Nghiên cứu, đánh giá tai biến bồi tụ xói lở khu vực cửa tam quan, tỉnh bình định trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp thích ứng - Pdf 28


MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 4
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.1. Đới ven biển và tai biến bồi tụ - xói lở 4
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu về bồi tụ - xói lở 6
1.1.3. Tổng quan về biến đổi khí hậu 18
1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
1.2.1. Phương pháp pháp thu thập, tổng hợp số liệu, tài liệu 24
1.2.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 25
1.2.3. Phương pháp mô hình toán 26
1.2.4. Phương pháp phân tích tài liệu bản đồ và hệ thống thông tin GIS 28
Chương 2 – CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH BỒI TỤ - XÓI LỞ
KHU VỰC CỬA TAM QUAN 29
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 29
2.1.1. Vị trí địa lý 29
2.1.2. Địa hình, địa mạo 31
2.1.3. Địa chất. 34
2.1.4. Khí hậu 39
2.1.5. Các yếu tố hải văn 39
2.1.6. Hệ thống sông suối 42
2.2. KINH TẾ - XÃ HỘI 42
2.2.1. Dân cư và sinh kế 42
2.2.2. Khai thác khoáng sản 43
2.2.3. Môi trường 43
CHƯƠNG 3-ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG, NGUYÊN NHÂN BỒI TỤ - XÓI LỞ

Hình 1. 3. Khảo sát thực địa tại cửa Tam Quan, tỉnh Bình Định 26
Hình 1. 4. Phạm vi áp dụng các mô hình phân tích biến động đường bờ 27
Hình 2. 1. Khu vực nghiên cứu cửa Tam Quan, tỉnh Bình Định 30
Hình 2. 2. Hoạt động và neo đậu tàu thuyền trong cửa Tam Quan 30
Hình 2. 3. Mặt cắt địa hình đáy biển phía Bắc cửa Tam Quan 32
Hình 2. 4. Mặt cắt địa hình đáy biển mũi Kim Bông 33
Hình 2. 5. Mặt cắt địa hình đáy biển phía Nam kè Tam Quan 34
Hình 2. 6. Mặt cắt địa hình đáy biển phía Nam cửa Tam Quan 34
Hình 2. 7. Bờ phía Bắc cửa Tam Quan 35
Hình 2. 8. Bờ phía Nam cửa Tam Quan 36
Hình 2. 9. Đất canh tác nông nghiệp 37
Hình 2. 10. Sơ đồ địa chất khu vực nghiên cứu thu nhỏ từ 1:10.000 38
Hình 2. 11. Sóng cửa khu vực cửa Tam Quan 41
Hình 2. 12. Sinh kế trong vùng 43
Hình 2. 13. Bãi khai thác ilimenite tự phát phía Nam bờ Tam Quan 43
Hình 2. 14. Rác thải sinh hoạt cửa Tam Quan 44
Hình 3. 1. Quy trình xử lý thông tin hình và bản đồ 46
Hình 3. 2. Bản đồ biến động đường bờ Tam Quan 51
Hình 3. 3. Tốc độ bồi tụ - xói lở của bờ Bắc và Nam cửa Tam Quan giai đoạn 2010 - 2012 54
Hình 3. 4. Phân tích hàm chẵn lẻ giai đoạn từ năm 2012 đến 2014 56
Hình 3. 5. Mặt cắt và hình của hố khoan 1 61
Hình 3. 6. Mặt cắt và hình của hố khoan 2 62
Hình 3. 7. Bản đồ phân bố trầm tích tầng mặt khu vực cửa Tam Quan 64
ii
Hình 3. 8. Ảnh chụp khu vực cửa Tam Quan năm 2010 66
Hình 3. 9. Ảnh chụp khu vực cửa Tam Quan năm 2014 66
Hình 3. 10. Các nguồn trầm tích ảnh hưởng đến bồi lấp cửa Tam Quan 67 iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1.ĐVB: Đới ven biển
2.BĐKH: Biến đổi khí hậu
3.NBD: Nước biển dâng
4.IPCC: Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu
5.MNBTB: Mực nước biển trung bình
1
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài

tác động nghiêm trọng của tai biến bồi tụ - xói lở, gây ảnh hưởng tới đời sống của
người dân trong khu vực đòi hỏi các nhà khoa học cũng như chính quyền địa
phương cần có sự nghiên cứu và đưa ra giải pháp thích hợp nhằm khắc phục và
thích ứng với hiện tượng trên. Với những lý do nêu trên, học viên đã thực hiện luận
văn với tiêu đề “Nghiên cứu, đánh giá tai biến bồi tụ - xói lở khu vực cửa Tam Quan,
tỉnh Bình Định trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp thích ứng”.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung vào 3 vấn đề chính như sau:
-Nguyên nhân chính gây ra bồi tụ – xói lở khu vực cửa Tam Quan, tỉnh Bình
Định
-Tác động của yếu tố biến đổi khí hậu (dâng cao mực nước biển và bão) tới
bồi tụ - xói lở khu vực nghiên cứu
-Đưa ra giải pháp thích ứng với tai biến bồi tụ - xói lở khu vực nghiên cứu
trong bối cảnh BĐKH
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập, tổng hợp và phân tích các tài liệu, số liệu liên quan tới việc
nghiên cứu; đánh giá hiện trạng và nguyên nhân tai biến bồi tụ xói lở khu vực cửa
Tam Quan và phụ cận; phân tích ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
tới quá trình bồi tụ, xói lở khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp thích ứng cho khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp thu thập, kế thừa và tổng hợp đánh giá: các kết quả tính toán,
nghiên cứu, thiết kế đã được thực hiện liên quan tới khu vực nghiên cứu.
2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: tiến hành đi thực địa để trực tiếp
điều tra, khảo sát.
3. Phương pháp viễn thám GIS: So sánh, đánh giá sự biến động đường bờ biển
khu vực nghiên cứu theo thời gian và không gian, trực quan hình ảnh khu vực
nghiên cứu.
Hình 1. 1. Cấu trúc chung của đới ven biển [2]
Đới ven bờ là dải đất hẹp kéo dài ven biển được đặc trưng bởi sự thay đổi đột
ngột của địa hình bởi các cồn cát, đụn cát ven biển, được giới hạn bởi ranh giới của
đới ven bờ và ngấn sóng vỗ cao nhất. Về mặt động lực, đới ven bờ ít chịu động tác
động trực tiếp của gió, ngoại trừ khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới lớn.

5

Đới bãi biển được giới hạn từ mực nước biển thấp nhất cho đến ngấn sóng vỗ
cao nhất. Đới bãi biển được chia thành hai phụ đới: bãi triều cao và bãi triều thấp
tương ứng với thềm biển và đới sóng vỗ.
-Bãi triều cao (Backshore) là phần lục địa nằmg cao mực nước đỉnh triều có
thể ngập khi gặp sóng bão, triều cường.
-Bãi triều thấp (Inshore) là phần bãi trong dải sóng vỡ dưới đường chân triều,
vì vậy gọi là dải sóng vỡ, đây là phần bãi hoạt động nhất của bờ biển do chịu ảnh
hưởng trực tiếp tác động của sóng vỗ và biến động mạnh nhất do có chuyển động
bùn cát rất mạnh trong đới ven biển.
Đới gần bờ là khu vực mà sóng bắt đầu biến dạng do ảnh hưởng của địa hình
đáy và mực nước biển thấp nhất. Các quá trình lan truyền sóng, sóng vỗ, vận
chuyển bùn cát đều xảy ra trong đới này.
Đới sườn bờ ngầm tương ứng phần thềm lục địa hoặc sườn bờ ngầm của
biển, giới hạn bắt đầu khi sóng bị biến dạng (độ sâu 50m) cho đến vùng sóng vỗ.
Còn theo quan điểm địa chất thì đới sườn bờ ngầm còn là từ đường bờ biển ra tới độ
sâu 200m. Độ dốc của sườn bờ ngầm ảnh hưởng đáng kể đế sự xói lở hay tích tụ
của bờ biển. Quá trình động lực chủ yếu là lan truyền sóng. Từ góc độ diễn biến bờ
biển, có thể chia thành bờ biển bồi tích, bờ biển xâm thực và bờ biển cân bằng
chuẩn. Theo PGS.TS Vũ Uyển Dỉnh thì “ranh giới giữa lục địa và biển gọi là đường
bờ biển”. Đường bờ biển luôn bị thay đổi hình dạng do tác dụng của các hiện tượng
sóng vỗ, thủy triều, các dòng chảy có hướng và dọc theo bờ, cũng như tác động vật
lý, hóa học của nước, của vi sinh vật sống trong nước lên đất đá ven bờ. Đồng thời,

tố cơ bản chi phối gồm sóng, dòng chảy và thủy triều. Với bãi triều cát đặc trưng
cho bờ biển miền Trung Việt Nam chủ yếu được tạo nên do phá hủy bờ cát cổ [2].
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu về bồi tụ - xói lở
1.1.2.1. Tổng quan về nghiên cứu bồi tụ - xói lở vùng cửa sông, ven biển trên thế giới
Nghiên cứu biến đổi địa hình khu vực cửa sông nói chung, bồi tụ - xói lở nói
riêng từ lâu đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu trên thế giới. Liên
quan đến vấn đề nghiên cứu, các nghiên cứu có liên quan tập trung vào một số vấn
đề như sau:

7

 Quy luật tiến hóa tự nhiên địa hình-địa mạo khu vực cửa sông
Theo quan điểm của TS. Trịnh Việt An, khu vực ven biển và cửa sông giữ
vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, cho nên việc đầu tư thích đáng cho
những nghiên cứu về địa chất, thủy văn, địa chất công trình, thủy - thạch động lực
và tai biến thiên nhiên là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước như Trung Quốc,
Hàn Quốc, Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội
vùng ven biển. Đặc biệt nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tiến hành hàng loạt
nghiên cứu với sự đầu tư kinh phí lớn để nghiên cứu địa chất, địa chất công trình,
địa chất môi trường (địa chất tai biến) châu thổ các sông Trường Giang, Hoàng
Hà, phục vụ phát triển bền vững [1,7].
Mặt khác biến động vùng châu thổ đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế
giới đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về châu thổ từ những năm đầu thế
kỷ 20. Các công trình tiêu biểu như công trình nghiên cứu kinh điển về châu thổ
Mississippy của Barrell, 1912, 1914, Johnstons, 1921, 1922, Trowbridge, 1930,
Russell, 1936, Fisk, 1944 [3].
Theo Elliott 1986, dựa vào động lực sóng, thủy triều và dòng ven bờ đã phân
chia vùng ven bờ thành các kiểu bờ khác nhau. Năm 1986, Elliott trong công trình
“Đường bờ lục nguyên” đã phân tích chi tiết quá trình thành tạo và tiến hóa các đê
cát, giồng cát ven bờ (beach sand ridges) trong các đồng bằng cát ven bờ (chenier

kinh phí hoặc chỉ đáp ứng duy nhất mục tiêu vận tải thủy cũng như một số lý do
khác, cao độ đỉnh các kè mỏ hàn thường được thiết kế để chỉ đáp ứng với mực nước
kiệt, và thường bị ngập hoàn toàn trong mùa lũ, mùa mà các hoạt động bồi xói diễn
ra manh mẽ nhất và thường dẫn đến việc phá hoại đường bờ và bản thân công trình
(Lương Phương Hậu và cộng sự) [10]. Cấu trúc dòng chảy và vận chuyển bùn cát
của các công trình kè chìm có thể khác hẳn với trường hợp kè không ngập, vì vậy
trong nhiều trường hợp dẫn đến sự kém hiệu quả trong vận hành và gây ra các thiệt
hại về kinh tế.
1.1.2.2. Tổng quan nghiên cứu bồi tụ - xói lở ven biển Việt Nam
Với đặc trưng là quốc gia ven biển, đường bờ biển chạy dài trên 3.200 km.

9

Dải đất ven biển chạy dọc theo chiều dài đất nước, chiếm 1/6 diện tích, 1/5 dân số,
với trên 2000 đảo ven bờ và 2 quần đảo ngoài khơi, là căn cứ hậu cần, kinh tế, kỹ
thuật và an ninh quan trọng nhất cho công cuộc khai thác biển [6]. Bên cạnh đó, chỉ
thị 20-CT/TW của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam đã chỉ rõ “Phấn đấu trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược
xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”. Cửa sông, cửa biển là nơi giao thoa giữa sông và biển nên có đặc điểm hình
thái, địa hình- địa mạo, chế độ thủy động lực, bùn cát, diễn biến bồi xói rất phức tạp
và đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về cửa sông cũng như công trình chỉnh trị
cửa sông nhằm phục vụ các hoạt động dân sinh – kinh tế. Tuy nhiên, cho đến nay
việc nghiên cứu về cửa sông vẫn được xem là bài toán khó và thu hút được rất nhiều
sự quan tâm.
Mặt khác, theo kết quả nghiên cứu của Phân Viện Cơ học Biển (Viện Cơ học
Việt Nam – Đề tài KHCN-06-10, 2001), dải bờ biển Việt Nam được chia thành 9
vùng địa mạo động lực hình thái, bao gồm: Vùng I: vùng từ Móng Cái đến Đồ Sơn
gồm có: Phụ vùng 1 là bờ biển Danmat, với các đảo ven biển phân bố kéo dài song
song với đường bờ từ Móng Cái đến Cửa Ông; phụ vùng 2 là đoạn bờ phát triển trên

tố động lực biển trong quá trình ổn định bờ và đê biển (1995); Nguyễn Tiến Cảnh
và nnk đã nghiên cứu dòng chảy, ảnh hưởng của nước trồi tới sự phát triển của thực
vật phù du tại vùng biển miền trung và Nam Trung Bộ (1997); Ngô Ngọc Cát và
nnk đã đánh giá điều kiện Địa chất công trình phục vụ nghiên cứu sạt lở bờ biển
miền Trung (2001); Nguyễn Văn Cư và nnk đã nghiên cứu hiện trạng, bước đầu xác
định nguyên nhân lũ lụt các tỉnh vùng Nam Trung Bộ (từ Đà Nẵng đến Bình Thuận)
(1999); Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Đình Kỳ, Nguyễn Lập Dân đưa ra quan điểm tổng
hợp trong nghiên cứu hoang mạc hóa và lũ lụt Nam Trung Bộ Việt Nam (1998);
Nguyễn Lập Dân và nnk đã chỉ ra đặc điểm lũ lụt trong năm 1996 vùng Nam Trung
bộ (1997); Trương Đình Hùng đã nghiên cứu về lũ lụt miền Trung và đưa ra giải
pháp phòng tránh (1999)[12], Nguyễn Thanh Ngà và nnk nghiên cứu về hiện trạng
và nguyên nhân bồi xói dải bờ biển Việt Nam và đề xuất các biện pháp khoa học kỹ
thuật bảo vệ và khai thác vùng đất ven biển (1995); Phạm Huy Tiến, Nguyễn Văn
Cư và nnk đã nghiên cứu và đưa ra dự báo phòng chống sạt lở bờ biển miền Trung

11

(2001); Nguyễn Thế Tưởng dựa trên các yếu tố động lực khí tượng thủy văn biển
chính đã phân vùng dải ven bờ biển Việt Nam (1996); Nguyễn Thanh Giang năm
2001 đã dự báo, phân tích nguy cơ sạt lở bờ biển các vùng Phú Yên, Quảng Ngãi,
Thừa Thiên – Huế do nhân tố nội sinh gây ra; Vũ Thế Hùng và nnk với các nghiên
cứu về lũ lụt miền Trung được công bố vào năm 2000; Lê Xuân Hồng đã xác định
hiện trạng sạt lở bờ biển cửa sông miền Trung (2001).
Ngoài ra, một số nghiên cứu như: đánh giá mức độ tổn thương do lũ lụt mà
tập trung vào đánh giá sự mất mát trong nông nghiệp (FAO, 2004); đánh giá mức
độ tổn thương xã hội và khả năng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi
(Adger và nnk, 2000); dự án nghiên cứu “Giảm thiểu tổn thương do lũ lụt và bão ở
tỉnh Quảng Ngãi” và “Khả năng phục hồi của cộng đồng dân cư ở đồng bằng sông
Cửu Long do tai biến thiên nhiên” của chính phủ Úc thực hiện trong giai đoạn 2004
- 2009… Nghiên cứu về khả năng bị tổn thương xã hội ở một huyện ven biển miền

qua các công trình chỉnh trị. Các chuyên gia trong nước chủ yếu nghiên cứu áp dụng
các mô hình thương mại một và hai chiều để tính toán bồi lắng hồ chứa (Công ty
khảo sát Thiết kế điện 1, Viện Khí Tượng TV &MT), tính xói lan truyền sau đập
(Viện Nghiên cứu Thủy lợi, Công ty khảo sát Thiết kế Điện 1, Trường ĐH Thủy
Lợi, Trường ĐH KHTN, v.v.), tính xói sâu quanh trụ cầu (TEDI), v.v. Hai mô hình
một chiều được sử dụng thông dụng nhất là HEC-6 và MIKE 21. Một vài mô hình
hai chiều như TELEMAC, MIKE21C mới bước đầu được áp dụng thử nghiệm
(Viện Địa Lý, Viện Khoa học Thủy lợi). Mô hình MIKE 21 SW FM (phổ sóng lưới
linh động) đã được áp dụng thành công trong mô phỏng trường sóng khí hậu trên
biển Đông (Lê Mạnh Hùng và nnk, 2011), tính toán các đặc trưng thủy văn Bình
Thuận (Nguyễn Thanh Hùng, 2011). MIKE FLOOD đã được sử dụng mô phỏng lũ
trên sông Lại Giang tỉnh Bình Định (Trịnh Việt An và nnk, 2011) [2], sông Hương,
tỉnh Thừa Thiên-Huế (Lê Văn Nghị, 2009). Trong một công trình khác, Trịnh Việt
An và nnk (2011) cũng đã làm sáng tỏ Quy luật diễn biến và giải pháp công trình
chống bồi lấp, ổn định thoát lũ cửa sông Lại Giang - Bình Định. EFDC đã được áp
dụng đánh giá vận chuyển bùn cát sông Hồng đoạn Đan Phượng - Vạn Phúc
(Nguyễn Chí Thanh, 2009), sông Đà đoạn từ hồ Hòa Bình đến Việt Trì (Nguyễn
Văn Hoàng và nnk, 2008).

13

Các nghiên cứu phát triển về mô hình diễn biến 2 hoặc 3 chiều, chủ yếu còn
ở giai đoạn sơ khai. Viện nghiên cứu Thủy Lợi chủ yếu tập trung xây dựng mô hình
vật lý lòng cứng và lòng động. Nguyễn Kỳ Phùng và Nguyễn Thị Bảy (2001) sử
dụng một mô hình diễn biến lòng dẫn 2 chiều xây dựng trên hệ tọa độ cong với hàm
bùn cát tổng cộng của Van Rijn tính thử nghiệm cho một đoạn cong sông Lũy (là
đoạn không có công trình chỉnh trị). N.T. Giang và N. Izumi (2001) đã xây dựng
mô hình diễn biến lòng dẫn trên hệ tọa độ cong phi trực giao sử dụng phương trình
truyền tải khuếch tán cho bùn cát lơ lửng và phương trình Ikeda cho vận chuyển bùn
cát đáy. Mô hình này đang được phát triển để tính tới ảnh hưởng của các công trình

bồi lấp nghiêm trọng khiến tàu thuyền ra/vào rất khó khăn và nguy hiểm. Mặc dù
trong tháng 3-2005, địa phương đã huy động các chủ tàu thuyền đóng góp 100 triệu
đồng và huy động trên 2.000 công lao động trên địa bàn nạo vét luồng để tàu đánh
cá vào neo đậu, nhưng hiện cửa biển này đã bị bồi lấp nghiêm trọng. Tiếp theo,
công trình cảng và khu neo trú vừa được xây dựng và nghiệm thu vào tháng
12/2011 với kinh phí 90 tỷ đồng. Theo phản ánh của ngư dân, sau khi công trình
hoàn thành cát vẫn liên tục bồi lấp thậm chí xảy ra tình trạng nhấn chìm tàu của ngư
dân. Bởi vậy chỉ có 150 tàu cá <90 CV quay về bến còn hơn 300 tàu cá lớn phải neo
đậu ở nơi khác.
-Cửa biển Sa Huỳnh - huyện Đức Phổ cũng tương tự như các cửa sông trên,
đang tiếp tục bị cát biển bồi lấp dần, gây khó khăn cho hàng trăm tàu thuyền của
ngư dân xã Phổ Thạnh và các xã lân cận khi ra vào biển đánh cá, nhất là khi tàu vào
trú ẩn lúc trời mưa bão. Tình trạng này đã diễn ra từ hồi tháng 5/2006. Tháng
9/2009 công trình “Thông biển và xây dựng cảng cá” hoàn thành đưa vào sử dụng
với tổng số vốn đầu tư là 30 tỷ đồng, tuy nhiên sau một thời gian ngắn cửa Sa
Huỳnh lại bị bồi lấp nghiêm trọng hơn, khiến nhiều tàu cá bị chìm khi ra/vào cửa.
-Cửa sông Đà Rằng - Phú Yên thường xuyện bị bồi lấp khiến tàu đi không
được về không song: Sau tết năm Nhâm Thìn 2012 do cửa bồi lấp mà hàng trăm tàu
câu cá ngừ đại dương phải nằm bờ 1 thời gian dài, ngược lại những tàu “no” cá thì
không thể vào phải vào các cảng khác như: Vũng Rô, Sông Cầu (Phú Yên) Khánh
Hòa, hay Quy Nhơn tốn nhiều thời gian và chi phí. Hiện có hơn 200 tàu chuyên

15

hành nghề câu cá ngừ đại dương gặp khó khăn do thường xuyên ra, vào cửa biển Đà
Rằng. Trước đây, cửa biển Đà Rằng rộng hàng trăm mét, nhưng hiện nay, vào buổi
sáng, mực nước chỉ sâu 0,5m. Khi thuỷ triều lên cao nhất vào buổi chiều, mực nước
cũng chỉ tăng lên 1,5m; trong khi để tàu thuyền có thể ra vào an toàn, mực nước
phải có độ sâu từ 2,5m trở lên.
-Việc bồi lấp cửa Tùng và xói lở bải tắm “Nữ Hoàng” cũng đã là bức xúc

a) Đặc điểm địa hình: Dải ven biển miền Trung là vùng biển hở, trực tiếp với
biển. Địa hình bờ biển tương đối phức tạp do sự đâm ngang của các mỏm núi tạo ra
các vùng lồi lõm bên cạnh đó là sự xen kẹp của các đầm phá và các vùng vịnh, đã
tạo thêm cho sự phức tạp các chế độ động lực và vận chuyển cát ven bờ. Phần bên
trong, dải bờ biển cửa sông được nối tiếp với phần địa hình dốc dòng sông nhỏ hẹp
dốc mang ít bùn cát.
b) Thủy triều: Dọc theo dải bờ biển miền Trung thủy triều có những biến đổi
phức tạp cả về tính chất lẫn độ lớn: Vùng biển Thừa Thiên Huế nằm trong vùng bán
nhật triều không đều biên độ chiều thấp, trung bình 0.5 ÷ 0.6m. Càng vào sâu về
phía Nam biên độ thủy triều càng tăng lên cũng như đặc điểm cũng thay đổi: Tại
Quy Nhơn thủy triều mang tính nhật triều đều biên độ trung bình khoảng 1.5m.
c) Chế độ sóng: Có thể nói sóng là yếu tố động lực chính tại khu vực, hướng
sóng thịnh hành chủ yếu nằm trong góc phần tư thứ nhất và thứ hai, theo hai hướng
là Đông Bắc và Đông Nam. Dọc theo dải bờ biển từ Thừa Thiên Huế đến Bình
Thuận cùng với sự thay đổi hướng của địa hình bờ biển chiều cao sóng cũng có sự
thay đổi về sự phân bố cả hướng và độ lớn.
+ Tại vùng biển Thừa Thiên Huế chiều cao sóng trung bình là 0.3 ÷ 1.5m và 7 ÷
8m khi có bão. Hướng sóng thịnh hành chủ yếu là Đông Bắc, Đông và Đông Nam.
+ Tại vùng biển Quảng Ngãi – Quy Nhơn chiều cao sóng trung bình là 0.8 ÷
2.2m và 8m trong bão. Hướng sóng thịnh hành chủ yếu là Đông Bắc.
d) Dòng ven bờ: Dọc theo dải ven biển từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận
dòng ven bờ do sóng khá lớn vào thời kỳ gió Đông Bắc vận tốc dòng ven có thể đạt

17

0.2 ÷ .03m/s, vào mùa gió Đông Nam vận tốc dòng ven nhỏ hơn từ 0.06 ÷ 0.15m/s.
Khi xảy ra bão vận tốc dòng ven >1m có thể đến 1.3m/s.
e) Vận chuyển bùn cát: Bùn cát phân bố ở dải ven biển miền Trung chủ yếu
thuộc loại cát mịn, cát trung, ít hạt thô, độ mài tròn và chọn lọc tốt. Với các cửa
sông miền Trung, nhìn chung lượng bùn cát vận chuyển ra cửa sông là rất nhỏ so

Lĩnh vực này đã thu hút được rất nhiều các nghiên cứu khoa học, trong đó đáng lưu
ý nhất là các kết quả của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC). Theo
các dự báo của IPCC mực nước biển trung bình (MNBTB) được dự báo là sẽ dâng
cao khoảng 50-100cm trong 100 năm tới. Sự gia tăng mực nước biển do biến động
khí hậu toàn cầu sẽ gây ngập lụt ở vùng đất thấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến một
số lượng lớn dân cư. Ngoài ra, dâng cao mực nước biển dẫn đến gia tăng xói lở bờ
biển sẽ có ảnh hưởng xấu nghiêm trọng đến sản lượng nông nghiệp.
Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở
các vĩ độ cực Bắc. Trong 100 năm qua (1906-2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã
tăng khoảng 0,74
0
C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so
với 50 năm trước đó.
Theo báo cáo gần đây của WMO, 2010 là năm nóng nhất trong lịch sử, với
mức độ tương tự như các năm 1998 và 2005. Ngoài ra, trong 10 năm tính từ năm
2001, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã cao hơn nửa độ so với giai đoạn 1961 – 1990,
mức cao nhất từng được ghi nhận đối với bất kỳ một giai đoạn 10 năm nào kể từ khi
bắt đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị đo đạc (Michel Jarraud, 2011).
Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 30
0
B
thời kỳ 1901-2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, kể từ giữa những năm 1970. Ở
khu vực nhiệt đới, mưa giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế là 7,5% cho
cả thời kỳ 1901-2005. Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, lượng mưa tăng lên rõ
rệt ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á. Tần số mưa

19

lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa có xu thế giảm đi
(IPCC, 2007).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status