Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp giải pháp quản lý chất thải rắn công nghiệp tại khu công nghiệp thụy vân, thành phố việt trì, tỉnh phú thọ - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN SƠN TÙNG ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
THỤY VÂN, THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ.
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60.44.03.01 NGƯỜI THỰC HIỆN: TRẦN SƠN TÙNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THANH LÂM
HÀ NỘI – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thanh
Lâm, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi rất tận tình, chu đáo trong suốt quá
trình nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo Khoa Môi trường,
Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã dành nhiều tâm huyết để truyền đạt
những kiến thức quí báu về chuyên ngành khoa học môi trường cho chúng
tôi.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, chuyên viên Phòng Tài
nguyên và môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường thuộc Sở TNMT tỉnh Phú
Thọ; BQL Khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ, cán bộ công ty Cổ phần Đầu tư và
phát triển hạ tầng KCN Phú Thọ chủ đầu tư KCN Thụy Vân đã tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin và tài liệu liên
quan để xây dựng luận văn.
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những
người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện
tại Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam.
Phú Thọ, ngày 07 tháng 08 năm 2013
Tác giả luận văn

Trần Sơn Tùng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

Page iv

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp 30
2.3.2 Khảo sát thực địa 31
2.3.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn 31
2.3.4 Phương pháp chọn điểm, tần suất lấy mẫu, quan sát. 32
2.3.5 Phương pháp xử lý thống kê 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Khái quát về khu công nghiệp Thụy Vân 33
3.1.1 Cơ cấu tổ chức của khu công nghiệpThụy Vân 34
3.1.2 Cơ cấu sử dụng đất KCN Thụy Vân 34
3.1.4 Quy mô khu công nghiệp Thụy Vân 36
3.1.5 Cơ cấu ngành nghề sản xuất tại KCN Thụy Vân 37
3.2 Hiện trạng chất thải rắn công nghiệp tại khu công nghiệp Thụy Vân 40
3.2.1 Hiện trạng chất thải rắn 40
3.2.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn công nghiệp KCN Thụy Vân 47
3.2.3 Đánh giá hiệu quả quản lý chất thải rắn công nghiệp của KCN 54
3.3 Đề xuất mô hình hệ thống quản lý chất thải rắn công nghiệp hiệu
quả hơn cho KCN Thụy Vân 62
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 72

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang

1.1 Lượng phát sinh chất thải công nghiệp nguy hại 22
3.2 Cơ cấu sử dụng đất 35
3.3 Danh sách các công ty đầu tư trong KCN Thụy Vân 37
3.4 Cơ cấu ngành nghề sản xuất KCN Thụy Vân 38
3.5 Hiện trạng chất thải rắn tại các doanh nghiệp trong KCN Thụy Vân 41
3.6 Thành phần các chất trong chất thải rắn công nghiệp 44
3.7 Biến động lượng CTR công nghiệp Quý II và Quý III 46
3.8 Khối lượng rác thải xử lý đươc trong năm 2013 56
3.9 Ý kiến nhận xét của cán bộ và người dân về các tác động mà
KCN gây ra 57
3.10 Ý kiến nhận xét của cán bộ và người dân xung quanh công ty 60
3.11 Tổng hợp ý kiến của cán bộ và người dân 62

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC HÌNH

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tính đến tháng 12 năm 2011 trên cả nước có 283 KCN với tổng diện
tích đất tự nhiên 81.000 ha, trong đó, 191 KCN đã đi vào hoạt động với tổng
diện tích đất tự nhiên 54.060 ha và 98 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải
phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 27.008
ha.Trong năm 2011 đã đưa thêm 06 KCN đi vào hoạt động. Đối với KKT,
trong năm 2011, số lượng và diện tích các KKT ven biển được giữ ổn định ở
mức 15 KKT với tổng diện tích (mặt đất và mặt nước) là hơn 697.800 ha.
Các KCN đã có nhiều đóng góp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu
và phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống
người dân. Riêng năm 2008, các KCN đã tạo giá trị sản xuất công nghiệp đạt
hơn 33 tỷ USD (chiếm 38% GDP cả nước); giá trị xuất khẩu đạt trên 16 tỷ
USD (chiếm gần 26% tổng giá trị xuất khẩu cả nước); nộp ngân sách khoảng
2,6 tỷ USD, tạo công ăn việc làm cho gần 1,2 triệu lao động.
Phát triển các KCN với mục tiêu tập trung các cơ sở sản xuất công
nghiệp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng, tập trung các nguồn phát
thải ô nhiễm vào các khu vực nhất định, nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả
quản lý nguồn thải và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, quá trình phát triển KCN
đã bộc lộ một số khiếm khuyết trong việc xử lý chất thải và đảm bảo chất
lượng môi trường. Trong thời gian tới, việc phát triển các KCN sẽ làm gia
tăng lượng thải và các chất gây ô nhiễm môi trường.
Khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, được
thành lập từ năm 1997 tại xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì là một trong
những khu công nghiệp lớn của các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung cũng
như của tỉnh Phú Thọ nói riêng Với tổng số lao động lên tới 19000 công nhân,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

52 dự án đã được cấp phép đầu tư trong đó có 28 doanh nghiệp 100% vốn

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Các hình thức tồn tại và phát sinh của các Khu công nghiệp trên thế
giới và ở Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới
Khu công nghiệp là một khái niệm chung bao gồm nhiều hình thức từ
các hình thức truyền thống như: khu mậu dịch tự do, cảng tự do… xuất hiện từ
thế kỷ XIX đến các hình thức mới xuất hiện cuối thế kỷ XX như khu công nghệ
cao, khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu văn phòng, khu thương
mại Trên thế giới, sự tồn tại của khu công nghiệp đã trải qua nhiều bước
phát triển, có thế kể ra bốn thế hệ của khu công nghiệp; gọi chung là Business
Park (Nguyễn Cao Lãnh, 2009).
Thế hệ đầu tiên của khu công nghiệp, được xây dựng vào những năm
1970, có thể được phân biệt với các thế hệ khác bởi cách sắp xếp văn phòng,
kho tàng, kiến trúc khá đơn giản. Các khu vực của các tòa nhà hành chính chiếm
10 - 15% tổng diện tích của công viên, công trình theo mẫu và cho thuê (
Geneva,1993). Mặc dù hoàn hảo trong ý tưởng nhưng nhìn chung, tiêu chuẩn về
quy hoạch và kiến trúc là thấp. Với chức năng cơ bản là công nghiệp và tỷ lệ các
bộ phận chức năng, đặc biệt là cây xanh chưa hợp lý; KCN thế hệ thứ nhất luôn
biệt lập vào ban ngày, vắng vẻ vào ban đêm và khó có thể đạt được một chất
lượng môi trường, dịch vụ và hạ tầng cao (Nguyễn Cao Lãnh, 2009).
Trong giai đoạn từ năm 1975 và 1985, các khu công nghiệp văn phòng,
đã được sử dụng bởi các công ty kinh doanh với khoa học, công nghệ và kinh
doanh chiếm không gian lớn hơn nhiều. Đặc điểm khu công nghiệp thế hệ thứ
hai này là một kiến trúc phức tạp hơn (Nguyễn Văn Tuấn). Các KCN thế hệ thứ
hai có xu hướng lấp đầy các khoảng trống còn lại ở vành đai đô thị, nhằm khôi
phục và tiếp thêm sức sống cho các khu vực ngoại ô và nhằm xoá bỏ ấn tượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4



sớm hơn trong nửa cuối của năm 1980 và cơ bản là một sáng kiến của nhà đầu tư
tự do. Có 22 khu công nghiệp và đầu tư xuất hiện ở Tây Đức vào năm 1984. Bên
cạnh đó, các khu tư nhân được thành lập. Có sự xuất hiện ở khu vực đông dân
cư, diện tích khá nhỏ và tập trung vào các lĩnh vực thị trường khác nhau. Khu
vực với nhiều loại hình khác nhau có thế kể đến khu Dussseldorf (23 dự án hoàn
thành vào năm 1992) và Frankfurt am Mein (19 dự án hoàn thành vào năm
1992), vẫn còn tồn tại và phát triển đến ngày nay (Geneva, 1993).
Năm 1995, Liên Hiệp Quốc đã thống kê thế giới có khoảng 12.000 KCN
với diện tích nhỏ nhất là 1ha, lớn nhất đến 10.000ha (Nguyễn Mộng, 2010).
Theo chương trình môi trường Liên Hợp Quốc có thể phân các khu công
nghiệp trên thế giới thành các loại hình sau đây: Khu công nghiệp tập trung;
khu chế xuất; khu tự do; khu chế biến công nghiệp; trung tâm công nghệ cao;
khu công nghệ sinh học; khu công nghệ sinh thái.
Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết tất cả các quốc gia, đặc
biệt là các nước đang phát triển, để phục vụ các hoạt động công nghiệp hơn là
nghiên cứu hay theo hướng thương mại
.
1.1.2. Tại Việt Nam
Từ ngày 24/9/1991 khu ủy ban hợp tác và đầu tư (nay là Bộ Kế Hoạch
và Đầu Tư) được Chính phủ ủy nhiệm cấp giấy phép số 245 thành lập khu chế
xuất đầu tiên với quy mô 300ha đất tại xã Tân Thuận Đông, huyện Nhà Bè,
thành phố Hồ Chí Minh, đến hết tháng 12/2001 trên địa bàn cả nước đã có 69
dự án khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành phát triển hoặc được
Chính phủ cấp phép thành lập đang trong quá trình triển khai, giải phóng mặt
bằng, xây dựng hạ tầng. Trong đó có 65 khu công nghiệp tập trung, 3 khu chế
xuất, một khu công nghệ cao với tổng diện tích lên tới hơn 10.500 ha bình
quân mỗi khu công nghiệp 160 ha. Các khu công nghiệp được hình thành tại
27 tỉnh thành trong đó các tỉnh miền Bắc có 15 KCN, miền Trung có 13 KCN,
miền Nam có một khu công nghiệp (Bộ Xây Dựng, 2009).

góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 12/2011 cả nước đã có 283
KCN, KCX được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên hơn 81.000ha,
trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000ha, chiếm
61% tổng diện tích đất tự nhiên, 15 khu kinh tế ven biển trải đều trên 58 tỉnh,
thành phố. Các KCN, KCX được phân bố trên cơ sở phát huy lợi thế địa kinh
tế, tiềm năng của các địa phương và của các vùng kinh tế trọng điểm (Mai
Thanh Dung, 2011).
Theo Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính
phủ, đến năm 2015, dự kiến thành lập mới 115 KCN và mở rộng 27 KCN với
tổng diện tích gần 32.000 ha. Sau một thời gian thực hiện Quyết định nêu
trên, một số KCN đã được thành lập và một số KCN đã được bổ sung vào quy
hoạch phát triển các KCN đến năm 2020. Tính chung từ nay đến năm 2020,
số KCN quy hoạch thành lập sẽ là 249 KCN với tổng diện tích 81.100 ha (Báo
cáo môi trường quốc gia 2009).
1
12
65
131
139
223
179
283
11964
2360
300
26986

hội và môi trường
1.2.2.1. Khu công nghiệp trong phát triển kinh tế và giải quyết lao động việc
làm
Qua hơn 20 năm phát triển, đến nay cả nước đã có 283 KCN được thành
lập. Các KCN đóng góp quan trọng vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnh thì
mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa phát triển.
Khu công nghiệp ra đời đã tạo nên mảnh đất thuận lợi cho các doanh
nghiệp công nghiệp trong và ngoài nước có điều kiện đầu tư phát triển sản
xuất. Hiện nay đã có hơn 3.078 dự án đang sản xuất kinh doanh và 450 dự án
đang trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản. Về tình hình đầu tư trong nước các
KCN cả nước đã thu hút được 4.456 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký gần
360.000 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 176.000 tỷ đồng, xấp xỉ 50%
tổng vốn đăng ký. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, thì các khu, cụm
công nghiệp đều đã đẩy nhanh tiến trình Công nghiệp hóa đất nước. Mặt khác,
sự ra đời của Khu công nghiệp còn tác động mạnh mẽ tới việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ
trọng công nghiệp (Mai Thanh Dung, 2011).
KCN đã góp phần quan trọng giải quyết việc làm, là nơi thu hút không ít
lao động địa phương. Tính bình quân 1ha đất nông nghiệp đã cho thuê thu hút
trên 70 lao động trực tiếp (trong khi 1ha đất nông nghiệp chỉ thu hút được từ
10 - 12 lao động). Đến thời điểm 31/12/2008, các khu công nghiệp đã thu hút
trên 1,17 triệu lao động trực tiếp Chất lượng, trình độ đội ngũ lao động cũng
tăng lên. Thống kê cho thấy, phần lớn lao động làm việc trong các KCN là lao
động trẻ, có khả năng nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật, công nghệ mới, hiện đại,
phương thức tổ chức và quản lý sản xuất tiên tiến. Các khu công nghiệp phát
triển, kéo theo tốc độ đô thị hóa cũng diễn ra khá nhanh, với cơ sở hạ tầng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9


Page 10

Việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động tới đời sống của các hộ dân vì
họ không được chuyển đổi cơ cấu ngành nghề hợp lý, thiếu phương tiện lao
động và kế sinh nhai truyền thống, trong đó có nhiều hộ rơi vào tình trạng
bần cùng hóa. Theo Nguyễn Lân Dũng, vùng đồng bằng sông Hồng có số hộ
bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300.000 hộ; Đông Nam Bộ:
khoảng 108.000 hộ (Nguyễn Lân Dũng, 2009).
* Điều kiện lao động và đời sống vật chất của người lao động còn khó khăn
Nhiều doanh nghiệp trong KCN chưa tuân thủ nghiêm túc các quy định
của pháp luật về lao động, không đảm bảo quyền lợi của người lao động. Điển
hình như vi phạm thời gian ký kết hợp đồng, vi phạm về thẩm quyền và nội
dung hợp đồng. Việc kỷ luật, sa thải người lao động còn tùy tiện không tuân
theo quy định của Nhà nước. Công tác an toàn vệ sinh môi trường và phòng
tránh cháy nổ trong doanh nghiệp còn chưa được quan tâm đúng mức. Việc
phải làm chế độ tăng ca, tăng giờ đã làm cho người lao động có ít thời gian
nghỉ ngơi phục hồi sức khoẻ, kiệt sức và dễ mắc tai nạn lao động (Báo cáo
môi trường quốc gia 2009).
Chế độ bảo hiểm xã hội và chính sách tiền lương còn nhiều vi phạm.
Qua khảo sát, TPHCM hiện có 16 KCX-KCN với 1.062 doanh nghiệp (DN)
đang hoạt động đã có đã có 731 DN đăng ký thang, bảng lương, song tỉ lệ DN
áp dụng tiền lương tối thiểu cao hơn luật định chỉ chiếm 32,3% (Lê Thành
Quân, 2011). Trong chính sách đào tạo người lao động có hạn chế ở chỗ hiện
chưa có các cơ chế mang tính “bắt buộc” đối với doanh nghiệp để yêu cầu họ
phải tham gia và đóng góp vào quá trình đào tạo người lao động; mức chi phí
cho học nghề ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp vẫn còn cao; nội dung đào tạo
chưa phù hợp với nhu cầu về kỹ năng lao động của doanh nghiệp.
Báo cáo tổng kết 15 năm xây dựng và phát triển KCN và KCX ở Việt
Nam (Bộ KH&ĐT, 2006) cho thấy, đến 70% lao động trong các KCN là lao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

khoảng 30.000 tấn; trong đó, lượng rác thải công nghiệp chiếm khoảng 20%,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

phần lớn tập trung tại các KCN, KCX ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và
phía Nam (chiếm khoảng 50%) (Phương Nhung, 2010).
Thành phần, khối lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi KCN tùy thuộc
vào loại hình công nghiệp đầu tư, quy mô đầu tư và công suất của các cơ sở
công nghiệp trong KCN. Qua khảo sát một số KCN cho thấy, trong thành
phần chất thải rắn của các KCN, tỷ lệ chất thải nguy hại chiếm dưới 20% nếu
được phân loại tốt, trong đó tỷ lệ các chất có thể tái chế cao. Tại địa bàn tỉnh
Phú Thọ, lượng chất thải công nghiệp trên điạ bàn tỉnh phát sinh ước tính
khoảng 350 tấn/ngày, trong đó chất thải nguy hại khoảng 38 tấn/ngày (chiếm
8.45%). Hầu hết các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đều không xây
dựng khu vực tập kết, trung chuyển chất thải rắn tập trung (
Báo cáo về hiện
trạng môi trường tỉnh Phú Thọ 2012-2013).

Nhiều doanh nghiệp có chức năng thu gom và xử lý chất thải nguy hại đã
triển khai các hoạt động tái chế thu lại tài nguyên có giá trị sử dụng nhưng do
công nghệ chưa hoàn chỉnh, phù hợp nên hiệu quả thu hồi, tái chế kém gây ra
những ô nhiễm thứ cấp đặc biệt là đối với dầu và dung môi. Nghiêm trọng
hơn một số doanh nghiệp không thực hiện xử lý chất thải nguy hại mà sau khi
thu gom lại đổ lẫn vào cùng chất thải thông thường hoặc đổ xả ra môi trường.
Bên cạnh đó, có một thực tế trong việc quản lý chất thải rắn là trong một số
trường hợp, chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất có tỷ lệ chất thải
nguy hại thấp (nước thải lẫn dầu mỡ, giẻ lau nhiễm dầu, bóng đèn huỳnh
quang, pin, ắc quy ) nên nhiều nhà máy thường để lẫn với chất thải sinh
hoạt, nếu có phân loại thì với khối lượng nhỏ không đủ để hợp đồng với đơn
vị có chức năng xử lý chất thải nguy hại (

do tiếp nhận nước thải sinh hoạt, những khu vực chịu tác động của nước thải
KCN có chất lượng nước sông bị suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu cao hơn quy
định nhiều lần (
Báo cáo môi trường quốc gia 2009).

Tại Phú Thọ, trung bình mỗi ngày các KCN thải ra khoảng 10.000
m
3
/ngày đêm chiếm 5% tổng lượng nước thải các KCN vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ. Nước thải tại các nhà máy chỉ được xử lý sơ bộ rồi thải vào hệ
thống thoát nước thải của các khu công nghiệp sau đó được xử lý tại hệ thống
xử lý nước thải tập trung của KCN đảm bảo đạt Quy chuẩn trước khi xả ra
môi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

* Môi trường không khí
Tại không ít khu công nghiệp, hệ thống lọc khí, bụi và hạn chế tiếng ồn
tại các cơ sở sản xuất còn nhiều hạn chế, mang tính hình thức. Khí thải không
thể xử lý tập trung như nước thải cần phải được xử lý ngay tại nguồn. Khí thải
do các cơ sở sản xuất thải ra chứa nhiều chất độc hại đều được xả trực tiếp
vào môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân quanh khu công nghiệp
cũng như lao động trong KCN. Kết quả quan trắc nồng độ SO
2
, CO, NO
2
gần
hoặc trong các KCN đang có chiều hướng gia tăng cục bộ. Nồng độ bụi tại
ven các trục giao thông chính đều đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2-6 lần.
Trong KCN nồng độ bụi và khí độc hại (điển hình là các khí SO

3
trong năm 2009
- Ô nhiễm các khí khác: các khí này phát sinh do đặc thù của loại hình
sản xuất như hơi axit, hơi kiềm, NH
3
, H
2
S, VOC, Nhìn chung các khí này
vẫn nằm trong ngưỡng cho phép tuy nhiên cũng vẫn phải lưu ý đến việc kiểm
soát các hơi khí độc trong KCN.
Cùng với sự ô nhiễm nước, không khí là sự ô nhiễm nguồn nước sinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

hoạt, suy thoái đất đai, do những chất độc từ khu công nghiệp.
Như vậy, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô
nhiễm môi trường do chất thải, nước thải và khí thải công nghiệp, nếu không
được giải quyết tốt sẽ gây ra thảm họa về môi trường và biến đổi khí hậu, tác
động nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe cộng đồng hiện tại và tương lai,
phá hỏng những thành tựu công nghiệp nói riêng và triển kinh tế, tiến bộ xã
hội nói chung ở Việt Nam.
1.3. Nguồn gốc phát sinh và đặc điểm chất thải rắn công nghiệp
1.3.1. Nguồn gốc phát sinh
Sự hình thành chất thải rắn là quy luật tất yếu của sản xuất. Chất thải rắn
có thể sinh ra trong bất cứ giai đoạn nào của qua trình sản xuất và tiêu thụ hàng
hóa. Nguyên nhân cụ thể của sự gia tăng chất thải rắn rất đa dạng. Trong đó, có
những nguyên nhân có thể được khắc phục một cách dễ dàng và nhanh chóng,
nhưng cũng có nhiều nguyên nhân để khắc phục cần có thời gian và chi phí lớn.
Sự phân loại chất thải rắn có thể theo ngành sản xuất như chất thải
ngành hóa chất, luyện kim, nhiên liệu…, hoặc theo nhóm sản xuất cụ thể

- Cơ sở sàn xuất có trách nhiệm, có nhân viên thu gom tại nhà máy;
- Có dụng cụ chứa chuyên dùng được nhà máy đầu tư;
- Chi phí cho xử lý và quản lý chất thải được hạch toán và nằm trong
giá thành của sản phẩm;
- Đã có luật môi trường, quy chế về quản lý chất thải nguy hại.
Tuy nhiên, chất thải rắn công nghiệp có đặc điểm là có tính độc hại cao
hơn rác sinh hoạt. Do đó, chúng cần được kiểm soát chặt chẽ theo quy định.
1.4. Tổng quan về thực trạng quản lý chất thải rắn
1.4.1. Quản lý chất thải rắn trên thế giới
Nhật và Singapo là những nước có kỹ thuật và trình độ quản lý tiên tiến
nhất trên thế giới. Vì vậy, hệ thống quản lý chất thải của họ được coi là khoa học
và đạt hiệu quả cao.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17

1.4.1.1. Quản lý chất thải ở nước Nhật
Hình 1.2. Quản lý chất thải nước nhật
Nhìn vào hình 1.2 có thể thấy cơ quan đứng đầu trong công tác quản lý
chất thải của nước Nhật là Bộ Môi trường. Bộ Môi trường có rất nhiều phòng
ban, trong đó có Sở Quản lý Chất thải và Tái chế có nhiệm vụ quản lý sự phát
sinh chất thải, đẩy mạnh việc tái sử dụng tái chế và sử dụng những nguồn tài
nguyên có thể tái tạo một cách thích hợp với quan điểm là bảo tồn môi trường
sống và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tiếp
theo là Sở Quản lý Chất thải và Tái chế có nhiệm vụ phân công, hướng dẫn
chiến lược bảo vệ môi trường của quốc gia. Dưới sự chỉ đạo của sở là Phòng
Hoạch định chính sách có nhiệm vụ là thực hiện các chính sách và chiến lược
quản lý, đơn vị quản lý chất thải là cơ quan trực tiếp điều hành việc quản lý
chất thải, phòng quản lý chất thải công nghiệp có nhiệm vụ thực hiện và quản
lý việc xử lý chất thải tại các KCN trong cả nước. Theo sơ đồ này, Nhật là
một nước có công tác quản lý chất thải rất tốt (Lê Văn Khoa, 2004).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status