báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam - Pdf 27

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.02/06-10

BÁO CÁO TỔNG QUAN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP NHÀ NƯỚC MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN Ở CHÂU ÂU -
KINH NGHIỆM VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAMMã số: KX.02.13/06-10

Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Nguyễn Quang Thuấn
Thư ký đề tài: Ths. Đặng Minh Đức
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Châu Âu


5. PTS.TS. Phạm Ngọc Thanh
6. TS. Nguyễn An Hà
7. TS. Bùi Nhật Quang
8. TS. Hoàng Vĩnh Long
9. Th.s. Đặng Minh Đức
10. Th.s. Nguyễn Xuân Trung
11. và những thành viên khác
GS.TS. Bùi Huy Khoát
2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHÂU ÂU 21
I. LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
21
1. Phát triển xã hội và phát triển kinh tế 22
2. Các yếu tố cần thiết cho phát triển xã hội. 23
3. Ba bước tiến của phát triển 29
4. Phát triển tự nhiên và phát triển có kế hoạch. 32
5. Phát triển xã hội-một cái nhìn tổng quan. 33
II. LỰA CHỌN LÝ THUYẾT VÀ QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHÂU ÂU 38
1. Các vấn đề lý thuyết và khái niệm liên quan 39
2. Lựa chọn khái niệm và thực tiễn phát triển xã hội 44
3. Quan điểm nghiên cứu về các mô hình phát triển xã hội nổi bật của Châu

2.5. Chăm sóc trẻ em 106
3. Chính sách thị trường lao động tích cực ở Anh 107
3.1. Trước năm 1997 107
3.2. Sau năm 1997 108
3.3. Tác động của chính sách thị trường lao động tích cực 111
4. Sự hoà nhập và gắn kết xã hội ở nước Anh 112
4.1. Sự phân tầng xã hội và bấ
t bình đẳng ở nước Anh 113
4.2. Giới tính và sự bất bình đẳng ở Anh 114
4.3. Những tiến bộ trong xoá đói giảm nghèo 116
5. Các vấn đề bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế 117
6. Hệ thống chính trị và vai trò của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ trong
mô hình phát triển xã hội 119
6.1. Hệ thống chính trị Anh: 119
6.2. Vai trò của nhà nước trong quản lý phát triển xã hội 120
6.3. Vai trò củ
a các tổ chức phi chính phủ trong việc xác lập mô hình xã
hội và quản lý phát triển xã hội ở Anh 122
III. MÔ HÌNH CHÂU ÂU LỤC ĐỊA – TRƯỜNG HỢP CHLB ĐỨC 128
1. Cơ sở hình thành và thực hiện mô hình phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội ở CHLB Đức 128
2. Những đặc trưng và nội dung cơ bản của mô hình xã hội CHLB Đức 134
3. Hệ thống an sinh xã hội Đức 140
3.1. Hệ thống chăm sóc sức khỏe (bảo hiểm y tế) 141
4

3.2.Hệ thống bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp 143
3.4. Bảo hiểm hưu trí 150
3.5. Các phúc lợi xã hội khác 150
4. Dân số, lao động, việc làm và hệ thống giáo dục 152

3.6. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 222
5

V. XU HƯỚNG HÌNH THÀNH MỘT MÔ HÌNH CHUNG CHÂU ÂU VỀ PHÁT
TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 225
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở CHÂU ÂU VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM 235
I. ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHÂU ÂU 235
1. Về đặc trưng của các mô hình 235
2. Thành công nổi bật 247
3. Hạn chế và thách thức 252
II. TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CỦA CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM
262
1. Khái quát Mô hình phát triển xã hội ở Việt Nam 262
2. Tương đồng và khác biệt giữa mô hình Việt Nam và Châu Âu 272
III. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO MÔ HÌNH PHÁT
TRIỂN XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM
277
1. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 277
2. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện mô hình phát triển xã hội Việt Nam
286
2.1. Kiến nghị cụ thể hóa quan điểm phát triển xã hội của Đảng 286
2.2. Kiến nghị về một số hướng giải pháp cho mô hình phát triển xã hội ở
nước ta giai đoạn 2011-2020 289
KẾT LUẬN 297
TÀI LIỆU THAM KHẢO 299
6

LỜI MỞ ĐẦU

để có thể thực hiện thành công chiến lược chuyển sang nền kinh tế tri thức trên cơ
sở một xã hội phồn vinh của văn minh hậu công nghiệp và phổ biến mô hình của
mình ra thế giới như là một chuẩn mực cần phải noi theo. Còn nhiều quốc gia khác,
nhất là các quốc gia đang phát triển cũng quan tâm nghiên cứu mô hình Châu Âu
7

để học hỏi những kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công để vận dụng vào
thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế bền vững trong điều kiện cụ thể riêng có.
Tổng kết 25 năm đổi mới (1986-2010) ai cũng có thể thấy nền kinh tế và xã
hội Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn mà lịch sử đất nước trước đó
chưa bao giờ đạt được. Bướ
c vào thời kỳ “hậu đổi mới” nền kinh tế Việt Nam tiếp
tục tăng trưởng với tốc độ cao và ngày càng thu hút thiện cảm của thế giới. Bên
cạnh nhịp độ tăng trưởng cao Việt Nam cũng được Ngân hàng thế giới đánh giá là
một trong những quốc gia thành công nhất trong thực hiện các mục tiêu thiên niên
kỷ. Tuy nhiên muốn đạt được mục tiêu sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển để
đến năm 2020 cơ bản trở thành một quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại như
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ ra chúng ta còn phải vượt qua hàng loạt
thách thức trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, đối ngoại và phát triển xã
hội. Đây là những vấn đề thu hút tâm huyết không chỉ của các nhà lãnh đạo, của
giới khoa học mà còn là của tấ
t cả những ai quan tâm đến vận mệnh đất nước.
Chính vì vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài trong xây dựng mô hình
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là việc làm thường xuyên cần thiết.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu những kinh nghiệm của Châu Âu, các bài học
chính diện và phản diện từ việc xây dựng và áp dụng “các mô hình xã hội Châu
Âu” không nằm ngoài nhu cầu chung đó.
2. Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước
Ngay từ trong l
ịch sử cổ - trung đại Châu Âu với sự hình thành nhà nước

định.
2.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Nếu xem những ý tưởng và sự tìm ki
ếm cách thức tổ chức-quản lý phát triển
xã hội của các nhà triết học cổ điển như “Lý luận về nhà nước lý tưởng” của Platon
và các trước tác của Aristotle là những nghiên cứu lý thuyết về phát triển xã hội
(theory of social development) thì mô hình các vị đưa ra ở dạng sơ khai mang sắc
thái cộng đồng có thể xem là những nghiên cứu sớm nhất về mô hình phát triển xã
hội và quản lý phát triển xã hội. Sau khi nhà nước c
ộng hòa La Mã suy sụp, xã hội
Châu Âu tiếp tục phát triển với sự ra đời liên tiếp của Vương quốc Frank-nước
Pháp, nhà nước Đức và Vương quốc Anh…thì xã hội đã được định hình với các
tầng lớp cư dân cũ và tầng lớp thị dân mới (do sự ra đời của các thành thị trung cổ)
được phân biệt bởi tài sản chiếm hữu. Một mô hình xã hội Châu Âu sơ khai đã hình
thành và dần hoàn thiện cùng hệ
thống quản lý với bộ máy nhà nước gồm Đại hội
nhân dân, Viện nguyên lão…của cộng hòa La Mã, rồi chế độ quân chủ đại biểu
đẳng cấp (tăng lữ, quý tộc và thị dân) của nước Pháp Thế kỷ 14, mô hình “Đại hiến
chương tự do” và “Quốc hội” với Thượng viện gồm đại biểu của đại quý tộc và
giáo hội, Hạ viện gồm đại bi
ểu của kỵ sỹ và thị dân giầu ở nước Anh Thế kỷ 13 –
9

14…v.v. Những nghiên cứu lý thuyết về phát triển xã hội khi Châu Âu bước vào
thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản được tiến hành khá mạnh mẽ với sự xuất hiện
hàng loạt công trình khoa học trong đó có những công trình nghiên cứu về xã hội
công dân. Một số trước tác của C. Mác và Ph. Anghen về chủ nghĩa tư bản và nhà
nước tư bản cũng có đề cập đến sự phát triển xã hội và h
ệ thống quản lý phát triển
xã hội của nhà nước tư bản chủ nghĩa. Mô hình xã hội Châu Âu tư bản chủ nghĩa


xem xét ở đây thường là truyền thống lý thuyết ở phương Tây và các quan niệm về
xã hội công dân kể từ Hêghen, các quan niệm theo truyền thống Mác-xit cho tới các
quan niệm hiện đại trong Thế kỷ 20, xã hội công dân và nền dân chủ, các thiết chế
của xã hội công dân, xã hội công dân và toàn cầu hóa… Ngoài ra cũng có những
công trình gắn việc nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
trong tiến trình toàn cầu hóa, đáng chú ý là cuốn “Globalization and Social
Development-European and Southeast Asian Evidence”
của nhiều tác giả do Ludo
Cuyvers chủ biên, phân tích tác động của toàn cầu hóa đến phát triển xã hội xem
xét từ thực tiễn Châu Âu và các nền kinh tế Đông Nam Á (Thái Lan, Philipin và
Việt Nam).
Gần hơn với chủ đề nghiên cứu của đề tài là những công trình nghiên cứu về
mô hình xã hội Châu Âu. Những nghiên cứu chung có thể kể như “European social
model” của Kirsty Hughes, “European Social Model” của giáo sư André Sapir
(2005), “The New Social Europe” của Poul Nyrup Rasmussen và Jacques Delors
(2006), “European Social Model and Welfare States” của Marisa Alves Pereira,
Saltanat Auyesbayeva v v…Các chủ đề
được nghiên cứu xem xét chính là những
nội dung cơ bản của phát triển xã hội như mô hình xã hội Châu Âu là gì và nó dựa
trên cơ sở những thang giá trị nào, chiến lược về việc làm đầy đủ, tri thức và đổi
mới là chìa khóa của tăng trưởng khôn khéo, quyền bình đẳng thực tế giữa nam và
nữ, tạo dựng tính tích cực trong một xã hội đang già đi, sự tập hợp và gắn kết xã
hội, đ
a dạng hóa và nhất thể hóa v v…Đặc biệt là những tư liệu của các cuộc hội
nghị, hội thảo quốc tế về chủ đề này. Ví dụ như hai cuộc hội thảo cùng diễn ra vào
tháng 3 năm 2006: Hội thảo tại Paris ngày 9 tháng 3 với chủ đề “The European
Social Model(s): Which directions and responsibilities for the EU?” theo đuổi mục
tiêu xác định các phương hướng và trách nhiệm của EU trong việc hiện đại hóa mô
hình xã hội Châu Âu thông qua trao đổi bàn luận các v

phát triển xã hội và quản lý bền vững như là các mục tiêu xã hội và kinh tế của
chiến lược. Một công trình khác “Social development” lại tập trung vào nghiên cứu
việc quản lý và khủng hoảng của quản lý trong giáo dục, môi trường, tài chính và
gi
ới trong phát triển. Công trình “Development Administration” thì nghiên cứu sự
kết nối “vốn xã hội” (social capital) với quá trình quản lý phát triển của một quốc
gia. Đặc biệt đáng lưu ý là những kết quả nghiên cứu của Chương trình MOST do
UNESCO tài trợ mà Viện Nghiên cứu Châu Âu được mời tham gia (GS.TS. Bùi
Huy Khoát được giao nhiệm vụ giám đốc bộ phận tham gia phía Việt Nam) từ giữa
những năm 90. Một “nhóm nghiên cứu quốc tế” do Pháp chủ trì thu hút sự tham gia
của một số quốc gia Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh cùng với một số cơ quan của
Pháp nghiên cứu xem xét phân tích tiến trình quản lý phát triển xã hội ở góc độ
những cải biến xã hội ở các quốc gia này và tham khảo kinh nghiệm của Pháp và
12

Châu Âu (EU). Tên gọi của chương trình - MOST là các chữ cái đầu của cụm từ
Management Of Social Transfomation đã nói lên nội dung nghiên cứu của mình.
2.2. Những nghiên cứu trong nước
Theo khảo sát dữ liệu của nhóm nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau như
qua mạng internet, hệ thống các thư viện chuyên ngành, tham khảo các cơ sở dữ
liệu của Viện Nghiên cứu Châu Âu…vv thì đến nay ở trong nước chưa có công
trình nghiên cứu nào đã được công bố có chủ đề
trùng với tên đề tài này. Trực tiếp
liên quan đến đề tài mới chỉ có một số công trình nghiên cứu dạng các đề tài nghiên
cứu cấp Bộ mà Viện Nghiên cứu Châu Âu đã triển khai gần đây như “Hệ thống an
sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” do PGS.TS. Đinh Công
Tuấn làm chủ nhiệm, Đề tài “Chính sách phát triển vùng của Italia” do TS. Bùi
Nhật Quang làm chủ nhiệm; Đề tài: “Hệ thống thể chế chính tr
ị và cải cách thể chế
chính trị EU trong bối cảnh Liên Minh Châu Âu mở rộng” do TS. Đặng Thế

dẫn về lý luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu đề tài. Liên quan đến việc
nghiên cứu quan điểm phát triển của các tác giả kinh điển của Chủ nghĩa Mác-
Lênin có công trình của GS.TS. Nguyễn Văn Huyên về “Triết lý phát triển Mác,
Angghen, Lênin, Hồ Chí Minh” (2000) và “Triết lý Hồ Chí Minh” (1996) của GS.
Trần Văn Giầu. Gần với chủ đề c
ủa đề tài hơn là những công trình nghiên cứu về
phát triển và phát triển xã hội như “Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy vấn đề cốt
yếu” do GS. Phạm Xuân Nam chủ biên (2002) tập trung nghiên cứu một số vấn đề
cơ bản của lý luận phát triển và mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố tạo nên
sự phát triển. Trong một nghiên cứu khác cũng do GS. Phạm Xuân Nam chủ biên
“Quả
n lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng” (2001) các tác
giả lại đi sâu vào xem xét vấn đề phát triển xã hội gắn với công bằng và tiến bộ xã
hội. Phát triển xã hội được xem xét dưới góc độ quan hệ giữa xã hội và tự nhiên
được tác giả Hồ Sỹ Qúy nghiên cứu trong công trình “Mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên trong sự phát triển xã hội” (2000). Trong số những Chương trình
nghiên cứu khoa họ
c cấp nhà nước đã được nghiệm thu cũng có một số đề tài liên
quan trực tiếp đến một số nội dung của chủ đề phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội. Chương trình KX-05 “Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta” do GS. Nguyễn Đức Bình làm chủ nhiệm có xem xét đến
các lý thuyết về nhà nước pháp quyền và cơ chế dân chủ (1998). N
ăm 2006 có
Chương trình KX 10 “Tiếp tục đổi mới hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế” do PGS.TS. Trần Đình Hoan làm chủ nhiệm đã đi sâu nghiên cứu
cơ cấu tổ chức và mô hình hoạt động của hệ thống chính trị ở một số quốc gia trên
thế giới trong đó có một số quốc gia Tây Âu cung cấp những tư liệu rất bổ ích.
Cũng liên quan đến chủ đề hệ thống chính trị gần đây có cuốn “Hệ thống chính trị
14

có những nhận xét đánh giá từ góc độ học thuật và thực tiễn phát triển EU về tính
khả thi, hữu dụng của mô hình xã hội Châu Âu.
- Những công trình nghiên cứu trực tiếp về quản lý phát triển xã hội ở Châu
Âu không nhiều. Đề tài sẽ kế thừa một số kết quả của Chương trình MOST và các
dự án đã và đang làm với Đan Mạch, Italia… để từ đó đi sâu tìm hiểu thêm và
15

nghiên cứu hoàn chỉnh về hệ thống quản lý này trên bình diện lý thuyết gắn với
nghiên cứu ở các mô hình phát triển xã hội cụ thể.
- Những nghiên cứu về các mô hình phát triển xã hội Châu Âu cũng không
có nhiều tuy nhiên cũng có những phân loại khác nhau về các mô hình tiêu biểu.
Đây là một nội dung quan trọng mà đề tài cần triển khai nghiên cứu từ xem xét các
tiêu chí tạo khác biệt giữa các mô hình đến nghiên cứu trực tiếp làm rõ các mô hình
với đại diện là mộ
t số quốc gia kinh tế phát triển là thành viên EU.
- Những công trình nghiên cứu trong nước ở tầm lý luận chung tuy không
nhiều nhưng khá tập trung vào chủ đề lý thuyết phát triển và phát triển xã hội. Đây
là những tư liệu giúp trực tiếp cho việc tìm hiểu những hiểu biết về lý thuyết phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đã được các nhà nghiên cứu trong nước
phân tích. Trên cơ sở tham khảo các tư liệu đó k
ết hợp với khảo sát thực tế một số
địa bàn ở trong nước những người nghiên cứu đề tài sẽ có được những hiểu biết
thực tiễn về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đang hình thành
ở Việt Nam giúp cho việc đối chiếu so sánh với lý thuyết và thực tiễn Châu Âu từ
đó rút các bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp cho các nhà hoạch định và thực
thi chính sách.
3. Ý nghĩa lý lu
ận và thực tiễn của đề tài.
Mặc dù ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu ở tầm lý luận về phát
triển nhưng lý thuyết phát triển xã hội dường như còn chưa được nghiên cứu nhiều.

- Làm rõ nguồn gốc lịch sử-thực tiễn của sự hình thành các ý tưởng-lý thuyết
và mô hình phát triển xã hội, hệ thống quản lý phát triển xã hội từ
đó xác định nền
tảng lý thuyết của tiến trình phát triển xã hội (với các mô hình khác nhau) và quản
lý phát triển xã hội trong mối quan hệ tương tác với các lý thuyết phát triển kinh tế,
chính trị, văn hóa…ở các quốc gia Châu Âu ngày nay.
- Trên cơ sở lý thuyết chung của Châu Âu về phát triển xã hội và quản lý
phát triển xã hội xác định các mô hình phát triển xã hội như sự biểu hiện cái chung
trong cái riêng ở một số quốc gia phát triển là đại di
ện và làm rõ bản chất, đặc
điểm, điều kiện hình thành và vận hành của các mô hình này cùng hệ thống quản lý
chúng.
- Dự báo triển vọng của các mô hình đã lựa chọn nghiên cứu trong khả năng
phát triển kinh tế-chính trị của Châu Âu với xu thế liên kết siêu quốc gia hội nhập
mô hình phát triển xã hội trên cơ sở tạo dựng “bản sắc Châu Âu” (European
Identity) và “Mô hình xã hội Châu Âu” (European Social Model) trong đa dạng

n hóa-sắc tộc trong các thập niên đầu Thế kỷ 21.
- Từ những nghiên cứu về thực trạng phát triển xã hội, các mô hình phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở một số quốc gia Châu Âu tiêu biểu, cũng
như tìm hiểu thực tiễn ở Việt Nam, rút ra những vấn đề Việt Nam có thể tham khảo
17

trong tiến trình xây dựng xã hội phồn vinh, công bằng, dân chủ, văn minh, xã hội
chủ nghĩa.
- Đối tượng nghiên cứu là quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã
hội và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở khu vực các quốc gia có nền
kinh tế phát triển là thành viên của tổ chức Liên minh Châu Âu (EU 15).
5. Đóng góp mới và lợi ích của đề tài.
Đề tài nghiên cứu về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

đường phát triển sâu và tăng cường liên kết, đề tài sẽ cung cấp một số bài học
kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia Châu Âu cho các cơ quan điều hành hoạt
động thực tiễn và các cơ quan quản lý về phát triển xã hội ở Việt Nam.
b) Nâng cao năng lực nghiên cứu của tổ chức, cá nhân thông qua tham
gia thực hiện đề tài, đào tạo trên đại học (s
ố người được đào tạo thạc sỹ - tiến
sỹ, chuyên ngành đào tạo)
- Đóng góp cho phát triển lĩnh vực khoa học về Châu Âu:
Châu Âu học là bộ môn khoa học còn khá mới mẻ ở Việt Nam và đang
được xây dựng, phát triển và mở rộng hoạt động đào tạo tại một số viện nghiên
cứu và trường đại học. Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ đ
óng góp cho việc
củng cố và nâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn khoa học này, trong đó sẽ
có đóng góp cho bộ môn quốc tế học nói chung và khu vực học nói riêng.
- Đối với công tác đào tạo cán bộ khoa học (bao gồm cả cơ hội nâng cao
năng lực nghiên cứu của các cá nhân và tập thể nhà nghiên cứu khi thực hiện đề
tài):
Đề tài nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Châu Âu chủ trì và đây là viện
nghiên cứu chuyên ngành duy nh
ất của Việt Nam về các vấn đề của Châu Âu.
Viện đã và đang xây dựng một đội ngũ cán bộ chuyên môn về nghiên cứu Châu
Âu và quá trình thực hiện đề tài là cơ hội tốt để các nhà nghiên cứu nâng cao trình
độ, mở mang kiến thức nhằm đáp ứng yêu cầu khoa học nghiêm khắc hơn. Ngoài
ra, đội ngũ các nhà nghiên cứu thực hiện đề tài sẽ nâng cao được trình độ lý luận
và kiến thức thự
c tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các đồng nghiệp khác cả ở
trong và ngoài nước.
Viện nghiên cứu Châu Âu đồng thời cũng tham gia đào tạo tại rất nhiều cơ
sở đào tạo bên ngoài về các vấn đề thuộc chuyên ngành Châu Âu học. Những kết
quả nghiên cứu của đề tài do Viện chủ trì thực hiện thông qua các cán bộ nghiên

hội.
- Tác động của sự phát triển liên kết Châu Âu theo xu hướng siêu quốc gia
tạo cơ sở vững chắc cho hình thành mô hình xã hội Châu Âu chung.
- Xã hội dân sự - lý thuyết và thực tế ở Châu Âu trong tiến trình thống nhất.
- Các mô hình phát triển kinh tế thị trường ở Châu Âu, những đặc trư
ng có
tính phổ quát và những đặc thù ở một số quốc gia điển hình, khía cạnh xã hội của
sự phát triển kinh tế thị trường và quản lý phát triển xã hội
20

(c) Nghiên cứu khảo sát phân tích bản chất đặc điểm các điều kiện hình
thành, thành tựu và những vấn đề đặt ra của các mô hình phát triển xã hội điển hình
ở một số quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu. Đề tài tập trung vào 4 loại mô hình
đặc trưng sau đây:
- Mô hình Bắc Âu (Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch) - trường hợp Thụy
Điển.
- Mô hình Anglo-Saxon (Ailen, Anh) - trường hợp Vương Quốc Anh.
- Mô hình l
ục địa (Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Luxembourg) - trường hợp Cộng hoà
Liên bang Đức
- Mô hình Địa Trung Hải (Tây Ban Nha, Italia, Bồ Đào Nha, Hy Lạp) -
trường hợp Tây Ban Nha.
Đây là bốn mô hình phát triển xã hội điển hình của các quốc gia phát triển
Châu Âu được lựa chọn và tập trung nghiên cứu. Mặc dù vậy, với quan điểm coi cả
4 mô hình này đều là các mô hình của Châu Âu và cách thức vận hành, cách thức
quản lý phát triển xã hội bên trong mỗi mô hình đều mang những nét tương đồ
ng
nên định hướng nghiên cứu sẽ hướng tới tổng hợp, làm rõ các biến chuyển chung
của 4 mô hình theo hướng tăng cường trình độ hội nhập. Điều này có nghĩa rằng xu
hướng phát triển thời gian tới của các mô hình sẽ thể hiện những nét tương đồng

ả của việc thay đổi hàng loạt chính sách và các chương
trình; điều này được mô tả như sự di chuyển vượt lên, mức độ lớn hơn của năng
lượng, năng lực, chất lượng, khả năng sáng tạo, sự thống trị, sự thưởng thức và
thành tựu….của xã hội qua các giai đoạn lịch sử. Nhìn lại các diễn biến của lịch sử
trong suốt nhiề
u thế kỷ đã cho thấy xã hội loài người vẫn liên tục phát triển theo
thời gian và để lý giải cho điều này, các học giả Châu Âu đã đưa ra nhiều lý thuyết
khác nhau để tìm hiểu và phân tích về các tác nhân khiến cho quá trình phát triển
của xã hội mang tính liên tục. Về cơ bản, có thể xem xét các vấn đề lý thuyết liên
quan tới phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thời hiện đại với các nội dung
bao gồm:

22

• Phát triển kinh tế khác với phát triển xã hội
• Các yếu tố cần thiết cho phát triển xã hội
• Ba bước tiến của phát triển xã hội
• Phát triển tự nhiên và phát triển có kế hoạch
• Phát triển xã hội – một cái nhìn tổng quan.
1. Phát triển xã hội và phát triển kinh tế
Lý thuyết cơ bản về sự biến đổi xã hội là ý thức phát triển sẽ đưa đến một tổ
chức tốt hơn. Loài người tiến hóa là do ý thức, và ý thức sẽ được thực hiện bởi tổ
chức. Khi xã hội nhận ra những cơ hội mới và tốt hơn, nó sẽ hình thành những tổ
chức phù hợp để tận dụng và khai thác những cơ hội này.
Cần phân biệt rõ bốn thuật ngữ:“tồn tại”, “tăng trưởng”, “phát triển”, “tiến
hóa”. “Tồn tại”: liên quan đến sự hiện hữu của cuộc sống trong đó không có thay
đổi gì về tính chất của cuộc sống. “Tăng trưởng”: đề cập đến sự mở rộng theo
phương nằm ngang được mô tả bởi sự
lớn lên về số lượng ví dụ như một nông dân
tăng diện tích trồng trọt hay một thương nhân mở rộng thị trường bán lẻ. “Phát

ra một cách phù hợp.
2. Các yếu tố cần thiết cho phát triển xã hội
2.1. Sự phát triển của loài người
Đó là mộ
t tiến trình mà con người sử dụng tất cả những giác quan cũng như
óc phán đoán của mình để nhận biết thế giới vật chất và các động lực phát triển.
Động lực mạnh mẽ nhất để thúc đẩy tiến trình phát triển là năng lực và khát vọng
của mỗi con người. Do đó, hoạt động có ý thức của con người là tác nhân trực tiếp
của quá trình phát triển. Sự sáng tạo, nă
ng suất, tính hiệu quả cũng sự chứa đựng
một cách có tổ chức sẽ cho thấy mức độ thành công và khả năng thưởng thức của
họ. Phạm vi và cường độ phát triển sẽ phụ thuộc vào hiệu quả của giáo dục, sức
mạnh của khát vọng và năng lực, kỹ năng và thông tin. Tất cả những nhân tố trên
đều đóng một vai trò hết sức quan trọ
ng cho sự phát triển của một cá nhân, một gia
đình, một cộng đồng hay một quốc gia và thậm chí cả thế giới
2.2. Tiến trình và các nhân tố phát triển của xã hội
2.2.1. Từ phát triển một cách tự phát đến có ý thức
Khuynh hướng thông thường của phát triển là đi từ kinh nghiệm đến thực tế.
Điều này có nghĩa là con người cứ làm theo cha ông của mình mà không hề biết
đến những điều kiện cần thiết nào đã giúp họ thành công. Cách thức phát triển như
vậy được coi là phát triển một cách tự phát. Trải qua một quá trình lâu dài hơn, sự
nhận thức của con người về quá trình phát triển cũng trở nên rõ ràng và khi xã hội
phát triển đi lên, con người cũng hiểu rõ hơn về các nhân tố làm nên bước phát
triển đó. Khi một xã hội phát triển, tức là nó đã tích luỹ được kinh nghiệm của
24

những người tiên phong, đồng thời biết cách vận dụng tính chất của những kinh
nghiệm đó để thành công. Điều này có nghĩa là ý thức của con người về quá trình
phát triển trở nên rõ ràng và con người xác lập được các cách thực hoặc các phương

sáng kiến mới chưa từng có trong xã hội nên họ thường gặp phải sự kỳ thị, nhạo
báng thậm chí chống đối quyết liệt của cộng đồng. Mặc dù vậy, họ vẫn bất chấp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status