VIỆN NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:
MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á
-KINH NGHIỆM VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
CNĐT : PHÙNG THỊ HUỆ 8118
nghiệp hoá, đô thị hoá nhng lại dẫn đến sự tàn lụi của nông nghiệp, nông
thôn; tăng trởng kinh tế nhng quần chúng lao động không có quyền làm chủ;
tăng trởng kinh tế nhng văn hoá, đạo đức suy đồi và tăng trởng kinh tế
1
2
nhng môi trờng bị suy thoái, cân bằng sinh thái bị phá vỡ
1
. Chênh lệch giàu
nghèo, bất công về cơ hội và ô nhiễm môi sinh đang là những vấn đề thách đố
sự phát triển cân bằng và bền vững của hầu hết các quốc gia và khu vực.
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, nguy cơ suy thoái và khủng hoảng ở nhiều
nớc không phải do nhân tố kinh tế, mà chính là những bất cập trong đời sống
xã hội.
Có lẽ, nguyên nhân cốt lõi đặt các nớc vào tình trạng nói trên (tất nhiên
ở cấp độ khác nhau) chính là do cha định dạng chuẩn xác một mô hình phát
triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của
đất nớc và xu hớng hội nhập chung của quốc tế. Một câu hỏi đang rất cần
đợc quan tâm lý giải: đó là các nớc đã hoạch định chính sách phát triển
xã hội ra sao và quản lý việc thực thi chính sách đó nh thế nào? Có những
nớc chế định đợc hệ thống chính sách phát triển xã hội sát thực tiễn nhng
lại thất bại trong khâu quản lý, giám sát quá trình thực hiện. Có những nớc
lại sai lầm ngay từ khâu định hình chính sách và biện pháp phát triển xã hội.
Trong trờng hợp này, dù có áp dụng mô hình quản lý tối u cũng không thể
đem lại hiệu quả xã hội nh mong muốn. Thậm tệ nhất, đó là sự sai lầm cả về
đờng hớng phát triển lẫn phơng thức quản lý, đa xã hội vào tình trạng rối
ren, bế tắc. Đây là bài toán không hề đơn giản đối với mọi quốc gia.
Qua hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt đợc khá nhiều thành tựu
Bởi những lẽ trên, đề tài Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội của Trung Quốc và một số nớc Đông á - kinh nghiệm và ý nghĩa với
Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn vô cùng sâu sắc.
2. Phạm vi, đối tợng nghiên cứu của đề tài
2.1. Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã tìm hiểu 3 nội dung lớn nh sau:
2.1.1. Phát triển xã hội ở Trung Quốc và một số quốc gia Đông á
Theo nghĩa đầy đủ, phát triển x hội là phát triển toàn bộ các lĩnh vực
liên quan đến các yếu tố cấu thành một quốc gia, dân tộc. Nó bao gồm đời
sống và chế độ kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội cùng mối bang giao quốc tế
của một vùng lãnh thổ hay quốc gia có chủ quyền toàn vẹn.
ở đây, đề tài triển khai nghiên cứu nội dung phát triển x hội theo
nghĩa hẹp. Đó là các vấn đề trong đời sống xã hội của con ngời, từ cá nhân
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị
Quốc gia, trang 23.
4
đến cộng đồng. Hơn thế, trong phạm vi cho phép, đề tài chỉ chọn lựa một số
vấn đề đợc Trung Quốc và các quốc gia Đông á giải quyết tơng đối thoả
đáng, có giá trị tham khảo với Việt Nam nh: an sinh xã hội, xoá đói giảm
nghèo, giáo dục, môi trờng, chống tham nhũng,
2.1.2. Quản lý phát triển xã hội ở Trung Quốc và một số quốc gia Đông á
Theo quan điểm tổng thể, quản lý phát triển x hội đợc hiểu là hoạt
động phối hợp giữa nhà nớc với các tổ chức xã hội trong quá trình chế định,
thực thi chính sách, hoàn thiện thể chế, phân bổ nguồn lực nhằm giải quyết
thoả đáng các vấn đề xã hội, ổn định và nâng cao đời sống của cá nhân và
cộng đồng, tạo đồng thuận xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện
nền kinh tế, văn hoá, chính trị.
Các nớc Đông Nam á vốn có truyền thống lịch sử và đặc điểm văn hoá
gần gũi với Việt Nam, ngày càng có điều kiện học hỏi, giao lu, vận dụng
kinh nghiệm phát triển của nhau. Tuy nhiên, đề tài chỉ lựa chọn 3 quốc gia có
hệ thống chính sách phát triển xã hội điển hình và phơng thức quản lý phát
triển xã hội công khai, minh bạch, có ý nghĩa tham khảo với Việt Nam là
Malaixia, Xinhgapo và Thái Lan.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục tiêu của đề tài
3.1.1. Phân tích, đánh giá những nét đặc trng nhất về mô hình phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc và một số nớc Đông á.
3.1.2. Đánh giá điểm mạnh, tích cực và tiêu cực trong mô hình phát triển
và quản lý phát triển xã hội của các quốc gia đợc nghiên cứu.
3.1.3. Đúc kết những kinh nghiệm có thể tham khảo từ mô hình các nớc;
đề xuất phơng hớng, giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
ở Việt Nam.
6
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
3.2.1. Nghiên cứu chính sách phát triển và phơng thức quản lý phát triển
xã hội của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Xinhgapo, Thái Lan
(phân tích so sánh thêm một số lĩnh vực với Đài Loan và Hồng Kông).
3.2.2. Phân tích những thành công và hạn chế của các mô hình đã đợc
nghiên cứu.
3.2.3. Đề xuất những kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng với Việt Nam.
4. Cách tiếp cận của Đề tài
Đề tài căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện và mục tiêu riêng, cụ thể của
mỗi nớc để phân tích, đánh giá u điểm và hạn chế của các quốc gia đợc
nghiên cứu. Đồng thời, bằng phơng pháp nghiên cứu khu vực học, Đề tài
tiến hành so sánh, làm sáng rõ những đặc trng nổi bật nhất trong mô hình
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc và một số
mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trên thế giới nói chung,
Trung Quốc nói riêng. Cuốn sách còn phân tích khá sâu sắc các yếu tố liên
quan đến việc hoàn thiện thể chế quản lý xã hội như kinh tế thị trường, các tổ
chức phi chính phủ, khu dân cư ; những yếu tố liên quan
đến quá trình xây
dựng và phát triển xã hội như: điều chỉnh lợi ích, chính sách xã hội, công tác
xã hội, các thiết chế xã hội… Có thể nói, đây là công trình có giá trị tham
khảo và tra cứu rất hữu ích với đề tài.
Một trong những vấn đề nổi bật được các học giả Trung Quốc và học giả
nước ngoài đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây là lý thuyết về xây dựng
xã hội hài hoà XHCN. Các văn kiện chính thứ
c cũng như các công trình
nghiên cứu của học giả Trung Quốc đã đi sâu phân tích, luận giải về mô hình,
nội dung, các bước đi trong xây dựng xã hội hài hoà. Có thể kể tới một số
công trình tiêu biểu như sau: Báo cáo về vấn đề xây dựng xã hội hài hoà của
Trung Quốc: Vấn đề, hiện trạng, thách thức và đối sách (Nxb Phát triển
8
Trung Quốc, 2005); Kinh tế thị trường và xã hội hài hoà (Nxb Kinh tế Trung
Quốc, 2006); Bàn về xã hội hài hoà XHCN (Nxb Nhân dân, 2005);…
Về mô hình
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc
Có thể nói, đây là “điểm nóng” trong nghiên cứu học thuật ở Trung Quốc
hiện nay, được thể hiện trên hàng trăm công trình có giá trị. Nhiều cuốn sách
phân tích, luận giải trực tiếp toàn bộ hệ thống chính sách phát triển xã hội của
Trung Quốc, trên các lĩnh vực: an sinh, y tế, giáo dục, nhà ở, việc làm; các vấn
đề xã hội cần tháo gỡ như: tham nhũ
ng, tội phạm, nghèo đói, chênh lệch thu
nhập, mất cân bằng về cơ hội và lợi ích,… Hơn thế, các học giả còn đi sâu phân
tích, đánh giá những cải cách quan trọng về thể chế việc làm, thể chế thu nhập,
c l rt phong phỳ, a chiu, giỳp cỏc
nh nghiờn cu cú cú cỏch nhỡn nhn v ỏnh giỏ chớnh xỏc hn v c trng
v bn cht ca cỏc mụ hỡnh phỏt trin quc gia ny.
5.1.2. V mụ hỡnh phỏt trin ca mt s quc gia ụng
Nht Bn
Khụng ớt cụng trỡnh nghiờn cu ó bn sõu v vai trũ ca Nh nc, th
ch qun lý, ci cỏch nn hnh chớnh, trong quỏ trỡnh phỏt trin xó hi ca
Nht Bn. Cỏc vn xó hi Nht B
n luụn l mng nghiờn cu hp dn i
vi hc gi nc ngoi. Chng hạn, trong cuốn Difference and Modernity:
social theory and Contemporary Japanese Society, Kegan Paul Itenational,
1995, John Clammer đã làm rõ những khía cạnh về lý thuyết xã hội của Nhật
Bản. Còn Michael Shalev lại tập trung nghiên cứu vic t nhân hoá các chính
sách xã hội, trong đó Nhật Bản là một quốc gia mà tác giả này rất coi trọng
trong công trình: The privatization of social policy?, Nxb Micmilan, 1996
Bờn cnh ú, nhng mt trỏi ca xó hi v phng thc qun lý xó hi cng
c ch rừ trong nhiu cụng trỡnh nghiờn cu nh: Japanese Models of
conflict Resolution, S.N. Eisenstadt and Eyal Ben-Ari, Kegan Paul
International, 1990 hoặc The Japanese social crisis của Jon Woronoff , Nxb
Massachusett, 1997, 10
Malaixia
Một số công trình nghiên cứu đề cập đến cơ sở hình thành và chuyển đổi
mô hình phát triển xã hội của Malaixia như nền tảng lịch sử, đặc điểm văn
hoá, yếu tố tộc người… Chẳng hạn: Abdal Razak Baginada, Malaysia in
transition: Politics and Society, London: ASEAN Academic Press, 2003. Cũng
có những công trình nhấn mạnh tầm quan trọng của giai tầng trung lưu trong
quá trình chuyển đổi và phát triển của xã hội như: Abdul Rahman, Social
tích làm rõ các vấn đề chính trị ở Thái Lan hiện nay có ảnh hưởng quan trọng
đến đời sống xã hội nước này. Theo chúng tôi, đây là một công trình có giá trị
tham khảo tố
t khi nghiên cứu về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội ở Thái Lan.
5.2. Những nghiên cứu trong nước
5.2.1. Về mô hình phát triển và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc
Mặc dù các công trình nghiên cứu về xã hội Trung Quốc không nhiều,
song các học giả Việt Nam đã chú tâm luận giải những vấn đề có ý nghĩa gợi
mở nhất trong mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở quốc
gia này. Đã có một khối lượng khá lớn công trình mang tính khái quát cao về
các bước tiến trong nhận thức lý luận xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc
như: Những vấn đề lý luận của
Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc
(KHXH, 2003); CHND Trung Hoa 55 năm xây dựng và phát triển (KHXH,
2005); Trung Quốc 25 năm cải cách và mở cửa: Những vấn đề lý luận và
thực tiễn (KHXH, 2004). Gần đây, một số học giả bắt đầu chú tâm lý giải về
mô hình “xã hội hài hoà XHCN”, về các lĩnh vực cụ thể trong phát triển xã
hội của Trung Quốc. Đó là một số bài viết đăng trên Tạ
p chí Nghiên cứu
Trung Quốc: Một số vấn đề về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội của Trung Quốc (Phùng Thị Huệ, số 4/2007)
; Trung Quốc với việc xây
dựng nông thôn mới XHCN (Nguyễn Xuân Cường, số 2/2006); Xã hội Trung
Quốc: Tình hình và dự báo (Phùng Thị Huệ, số 5/2005),…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển xã
hội và quản lý phát triển xã hội ở Trung Quốc tương đối đa chiều. Tuy nhiên,
12
những công trình đó còn khá dàn trải, chưa khái quát được đặc điểm và bản
13
quan điểm và chính sách của Malaixia trong việc tạo thế cân bằng giữa tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Cũng có những công trình tìm hiểu các
yếu tố địa lý, lịch sử và văn hoá tác động đến quá trình hình thành và phát
triển của Liên bang Malaixia. Tiêu biểu phải kể đến cuốn sách: Địa lý kinh tế
- xã hội các nước ASEAN (tập 1, KHXH, 1999) của tác giả Phạm Mộng Hoa.
Xinhgapo
Đã có một số công trình điểm l
ại toàn bộ lịch sử phát triển của quốc gia này,
từ đó rút ra những yếu tố tác động đến sự phát triển của Xinhgapo. Ví như cuốn
Cộng hoà Xinhgapo 30 năm xây dựng và phát triển của Trần Khánh, Nxb Khoa
học xã hội, 1995 hay Bí quyết hoá rồng: Lịch sử Xinhgapo: 1965-2000 của Lý
Quang Diệu, Nxb Trẻ 2001. Một số tác giả cũng nêu và phân tích rõ những hạn
chế và thách thức mà Xinhgapo phải đối mặt trong quá trình xây d
ựng và phát
triển. Một trong những thành công tiêu biểu của Xinhgapo là nước này đã thực
hiện khá tốt các chính sách xã hội, nhất là công bằng xã hội và chế độ nhà ở
công cộng. Nhiều quan điểm của các học giả cho rằng, quốc đảo này là một ví
dụ tương đối điển hình về bộ máy công quyền minh bạch, công khai. Chính vì
thế, người dân được hưởng nhiều chính sách và lợi ích công bằng. Bài viết: Phân
phối thu nh
ập và công bằng xã hội: Trường hợp Xinhgapo (Trần Khánh, Xã hội
học, số 2/2004) đã phân tích tính ưu việt trong chế độ phân phối thu nhập, đảm
bảo nguyên tắc công bằng của Xinhgapo. Bài viết cho rằng, đây chính là một
trong những thành công của Xinhgapo về quản lý phát triển xã hội, cũng là kinh
nghiệm rất đáng tham khảo đối với nhiều nước trong khu vực.
Thái Lan
Một số công trình chuyên nghiên cứu v
ề con đường phát triển của Thái
- Chơng III: Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở
Malaixia, Xinhgapo và Thái Lan
- Chơng IV: Những kinh nghiệm gợi mở với Việt Nam.
15
CHNG I
Mễ HèNH PHT TRIN X HI V QUN Lí PHT TRIN
X HI C
A TRUNG QUC THI K CI CCH M CA
Hội nghị Trung ơng 3 Khoá XI Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc
(tháng 12-1978) quyết định chuyển trọng tâm công tác đất nớc từ đấu tranh
giai cấp sang xây dựng kinh tế. Trong suốt thời gian dài, Trung Quốc hầu nh
tập trung đầu t mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, cha chú ý thích đáng
đến phát triển xã hội. Chính vì thế, bên cạnh những thành tựu rực rỡ, đáng
khâm phục về kinh tế, Trung Quốc ngày càng phải đối mặt với không ít các
vấn đề nổi cộm, thách thức trong lĩnh vực xã hội. Bớc vào thế kỷ XXI, nhiều
cuộc thăm dò ý kiến đã đi đến thống nhất cho rằng, trong tất cả các yếu tố dẫn
đến nguy cơ bất ổn, thậm chí đe doạ thành quả của công cuộc cải cách mở cửa
thì yếu tố xã hội là đáng quan ngại hơn cả. Trớc thực trạng đó, từ sau Đại hội
XVI (11-2002), các nhà lãnh đạo Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã hết sức
chú trọng đến mục tiêu phát triển xã hội, tăng nhanh bớc tiến đồng bộ với
công cuộc cải cách và phát triển kinh tế. Thông qua việc thực hiện các chính
sách phát triển xã hội và đổi mới phơng thức quản lý xã hội, Trung Quốc kỳ
vọng sẽ không chỉ hoá giải đợc những vấn đề bất cập, mà còn tìm kiếm và
tạo dựng thành công một mô hình phát triển xã hội thích ứng với điều kiện
kinh tế thị trờng.
Từ sau Đại hội XVII, Trung Quốc đặcbiệt quan tâm đến nhiệm vụ cải
cách thể chế xã hội, đặt nó ngang tầm với cải cách thể chế kinh tế, thể chế
v phng thc v ni dung phỏt trin xó hi trong iu ki
n kinh t th
trng. Trung Quc ang tng bc xỏc nh li cỏc tiờu chớ cụng bng, iu
hũa li ớch, xoỏ b ch ngha bỡnh quõn, trờn c s ỏnh giỏ ỳng mc nng
lc v úng gúp cỏ nhõn, ng thi to c hi phỏt trin bỡnh ng cho mi
thnh viờn, tin ti mt xó hi cựng giu cú. ú cng chớnh l quỏ trỡnh
chuyn i mụ hỡnh phỏt trin xó hi - t bỡnh quõn quyn li sang hi ho
quyn li.
17
1.1. iu ho c cu li ớch: t bỡnh quõn thu nhp n u tiờn hiu
qu, tin ti cựng giu cú
Li ớch l yu t quan trng nht, cú tỏc dng gn kt hay lm lng lo,
thm chớ gõy mõu thun trong cỏc quan h xó hi. Li ớch c iu phi cõn
bng s gúp phn thỳc y xó hi phỏt trin; ngc li, s tr thnh lc cn
cỏc hot ng xó hi. Nh
n thc tuõn th quy lut ny l quỏ trỡnh khụng
h n gin vi Trung Quc, bi quan im v thúi quen t mụ hỡnh kinh t
k hoch ó hn sõu trong t tng ca ngi dõn nc ny. Cỏc nh lónh o
Trung Quc - t th h Mao Trch ụng n H Cm o u nhn mnh
mc tiờu em li li ớch cụng bng cho mi ngi dõn, nhng phng thc
th
c hin phi tri qua mt quỏ trỡnh iu chnh, hon thin nhiu thp k.
Thi k Mao Trch ụng, Trung Quc c bit coi trng ch ngha phõn
phi bỡnh quõn, th hin rừ nht trong lnh vc vic lm v an sinh xó hi.
Hiến pháp đầu tiên nớc CHND Trung Hoa (9-1954) quy định: Công dân
nớc CHND Trung Hoa có quyền đợc làm việc. Thông qua quá trình phát
triển nền kinh tế kế hoạch, từng bớc mở rộng việc làm, cải thiện điều kiện
lm vic và tiền lơng, nhằm đảm bảo quyền lợi của ngời lao động
1
theo lao động của CNXH cơ bản bị xoá bỏ
2
. Thực chất của chủ nghĩa bình
quân là cào bằng lợi ích, bất kể năng lực và mức độ đóng góp cả sức lực, tài
lực và vật lực của ngời lao động. Nguy hại hơn, nó đã triệt tiêu sức sáng tạo
của nguồn lực con ngời, kìm hãm sự phát triển xã hội.
Bớc sang thời kỳ cải cách, song song với quá trình chuyển đổi từ nền
kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trờng XHCN, Trung Quốc
từng bớc chấp nhận chế độ sở hữu đa thành phần, phân phối nhiều hình thức.
Theo đó, đóng góp của các tầng lớp xã hội có sự chênh lệch khác nhau, lợi ích
của từng bộ phận c dân cũng bộc lộ sự biến đổi và phân hoá mới. Trong bối
cảnh đó, Trung Quốc chủ trơng phát triển xã hội theo quan điểm u tiên hiệu
quả, chiếu cố công bằng, tiến tới cùng giàu có. Đặng Tiểu Bình từng phát biểu:
Các ngành văn hoá t tởng, y tế giáo dục đều phải coi hiệu quả xã hội là
chuẩn mực duy nhất trong mọi hoạt động, các doanh nghiệp trực thuộc các
ngành này cũng phải coi hiệu quả xã hội là chuẩn mực cao nhất
3
. Từ quan
điểm đó, Đặng Tiểu Bình đã đề xớng một t tởng chỉ đạo hết sức mới mẻ:
cho phép một số vùng, một số ngời giàu lên trớc. Đây là bớc chuyển lịch
1
Khổng Tờng Trí chủ biên (2005): Báo cáo triển vọng của vấn đề Tam nông ở Trung Quốc, Nxb
Kinh tế, Bắc Kinh, trang 135.
2
Nguyễn Huy Quý (2004): Lịch sử hiện đại Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 84.
3
Đặng Tiểu Bình văn tuyển, tập 3, trang 145.
19
.
Tuy nhiên, thực tế phát triển xã hội ở Trung Quốc đã không hoàn toàn
diễn ra đúng ý tởng cùng giàu có của các nhà lãnh đạo nớc này. Sau gần
30 năm cải cách, mặc dù mức sống của đông đảo nhân dân đợc cải thiện và
nâng cao rõ rệt, song Trung Quốc lại lâm vào tình trạng phân hoá giàu nghèo
1
Đặng Tiểu Bình văn tuyển, tập 3, trang 373.
2
Lý luận kinh tế Đặng Tiểu Bình Trích yếu, Nxb Kinh tế Trung Quốc, trang 47.
3
Đặng Tiểu Bình văn tuyển, tập 3, trang 111.
4
Đặng Tiểu Bình văn tuyển, tập 3, trang 24-25.
20
ngày càng nghiêm trọng. Cũng có nghĩa là mục tiêu cân bằng lợi ích cha đạt
hiệu quả mong muốn. Trớc thực trạng đó, Hội nghị Trung ơng 6 Khoá XVI
ĐCS Trung Quốc (8-11/10/2006) đã công bố Quyết định một số vấn đề quan
trọng về xây dựng xã hội hài hoà XHCN. Những nội dung nêu trong Quyết
định phản ánh rõ hơn mục tiêu chuyển đổi mô hình phát triển xã hội của Trung
Quốc, nhằm đem lại lợi ích cân bằng hơn cho các vùng miền và các nhóm xã hội:
Một là, xây dựng hài hoà cơ cấu thành thị với nông thôn, thu hẹp tới mức
thấp nhất khoảng cách chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển vùng;
Hai là, xây dựng hài hoà kết cấu khu vực c dân, từng bớc xoá bỏ tình
trạng mất cân bằng nghiêm trọng về thu nhập giữa các nhóm c dân;
Ba là, xây dựng hài hoà cơ cấu giai tầng, tạo lập một xã hội cùng giàu có,
giảm thiểu mâu thuẫn giữa các tầng lớp c dân, tạo môi trờng phát triển
xã hội ổn định và lành mạnh;
Bốn là, xây dựng hài hoà cơ cấu việc làm, giải quyết tình trạng d thừa
có năng lực nhiều hơn có thể nhanh chóng làm giàu, ngời yếu kém hơn
không bị tớc đoạt cơ hội. Nó tiến bộ và tích cực hơn nhiều so với mô hình
phát triển xã hội theo chủ nghĩa bình quân - đúng hơn là cào bằng lợi ích, làm
nghèo xã hội. Tuy vậy, trong chừng mực nhất định, mô hình mới này cũng
chấp nhận sự chênh lệch tơng đối về trình độ phát triển giữa các vùng miền,
giữa các bộ phận c dân. Đây thật sự là tình trạng khó tránh khỏi đối với các
quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển.
1.2. Từ tập trung phát triển kinh tế sang chú trọng cải cách dân sinh
Trong thi gian hn hai mi nm ci cỏch, Trung Quc luụn t nhim
v phỏt trin kinh t lờn hng u, ra sc tp trung m
i ngun lc vo mc
tiờu tng trng v nõng cao thu nhp quc dõn. Vi nhng c gng vt bc,
Trung Quc ó t c nhiu thnh tu kinh t rc r, ỏng khõm phc. Tuy
nhiờn, trong lnh vc xó hi, Trung Quc ngy cng phi i mt vi nhiu
vn gai gúc, nan gii, c bit l nhng biu hin bt bỡnh ng trong i
sng dõn sinh. phỏt trin cõn b
ng, nhanh chúng gii quyt mõu thun gia
tng trng v cụng bng xó hi, Trung Quc xut quan im phỏt trin
mt cỏch khoa hc, theo phng chõm ly con ngi lm gc; phỏt trin
22
toàn diện, cân bằng và bền vững; phát triển hài hoà kinh tế, chính trị, văn hoá
và xã hội; phát triển con người toàn diện”
1
. Bước vào thế kỷ XXI, dân sinh đã
ngày càng trở thành mối quan tâm lớn của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Báo
cáo Chính trị Đại hội XVII ĐCS Trung Quốc nêu cụ thể 6 nội dung xây dựng
xã hội lấy dân sinh làm trọng điểm. Đó là: (1). Ưu tiên phát triển giáo dục,
xây dựng cường quốc nguồn nhân lực; (2). Thực hiện chiến lược phát triển
việc làm, thúc đẩy quá trình lập nghiệp để mở rộng việc làm; (3). Đi sâu cả
ĐCS Trung Quốc), Nxb Nhân dân.
2
Xem Hồ Cẩm Đào (2007): Sđd.
3
Điểm sáng mới của Báo cáo Đại hội XVII và ý tưởng trị quốc của Đảng. 23
sức bảo đảm và cải thiện dân sinh, thúc đẩy cải cách thể chế xã hội, mở rộng
dịch vụ công, hoàn thiện cơ chế quản lý xã hội, thúc đẩy công bằng chính
nghĩa, ra sức phấn đấu làm cho toàn thể nhân dân được học hành, được lao
động, được khám chữa bệnh, được dưỡng lão, có nhà ở, thúc đẩy xây dựng xã
hội hài hoà”
1
. Cũng chính vì chú trọng đến vấn đề dân sinh nên lần đầu tiên
khái niệm “văn minh sinh thái” – yếu tố quan trọng liên quan đến chất lượng
sống - được chính thức đưa vào Báo cáo chính trị của ĐCS Trung Quốc
(Khoá XVII), sau khái niệm “văn minh vật chất” và “văn minh tinh thần”
được nhấn mạnh từ Đại hội XII đến Đại hội XV; “văn minh chính trị” được
nêu ra trong Đại hội XVI.
Báo cáo chính trị tại Đại hội XVI Đ
CS Trung Quốc cũng đã nhấn khá rõ
những nội dung chuyển đổi trong mô hình phát triển xã hội, nhằm vào mục
tiêu dân sinh như vậy.
Một là, hợp lý hoá quan hệ phân phối bằng cách điều tiết và quy phạm
hoá quan hệ phân phối giữa nhà nước, xí nghiệp và cá nhân; xác lập nguyên
tắc phân phối theo mức đóng góp của các yếu tố sản xuất như sức lao động,
vốn, kỹ thuật và khả năng quả
n lý,… hoàn thiện chế độ phân phối đa dạng,
lực chất lượng cao. Trung Quốc chủ trương “từng bước xây dựng và hoàn
thiện chế độ giáo dục có lợi cho tiêu chí học tập suốt đời. Các trường học phải
mở cửa rộng hơn ra xã hội, phát huy chức năng của các loại hình giáo dụ
c
chính quy và không chính quy, giáo dục thường xuyên và bồi dưỡng kỹ thuật
ngành nghề”
2
. Theo ông Giang Trạch Dân, cần tạo điều kiện và môi trường
làm việc, học tập tốt nhất cho tầng lới trí thức; hậu đãi và trọng thưởng tài
năng đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp phát triển đất nước.
Có thể thấy, Trung Quốc đã ngày càng chú trọng đến lĩnh vực xã hội,
nhằm tìm kiếm sự phát triển cân bằng hơn. Xây dựng xã hội hài hoà theo tiêu
chí điều chỉ
nh lợi ích và cải cách dân sinh là nội dung quan trọng trong quá
trình tạo dựng mô hình phát triển xã hội mới, phù hợp với yêu cầu hiện đại
hoá và nâng cao toàn diện đời sống người dân. Đây cũng chính là nhân tố hết
sức quan trọng tạo nên cấu trúc mới trong mô hình xây dựng xã hội XHCN ở
1
Xem Giang Trạch Dân (2002): Xây dựng toàn diện xã hội khá giả, mở ra cục diện mới trong sự
nghiệp xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc (Báo cáo tại Đại hội XVI ĐCS Trung Quốc), Nxb
Nhân dân.
2
Giang Trạch Dân (2002): Bàn về CNXH có đặc sắc Trung Quốc, Nxb Văn hiến Trung ương, Bắc
Kinh, trang 266.