở hạ tầng: Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài thì kết cấu hạ tầng có ảnh
hưởng quyết định đến hiệu quả sản suất kinh doanh,nhất là ảnh hưởng đến tốc
độ chu chuyển vốn.Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm cả mạng lưới giao thông,
hệ thống thông tin liên lạc và các cơ sở dịch vụ tài chính ngân hàng
- Nguồn lực về con người: số lượng cũng như chất lượng lao động cũng là một
nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới nguồn vốn FDI.
Trong đó, các nhân tố về điều kiện tự nhiên đang dần được thế chỗ bởi sự thuận
lợi trong môi trường chính trị - kinh tế - xã hội, các cơ chế chính sách hay điều kiện cơ sở
hạ tầng.

1.4. TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN NƯỚC NHẬN ĐẦU TƯ
1.4.1. FDI tạo ra nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển nền kinh tế;
góp phần làm tăng thu ngân sách quốc gia
Trong thời kì mới phát triển, trình độ kinh tế cũng như GDP và GNP tính theo đầu
người thấp vì vậy khả năng tích lũy vốn trong nội bộ nền kinh tế còn hạn chế. Bên cạnh
đó, ở nhiều nước tâm lý chung của dân chúng là chưa yên tâm bỏ vốn đầu tư tiến hành
sản xuất, kinh doanh do cơ chế huy động chưa rõ ràng, phù hợp. Trong khi đó, nhu cầu
vốn đầu tư để phát triển lại rất lớn. Trong hoàn cảnh đó, đầu tư quốc tế đem lại nguồn
vốn lớn từ nước ngoài chính là lời giải cho bài toán thiếu vốn đầu tư, đưa quốc gia ra khỏi
vòng luẩn quẩn của sự thiếu vốn và kém phát triển.

Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết, FDI vào nước này đã duy trì sự phục hồi ổn
định trong năm 2013, tăng trong 11 tháng liên tiếp kể từ tháng 2.Chỉ riêng tháng 12 năm
2013, nguồn vốn nước ngoài đổ vào Trung Quốc tăng 3.3 %, đạt 12,1 tỷ USD. Cũng theo
bộ thương mại, lần đầu tiên, lĩnh vực dịch vụ đã đóng góp hơn một nửa số vốn đầu tư
nước ngoài vào Trung Quốc, chiếm 52,3%. Đầu tư vào ngành dịch vụ đạt 61,4 tỉ USD,
tăng 14,2%. Trong năm 2013, FDI từ Liên minh châu Âu (EU) vào Trung Quốc tăng
18,1%, lên 7,2 tỷ USD, còn từ Mĩ tăng 7,1%, lên 3,3 tỷ USD.
Hình 1: Xu hướng vốn FDI vào Trung Quốc năm 2013

Chú thích: Y- O-Y growth (year over year growth): sự tăng trưởng qua các năm
Nguồn: UNCTAD
Ngày 16/5, theo báo mạng CaiXin Trung Quốc, báo cáo của chính phủ Trung
Quốc cho thấy, FDI vào Trung Quốc trong bốn tháng đầu năm nay đạt 40,3 tỷ USD, tăng
5% so với cùng kì năm ngoái, nhờ đầu tư từ các nước ở châu Á tăng cao. Theo Bộ thương
mại nước này, riêng trong tháng 4 vừa qua, lượng FDI (không bao gồm vốn đầu tư trong
lĩnh vực tài chính) đã tăng 3,4 % lên 8,7 tỷ USD (khoảng 53.589 tỷ nhân dân tệ), thấp
hơn con số 12,24 tỷ USD trong tháng 3 năm nay. Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào các lĩnh vực phi tài chính của Trung Quốc giảm 12,9% xuống 25,7 tỷ USD trong 4
tháng đầu năm. Cũng theo Bộ Thương mại Trung Quốc, dịch vụ là lĩnh vực thu hút nhiều
vốn FDI nhất. Trong 4 tháng đầu năm, lĩnh vực này đã thu hút 22,5 tỷ USD vốn đầu tư,
tăng 19,1% so với cùng kỳ năm 2013. Trong khi đó, vốn FDI vào lĩnh vực sản xuất giảm
11,4% xuống 14,5 tỷ USD.Cho đến nay, hầu hết các khoản đầu tư nước ngoài vào trung
Quốc là từ các nước trong khu vực như: Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Đặc khu hành
chính Hồng Kong và vùng lãnh thổ Đài Loan. Tuy nhiên đầu tư từ Nhật Bản đã giảm
46,8% xuống 1,6 tỷ USD, do các nhà đầu tư Nhật Bản lo ngại về tình hình căng thẳng
giữa hai nước liên quan đến vấn đề tranh chấp biển đảo ở vùng Biển Đông.

2.2 NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG THU HÚT FDI CỦA TRUNG
QUỐC
Quy mô thị trường: Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất trên thế giới. Do đó,

Quốc hiện đang hướng đến việc phát triển một nền kinh tế công nghiệp hóa – hiện đại
hóa với trình độ ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, do năng lực tích lũy vốn từ bên
trong còn khá thấp nên khả năng cung ứng vốn luôn không theo kịp nhu cầu đầu tư, dẫn
đến nhu cầu bổ sung bằng nguồn vốn nước ngoài ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Trong
tình huống này, đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong nhu cầu tích lũy vốn của
nền kinh tế
Từ 2004 đến 2010, lượng vốn đầu tư FDI vào Trung Quốc đã tăng trường nhanh
chóng từ hơn 60 tỷ USD đến xấp xỉ 105,7 tỷ USD, dẫn đến vốn tích lũy cho đến năm
2010 là 579 tỷ USD (theo số liệu của OECD). Trong đó, tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định
tại nước này chiếm đến 70% FDI, lớn hơn gấp 2 lần so với đầu tư vào tài sản lưu động
(30%).
Hình 2: Tổng đầu tư vào tài sản cố định của các doanh nghiệp FDI vào Trung Quốc

Theo báo cáo của OECD (2005)
Bên cạnh đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp quan trọng vào
ngân sách Nhà nước. Thuế thu được từ khu vực kinh tế có vốn FDI ngày càng trở thành
nguồn thu quan trọng góp phần giảm bớt thâm hụt cán cân ngân sách. Nguồn thu này
được dùng để đầu tư vào những công trình dịch vụ và kinh tế công cộng, đầu tư cải thiện
cơ sở hạ tầng, tác động đến sự phát triển dài hạn của nền kinh tế
2.1.2. FDI thúc đẩy quá trình đổi mới và chuyển giao công nghệ
Một trong những mục tiêu cơ bản được đề ra trong chính sách thu hút FDI của
Trung Quốc, đó là “đổi thị trường lấy kỹ thuật”, công nghệ mới được du nhập trực tiếp
thông qua hoạt động liên doanh và lan tỏa dựa trên ảnh hưởng của mạng lưới các doanh
nghiệp FDI tại thị trường nội địa. Khái niệm “công nghệ kỹ thuật” bao gồm:
Phần cứng: bao gồm máy móc, thiết bị
Phần mềm: gồm công nghệ, kỹ thuật, kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động
Ở Trung Quốc, ban đầu, vốn đầu tư nước ngoài tập trung nhiều trong các ngành
công nghiệp thâm dụng lao động và định hướng xuất khẩu nhằm vào các sản phẩm có
hàm lượng công nghệ thấp tương đối, chẳng hạn như may mặc. Ở giai đoạn này, Trung
Quốc là nơi tiếp nhận lại các công nghệ đã cũ và lạc hậu của các doanh nghiệp đa quốc

các doanh nghiệp FDI vốn từng thống trị thị trường nội địa.
2.1.3. FDI đẩy mạnh giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trung Quốc là quốc gia có dân số lớn nhất thế giới, do đó một trong những nhiệm
vụ cấp bách hàng đầu là tạo ra công ăn việc làm cho người lao động. Nhu cầu đầu tư lớn
và trình độ công nghệ kỹ thuật kém buộc Trung Quốc phải tìm giải pháp giải quyết vấn
đề nan giải về việc làm thông qua thu hút FDI. Hoạt động thu hút FDI tạo thêm việc làm
cho người lao động đồng thời góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Trung
Quốc.
Về vấn đề giải quyết việc làm, trước hết, khu vực có vốn FDI thu nhận số lượng
lao động đáng kể. Năm 2001, các doanh nghiệp FDI thu hút khoảng 23 triệu lao động và
đến cuối năm 2013 con số này là 23,5 triệu chiếm 11% tổng số lao động khu vực thành
thị. Quy mô nguồn nhân lực lớn và chi phí lao động thấp ở Trung Quốc được các nhà đầu
tư nước ngoài coi là lợi thế khi đầu tư nhằm khai thác lợi thế cạnh tranh về chi phí, đặc
biệt trong các ngành có hàm lượng lao động cao.
FDI góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách trực tiếp và gián tiếp.
Một mặt, người lao động được tiếp cận với phương thức kinh doanh tiên tiến, công nghệ
kỹ thuật hiện đại. Hơn nữa, họ được đào tạo ngành nghề một cách bài bản theo các
chương trình phù hợp với yêu cầu của chính TNC hoặc theo chương trình của các trường
đại học trong và ngoài nước. Khảo sát 442 doanh nghiệp FDI năm 2005, có 85,4% doanh
nghiệp tiến hành các chương trình đào tạo nhân viên Trung Quốc, 21,3% doanh nghiệp
cử nhân viên đi tu nghiệp ở nước ngoài và chỉ có 8,9% không có chương trình đào tạo
nhân viên.
Mặt khác, FDI còn gián tiếp tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, thể hiện ở
các khía cạnh sau: thứ nhất, khu vực kinh tế FDI thúc đẩy hình thành mạng lưới các
ngành công nghiệp phụ trợ, tạo nhiều cơ hội việc làm hơn cho đội ngũ lao động. Thứ hai,
để đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật và kinh tế các doanh nghiệp có vốn FDI, doanh nghiệp
trong nước với tư cách là nhà cung cấp buộc phải cải cách phương thức quản lý, thêm vào
đó lại được tiếp cận với công nghệ theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp nước ngoài,
nhờ đó trình độ và kỹ năng của đội ngũ lao động ngày càng được nâng cao. Thứ ba, do sự
chuyển dịch của một phần lao động có vốn FDI sang các khu vực kinh tế khác sẽ là cách

1980. Riêng giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt 563,78 tỷ USD, chiếm
81,68 % tổng giá trị ngoại thương.
Có thể thấy rằng FDI đã tham gia sâu vào quá trình phát triển kinh tế ở Trung
Quốc và trở thành một yếu tố quan trọng của nền kinh tế. Nó có ảnh hưởng đáng kể vào
quá trình tạo lập vốn, chuyển giao công nghệ và đặc biệt là thương mại quốc tế; nó cũng
góp phần hiện đại hóa công nghiệp và chuyển đổi kinh tế. Do đó, FDI có tác động không
hề nhỏ đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở các nước dồi dào tiềm năng phát triển như
Trung Quốc.
Chương 3
BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC CHO VIỆT NAM

3.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THU HÚT FDI Ở VIỆT NAM
Những năm đầu mới thực thi luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, kết quả thu hút
vốn FDI vào Việt Nam còn thấp, đầu tư nước ngoài chưa có nhiều tác động đến kinh tế
xã hội đất nước. Dòng vốn tặng chậm và tăng tốc dần từ năm 2004. Các năm tiếp theo
dòng vốn tăng nhanh và đạt kỉ lục vào năm 2008 với hơn 1600 dựán, tổng số vốn đăng kí
60277 tỷ USD, tăng 222% so với năm 2007 và tổng số vốn thực hiện là hơn 10 tỷ USD.
Những năm sau đó thu hút vốn giảm dần qua các năm nhưng vẫn duy trì ở mức tích cực
đáng ghi nhận, việc giải ngân và sử dụng vốn cũng càng ngày càng hiệu quả hơn.
Hình 5: Tình hình thu hút vốn FDI của Việt Nam (1988 – 2012)

Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nhìn chung, trong hơn 25 năm qua, khu vực kinh tế có vốn FDI đã góp phần đáng
kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước bằng việc tạo ra tổng giá trị doanh
thu đáng kể, trong đó có giá trị xuất khẩu, đóng góp tích cực vào ngân sách. Đồng thời nó
tiếp tục khẳng định vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào
GDP của đất nước và thực sự trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế.
3.2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ TRUNG QUỐC CHO VIỆT NAM
3.2.1. Kinh nghiệm thu hút vốn của Trung Quốc
3.2.1.1. Những bài học thành công

Việt Nam và Trung Quốc là 2 quốc gia có nhiều nét tương đồng do chịu tác động
của những hệ tư tưởng, nền văn háo truyền thống tương tự nhau: về thể chế chính trị (do
một chính đảng lãnhđạo), về nhận thức kinh tế (đều có mục tiêu chuyển tiếp từ nền kinh
tế tập trung sang nền kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa) Hai quốc gia
đều có chính sách mở cửa và chủ trương thu hút FDI để phát triển đất nước, có những lợi
thế về vị tríđịa lí và nguôn nhân công dồi dào giá rẻ. Trình độ phát triển của nền kinh tế
giai đoạn đầu cải cách cũng tương đương, đềuđi lên từ nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất
phân tán, cơ sở vật chất hạ tầng kí thuật kém…
Tuy nhiên, Việt Nam có thị trường nhỏ bé và nguồn tài nguyên không dồi dào như
nước bạn, vị thế trong quan hệ đối ngoại của hai quốc gia cũng không tương đương.
Thêm nữa, Trung Quốc có chính sách một nước 2 chếđộ, từđó tạo ra hai nền kinh tế song
song cũng tồn tại, bổ sung hỗ trợ nhau.
3.2.2.2. Vận dụng kinh nghiệm tại Việt Nam
Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng hiện nay là cơ hội thuận lợi
cho Việt Nam thu hút dòng vốn FDI. Trên cơ sở phân tích những nét tương đồng của Việt
Nam và Trung Quốc cũng như khả năng hiện tại của Việt Nam trong thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, ta có thể vận dụng một số kinh nghiệm trong thu hút FDI sau tại Việt Nam:
Thứ nhất, cần có một định hướng chiến lược đúng đắn về phát triển các ngành
Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ cũng như định hướng đầu tư FDI vào các ngành
này, để các nhà đầu tư xác định được phương hướng phát triển của ngành trong thời gian
tới và có những quyết định đầu tư hợp lý.
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp,
chính sách liên quan đến đầu tư, kinh doanh. Sửa đổi ngay các nội dung không còn phù
hợp, không đồng bộ, thiếu nhất quán, còn bất cập, chưa rõ, bổ sung các nội dung còn
thiếu. Đặc biệt, cần có những chính sách miễn giảm thuế phù hợp để tăng thêm tính hấp
dẫn về lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư. Tuy nhiên, những chính sách này vừa phải đáp
ứng nguồn thu cho ngân sách, lại vừa khuyến khích phát triển kinh tế ở các vùng, khu
vực mà điều kiện phát triển kinh tế còn hạn chế.
Thứ ba, mở rộng, đa dạng hóa các hình thức đầu tư, các chủ đầu tư để tận dụng
thế mạnh của từng loại hình đầu tư, từng chủ đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status