Điều tra hiện trạng và đề xuất cải thiện quy trình quản lý chất thải rắn đô thị tại thành phố quy nhơn - Pdf 13

Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
CHƯƠNG 1 : MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhờ những thay đổi có tính chiến lược trong đường lối xây dựng kinh tế - xã hội
của Đảng và Chính phủ ta, Thành phố Quy Nhơn đang bước vào một thời kỳ đổi mới
toàn diện, trong đó các hoạt động đang chuyển từ tình trạng chậm phát triển sang một
nhịp điệu mới sinh động và bước đầu đã đạt được nhiều hiệu quả kinh tế đáng khích lệ.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là quá trình cải tạo, nâng cấp đô thị hiện có, mở
rộng các khu đô thị mới, quy hoạch và xây dựng các khu công nghiệp tập trung.
Hiện nay, cùng với sự gia tăng phát triển kinh tế, công tác thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải rắn đô thị đang là vấn đề nan giải đối với nhiều địa phương trong cả nước.
Với khối lượng rác phát sinh lớn nhưng tỷ lệ thu gom còn hạn chế, chất thải rắn sinh ra
chưa được thu gom và xử lý triệt để. Thành phố Quy Nhơn cũng không nằm ngoài thực
trạng này. Với quy mô dân số đã tăng đến trên 254.400 người trên diện tích thành phố từ
216 km
2
, trong đó diện tích đô thị là 145 km
2
. Mỗi ngày thành phố Quy Nhơn thải ra một
lượng rác thải khổng lồ khoảng 230 tấn rác (lượng rác thu gom được khoảng 170 - 180
tấn bởi Công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn, còn hơn 50 tấn thải ra môi trường
mỗi ngày).
Cũng như các thành phố khác trong cả nước, quy mô đô thị của thành phố Quy
Nhơn đang được mở rộng nhanh chóng, dân số đô thị ngày càng gia tăng. Lựơng rác đổ
về các bãi chôn lấp ngày càng gia tăng, nếu không được xử lý thì môi trường sẽ ngày
càng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Trước tình trạng bãi chôn lấp rác ở Núi Bà Hỏa đóng cửa
cùng với lượng rác thải ra hàng ngày như hiện nay thì bãi chôn lấp rác Long Mỹ cũng có
thể sẽ sớm bị đóng cửa. Việc chôn lấp chất thải rắn là một biện pháp xử lý đơn giản nhất,
tuy nhiên hiện nay đã cho thấy nhiều bất cập từ việc chôn lấp chất thải như ô nhiễm môi
trường không khí, nước ngầm, đất và tốn quỹ đất lớn để làm bãi chôn lấp… Bên cạnh đó,
vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải rắn đô thị gây ra bởi ý thức thực hiện việc bảo vệ

- Khảo sát, xem xét và đánh giá hiện trạng quy trình quản lý chất thải rắn tại Thành
phố Quy Nhơn,
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 2
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
- Đề xuất cải thiện quy trình quản lý chất thải rắn đô thị phù hợp hơn cho Thành phố
Quy Nhơn.
1.2.3. Giới hạn đề tài
 Giới hạn về nội dung
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu với đối tượng chất thải rắn đô thị của Thành phố Quy
Nhơn.
 Giới hạn về không gian
Phạm vi không gian của đề tài là một số phường tiêu biểu trong Thành phố Quy Nhơn.
Thêm vào đó, Công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn sẽ được nghiên cứu về hiện
trạng công tác quản lý chất thải rắn để từ đó đề xuất xây dựng chương trình quản lý hợp
lý hơn, nhằm góp phần giải quyết được những tồn tại của công tác quản lý chất thải hiện
nay của Thành phố.
1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1 Phương pháp luận
Cùng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì quá trình đô thị hóa cùng với
mức sống của người dân ngày càng được nâng lên một cách rõ rệt. Tốc độ phát triển kinh
tế ngày càng cao của xã hội, dân số ngày càng gia tăng dẫn đến lượng chất thải con người
thải ra ngày càng nhiều. Thế nhưng hệ thống quản lý chất thải rắn tại đây cũng như công
nghệ xử lý chưa được phù hợp gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường và cuộc sống
của con người. Vì vậy, việc điều tra hiện trạng và đề xuất cải thiện quy trình quản lý chất
thải rắn đô thị tại Tp. Quy Nhơn một cách phù hợp hơn cho tương lai là một vấn đề cần
thiết và cấp bách trước thực tế hiện nay. Việc phát sinh chất thải trong cuộc sống và
những hoạt động phát triển khác của xã hội là một điều không thể tránh khỏi.
Để thực hiện được điều này, trước hết chúng ta phải điều tra, xem xét và phân tích
tình hình phát sinh, thu gom, vận chuyển và quản lý chất thải rắn đô thị tại đây được thực
hiện như thế nào. Qua đó đánh giá hiện trạng trên và đưa ra được những đề xuất cải thiện

tổng hợp các dữ liệu đã có, đề xuất cải thiện quy trình quản lý chất thải rắn đô thị phù
hợp hơn.
1.3.2.5. Phương pháp chuyên gia:
Tham khảo, lấy ý kiến các chuyên gia tại địa phương và sự góp ý của thầy hướng dẫn ở
Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường.
1.3.3. Đối tượng nghiên cứu
- Người dân trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn thuộc các phường nghiên cứu.
- Hệ thống thu gom vận chuyển trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn (thuộc công ty TNHH
môi trường đô thị Quy Nhơn).
1.3.4. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu là Thành phố Quy Nhơn, cụ thể là các hộ gia đình, các bệnh
viện, trung Tâm y tế, các cơ sở sản xuất, các nhà máy xí nghiệp, thuộc các phường nội
thành: Trần Phú, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Ngô Mây, Hải Cảng, Nguyễn Văn Cừ và hai
phường ngoại thành: Đống Đa, Trần Quang Điệu (vì giới hạn thời gian nên không thể tìm
hiểu trên toàn địa bàn Thành phố).
Lý do chọn các phường trên là vì các phường này có mật độ dân số tập trung đông
đúc và là nơi hội tụ gần như đầy đủ các yếu tốmà mình quan tâm.
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 5
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ
2.1. Khái niệm
2.1.1. Khái niệm chất thải:
Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất
công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình,
trường học, các khu dân cư, nhà hàng khách sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông
vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy… chất thải là
kim loại, hóa chất từ các loại vật liệu khác.
2.1.2. Khái niệm chất thải rắn:
Theo quan niệm chung:
Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh

thép, bêtông, gạch, thạch cao.
CTR bệnh viện: gồm rác sinh hoạt và rác y tế phát sinh từ các hoạt động khám bệnh,
điều trị bệnh và nuôi bệnh trong các bệnh viện và cơ sở y tế. Các loại chất thải gồm kim
tiêm, chai lọ chứa thuốc, các loại thuốc quá hạng sử dụng… có khả năng lây nhiễm và
độc hại đối với sức khỏe cộng đồng nên phải được phân loại và tổ chức thu gom, vận
chuyển, xử lý riêng.
CTR công nghiệp: phát sinh từ các hoạt động sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy sản
xuất công nghiệp. Thành phần của chúng gồm vật liệu phế thải không độc hại và các chất
thải độc hại. Phần rác thải không độc hại có thể đổ bỏ chung với rác thải hộ dân. Đối với
phần rác thải công nghiệp độc hại phải được quản lý và xử lý riêng.
2.3. Tác hại của chất thải rắn
2.3.1. Gây hại sức khỏe
Rác sinh hoạt có thành phần chất hữu cơ cao, là môi trường sống tốt cho các sinh vật gây
bệnh như ruồi, muỗi, gián, chó, mèo… Qua các trung gian truyền nhiễm, bệnh có thể
phát triển thành dịch. Người ta đã tổng kết rác thải gây ra 22 loại bệnh cho con người,
đặc biệt là bệnh ung thư do rác plastic và khi đốt plastic ở 1.200
o
C tạo chất dioxin gây
quái thai ở người.
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 7
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
2.3.2. Chất thải rắn làm ô nhiễm nguồn nước
Các chất thải rắn, nếu là chất thải hữu cơ trong môi trường nước nó sẽ bị phân hủy một
cách nhanh chóng làm ô nhiễm nguồn nước.
Nếu rác thải là những chất kim loại thì nó gây nên hiện tượng ăn mòn trong môi trường
nước. Sau đó oxy hóa có oxy và không có oxy xuất hiện, gây nhiễm bẩn cho môi trường
nước. Những chất thải nguy hại như Hg, Pb, hoặc các chất thải phóng xạ sẽ có mức độ
nguy hiểm hơn, cao hơn rất nhiều lần.
2.3.3. Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường đất
Trong điều kiện hiếu khí, khi có độ ẩm thích hợp để rồi qua hàng loạt các sản phẩm trung

3
làm có mùi hôi.
Trong điều kiện hiếm khí các axit amin trong rác bị phân giải thành các chất dạng amin
và CO
2
.
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 8
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
Như vậy rác sinh ra các chất khí gồm có: H
2
S, NH
2
, O
2
, CO, CH
4
, H
2
. Trong đó, CO
2

CH
4
sinh ra trong quá trình phân hủy kỵ khí. Quá trình này kéo dài mãi cho đến 18 tháng
mới dừng hẳn.
2.4. Đặc điểm chất thải rắn (CTR) thành phố Quy Nhơn
Theo tính chất, CTR thành phố Quy Nhơn có thể chia thành 5 loại sau:
- CTR sinh hoạt: là các chất thải liên quan đến các hoạt động của con người ở khu
dân cư, các cơ quan, trường học, các khu dịch vụ, du lịch.
- CTR công nghiệp: là chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu

% theo
khối lượng
Chất thải rắn sinh hoạt và công cộng 137.99 72.97
Chất thải rắn công nghiệp và xây dựng 35.56 18.81
Chất thải rắn bệnh viện 15.55 8.22
Tổng cộng 189.10 100
(Nguồn: Công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn)
2.4.1.2. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt thành phố Quy Nhơn
Quy Nhơn là thành phố biển, thành phần CTR chứa lượng hữu cơ cao, thành phần
chất thải sinh hoạt thay đổi theo mùa đánh bắt hải sản, du lịch. Thành phần cụ thể của
loại CTR này được thể hiện ở bảng 2.2.
Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn thành phố Quy Nhơn:
STT Thành phần % theo khối lượng (%)
1 Rác hữu cơ 57
2 Kim loại 3,0
3 Nhựa, cao su, da 3,0
4 Giấy, vải, giẻ rách 6,5
5 Gạch, đá, cát, sỏi, sành sứ 10,0
6 Tạp chất khó phân loại (<10mm) 20,5
Tổng cộng 100
(Nguồn: Công ty TNHH MTĐT Tp. Quy Nhơn)
2.4.2. Chất thải rắn công nghiệp
2.4.2.1. Nguồn phát sinh
- Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất.
- Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà
máy nhiệt điện.
- Các phế thải trong quá trình công nghệ.
- Bao bì đóng gói sản phẩm.
2.4.2.2. Thành phần chất thải rắn công nghiệp
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 10

hại
Tỷ lệ (%)
1 Kim loại, vỏ, hộp Không 2,9
2 Giấy các loại, báo, giấy cactong Không 0,8
3 Đồ thuỷ tinh, ống tiêm, lọ thuốc Có 2,3
4 Bông băng, bột bó gãy xương Có 8,8
5 Chai, túi nhựa các loại: PP, PE, PVC Có 10,1
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 11
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
6 Bơm tiêm nhựa, kim tiêm Có 0,9
7 Bệnh phẩm xét nghiệm Có 0,6
8 Rác hữu cơ Không 52,7
9
Đất, đá, cát, sỏi, sành và các vật liệu
khác
Không 20,9
Tổng cộng 100
Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22,7
(Nguồn: Quản lý chất thải rắn - tập 1_GS.TS. Trần Hiếu Nhuệ)
Với số lượng giường bệnh hiện có năm 2006 là 1.280 giường bệnh, lượng CTR y tế sau
thu gom là 9.780 tấn, với tỷ lệ thu gom là 85%.
2.4.4. Chất thải rắn thương mại
2.4.4.1. Nguồn phát sinh
CTR thương mại phát sinh tại các nơi diễn ra hoạt động kinh doanh, thương mại như
siêu thị, hội chợ, khu trung tâm thương mại, chợ…
2.4.4.2. Tính chất và thành phần chất thải rắn thương mại thành phố
Tính chất và thành phần CTR thương mại thành phố Quy Nhơn giống như tính chất
thành phần CTR sinh hoạt của thành phố.
Lượng CTR thương mại thành phố năm 2006 là 2.630 tấn.
2.4.5. Chất thải xây dựng

phẩm qua cơ chế tăng lên… tỷ trọng chất thải rắn thành phố Quy Nhơn là 470kg/m
3
vào
năm 2006.
2.5. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CTR ĐÔ THỊ
Quản lý CTR là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, tồn trữ, thu gom, trung chuyển và vận
chuyển, xử lý và đổ CTR theo phương thức tốt nhất cho sức khỏe cộng đồng, kinh tế, kỹ
thuật, bảo tồn, cảm quan và các vấn đề môi trường khác. Quản lý thống nhất CTR là việc
lựa chọn và áp dụng kỹ thuật, công nghệ và chương trình quản lý thích hợp nhằm hoàn
thành mục tiêu đặc biệt quản lý CTR.
Một cách tổng quát, sơ đồ hệ thống kỹ thuật quản lý CTR đô thị được trình bày tóm tắt
trong hình 2.1
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
Hình 2.1: Sơ đồ tổng quát hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị (Tchobanoglous và cộng
sự, 1993).
Nguồn phát sinh: Nguồn chủ yếu phát sinh CTR đô thị bao gồm: (1) từ các khu dân cư
(chất thải rắn sinh hoạt), (2) các trung tâm thương mại, (3) các công sở, trường học, công
trình công cộng, (4) dịch vụ đô thị, sân bay, (5) các hoạt động công nghiệp, (6) các hoạt
động xây dựng đô thị, (7) các trạm xử lý nước thải và từ các đường cống thoát nước của
Thành phố.
Tồn trữ tại nguồn: CTR phát sinh được lưu trữ trong các loại thùng chứa khác nhau tùy
theo đặc điểm nguồn phát sinh rác, khối lượng rác cần lưu trữ, vị trí đặt thùng chứa, chu
kỳ thu gom, phương tiện thu gom. Một cách tổng quát, các phương tiện chứa rác thường
được thiết kế, lựa chọn sao cho thõa mãn các tiêu chuẩn sau: (1) chống sự xâm nhập của
xúc vật, côn trùng, (2) bền, chắc, đẹp và Không bị hư hỏng do thời tiết, (3) dễ cọ rửa khi
cần thiết.
Thu gom: Rác sau khi được tập trung tại các điểm quy định sẽ được thu gom và vận
chuyển đến trạm trung chuyển/trạm xử lý hoặc bãi chôn lấp. Theo kiểu vận hành, hệ
thống thu gom được phân loại thành: (1) hệ thống thu gom container di động: loại cổ điển

có lớp lót đáy, các lớp che phủ hàng ngày và che phủ trung, có hệ thống thu gom và xử lý
nước rò rỉ, hệ thống thu gom và xử lý khí thải, được che phủ cuối cùng và duy tu, bảo trì
sau khi đóng bãi chôn lấp.
2.6 MỘT SỐ MÔ HÌNH QUẢN LÝ CTR TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.6.1. Mô hình quản lý trong nước
2.6.1.1. Hiện trạng QLCTR tại Tp. HCM
Tổ chức chịu trách nhiệm quản lý CTR cho Tp. HCM là công ty MTĐT, công ty xử lý
CTR HoWaDiCo, các xí nghiệp công trình đô thị cấp quận, các đội vệ sinh công cộng,
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
lực lượng quét dọn rác dân lập. Trong đó công ty dịch vụ công cộng có trách nhiệm thu
gom 51% lượng rác hàng ngày. Lượng rác thu gom hàng ngày trong các hộ gia đình, quét
trên đường phố hay vỉa hè do lực lượng dân lập đảm trách. Phương tiện thu gom chủ yếu
là các dụng cụ thô sơ như xe hai bánh, xe ba gác máy, xe ba bánh.
Lượng rác thu gom từ các hộ dân cư có nhà nằm trên mặt tiền hay lượng rác trên mặt
đường, vỉa hè, rác cơ quan, trường học, xí nghiệp do lực lượng công nhân vệ sinh các xí
nghiệp công ty đô thị cấp quận đảm trách. Sau khi thu gom từ các nơi riêng lẻ, rác được
đưa đến điểm hẹn. Điểm hẹn là nơi tập kết hết các khâu và được công nhân vệ sinh bốc
bằng tay lên xe cơ giới, mức độ làm việc có căng thẳng hay không tùy thuộc vào khối
lượng rác và lượng xe chuyên chở. Sai số thời gian này được coi là lớn nhất do sự sai
lệch về giờ giấc và phương tiện vận chuyển.
Rác được đưa ra bãi rác bằng xe tải lớn, để rút ngắn thời gian chuyển giao rác tại các bô
trung chuyển thành phố đã xây dựng các bô trung chuyển theo kiểu cầu đổ tạo điều kiện
cho xe ép rác, xe xuồng rót thẳng rác vào xe tải, nhưng nếu dùng theo cách này sẽ có
nhược điểm là rác không được nén ép đến mức cần thiết. Việc vận chuyển rác từ bô trung
chuyển về các bãi rác chính được xe tải của công ty dịch vụ công cộng vận chuyển, ngoài
ra còn có một số xí nghiệp cấp quận đảm trách việc này.
Từ năm 1981 với sự tài trợ của Đan Mạch Tp.HCM đã xây dựng nhà máy rác Danno có
công suất 70 tấn/ngày cho công nghệ xử lý rác hiếu khí.
Công nghệ xử lý này đã được cơ giới hóa và sử dụng hai lò quay trong môi trường để duy

nước rỉ rác. Trung tâm tư vấn công nghệ và
môi trường CTA đã và đang tiến hành làm sạch bằng công nghệ sinh học.
Bãi rác Gò Cát (Huyện Bình Chánh) rộng 25ha cách trung tâm thành phố 16,4km, xử lý
rác với công suất 2.000tấn/ngày.
Bãi chôn lấp rác Hiệp Phước (huyện Củ Chi) rộng 43,3ha cách trung tâm thành phố
43km, hàng ngày xử lý 3.000 tấn rác sinh hoạt. Ngoài ra còn có 3 bãi rác nhỏ trên địa bàn
huyện Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi. Riêng số rác y tế có 9 xe chuyên dùng, hàng ngày
chở rác lò gas trung tâm Bình Hưng Hòa để đốt.
Thời gian qua nhiều nguồn kinh phí thành phố đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho các dự án
xử lý rác như: khu liên hiệp XLCTR Tây Bắc thành phố để chôn lấp rác, dự án này được
thành phố đầu tư 215 tỷ đồng, dự án nâg cấp công trình xử lý rác Gò Cát 261,4 tỷ đồng,
trong đó ngân sách Thành phố chiếm 40% nguồn ODA Hà Lan 60%. Ngoài ra còn chuẩn
bị hàng ngàn tỷ đồng để hình thành các khu XLCTR xã Hiệp Phước, xã Đa Phước (213,8
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 17
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
tỷ đồng) xã Tân Thành, Long An; xây dựng 2 nhà máy xử lý rác thành phân hữu cơ vi
sinh ở xã Phước Hiệp, 2 dư án này do 2 công ty tư nhân đầu tư.
2.6.1.2. Hiện trạng quản lý CTR tại Tp. Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng có bãi rác nhưng đã đóng cửa từ năm 1993 theo chỉ thị của lãnh đạo,
bên cạnh đó có một bãi rác mới được hình thành tại chân núi Khi Đa cách trung tâm
thành phố khoảng 6km theo đường chim bay.
Bãi rác này có diện tích là 10ha, dự kiến sẽ đổ rác trong vòng 10 năm, được chia thành
nhiều ô nhỏ để đổ rác lần lượt, có các bức tường ngăn ô cao 1m, có thiết kế hệ thống thu
gom nước rác rất đơn giản dẫn đến bể tự hoại xây bằng bêtông với thể tích là 100m
3
.
Trên thực tế sau khoảng 2 năm sử dụng lượng rác hầu như đã chiếm hết diện tích khu vực
bãi rác.
Nhược điểm:
- Bể xử lý nước rác thực tế là một bể chứa không hoạt động được.

biển mang lại nhiều điều lợi. Ví dụ: ở Tp. New York trước đây chất thải rắn được chở
đến các bến cảng bằng những đoàn xe lửa riêng, sau đó được các xà lan chở đem chôn
dưới biển. Ngoài ra, ở San Francisco và một số thành phố ven biển ở Hoa Kỳ, người ta
còn xây dựng những bãi ngầm nhân tạo trên cơ sở sử dụng các khối gạch, bê tông phá vỡ
từ các tòa nhà hoặc thậm chí từ các ô tô thải bỏ. Làm điều này vừa giải quyết được vấn đề
chất thải, vừa tạo nên nơi trú ẩn cho các loài sinh vật biển. Bên cạnh những ưu điểm trên
thì biện pháp này rất khó kiểm soát và có khả năng tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường biển.
2.6.2.4. Bãi chôn lấp hợp vệ sinh
Chôn lấp vệ sinh là biện pháp tương đối đơn giản, được áp dụng phổ biến ở các quốc gia
phát triển nơi mà diện tích đất trống còn khá dồi dào. Ở Hoa Kỳ hơn 80% rác được xử lý
theo kiểu này.
Ở Anh, Nhật và nhiều quốc gia phát triển khác cũng áp dụng phương pháp này một cách
rộng rãi. Việc chôn rác được thực hiện bằng cách dùng các xe chuyên dụng chở rác đến
các khu vực đã được quy hoạch trước. Sau khi rác được đổ xuống, xe ủi sẽ san bằng mặt
rác và đổ lên một lớp đất dày 15cm, sau khi kết thúc bãi chôn lấp thì lớp phủ cuối cùng
tối thiểu phải là 60cm. Theo thời gian sự phân hủy vi sinh vật làm cho rác trở nên tơi xốp
và thể tích rác giảm xuống, việc đổ rác được tiếp tục trên bề mặt bãi rác cũ.
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 19
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
Tuy nhiên, việc chôn lấp rác cần phải được khảo sát kỹ lưỡng và có quy hoạch môi
trường cùng các biện pháp phòng chống ô nhiễm thích hợp. Các nơi chôn rác cần phải
được thiết kế sao cho nước rò rỉ từ bãi rác không xâm nhập được vào nước mặt cũng như
nước ngầm và phải xây dựng hệ thống xử lý nước rò rỉ trước khi thải chúng ra môi
trường. Phương pháp chôn lấp vệ sinh có ưu điểm sau:
- Do được nén và phủ lên trên bề mặt một lớp đất nên các loại côn trùng, ruồi muỗi, chuột
khó có khả năng sinh sôi.
- Các hiện tượng cháy ngầm hay bùng cháy khó có thể xảy ra, đồng thời giảm thiểu được
mùi hôi thối, hạn chế ô nhiễm môi trường không khí.
- Nếu làm việc tốt ngă chặn nước rò rỉ thì hạn chế được nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
nước, đất.

trình ủ này nhờ vào sự hoạt động của các vi khuẩn yếm khí. Công nghệ không đòi hỏi có
những đầu tư ban đầu tốn kém song có những nhược điểm sau:
Thời gian phân hủy kéo dài thường từ 4 – 12 tháng.
Các vi khuẩn vẫn tồn tại do nhiệt độ của quá trình phân hủy thấp.
Các khí metan và hydrosulphua sinh ra từ quá trình phân hủy gây mùi khó chịu.
Ưu điểm của phương pháp ủ:
Ổn định chất thải
Tái sử dụng được chất thải
Không đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn như phương pháp đốt.
Giảm nhu cầu sử dụng đất để chôn lấp.
Giảm được nguy cơ gây ô nhiễm môi trường so với các phương pháp klhác.
Tạo ra được sản phẩm có ích cho xã hội.
Tạo công ăn việc làm cho người dân.
Khuyết điểm:
Thời gian dài hơn so với phương pháp đốt.
Khi ủ yếm khí còn sinh ra mùi khó chịu.
Tốn chi phí cho các máy móc, nếu so sánh với phương pháp đốt hầu như chẳng cần sử
dụng máy móc nhiều.
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 21
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MÔI
TRƯỜNG THÀNH PHỐ QUY NHƠN
3.1. Đặc điểm tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý và hành chính
Thành phố Quy Nhơn nằm ở cực Nam của tỉnh Bình Định, có tọa độ địa lý 13
0
46’ vĩ
độ Bắc 119
0
14’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và Phù Cát, phía Nam

8m, có hướng dốc từ Tây sang Đông và từ Nam ra Bắc với độ dốc từ 0,5% đến 1,5% rất
thuận lợi cho xây dựng. Địa hình phía Đông Quốc lộ 1A thấp trũng, phần lớn là ruộng
lúa. Cao độ thấp nhất là 1,1m. Cao độ cao nhất là 15m. Có hướng dốc dần từ Nam ra Bắc
với độ dốc từ 0,5% đến 2%. Thường bị ngập lụt từ 0,5 - 2,5m ở các khu vực có cao độ
<3m. Địa hình khu Long Mỹ tương đối bằng phẳng có cao độ từ 5,5m trở lên.
 Khu vực mở rộng bán đảo Phương Mai: là một cồn cắt ngang ổn định dài khoảng 18km.
Nơi rộng nhất là 4,5km; hẹp nhất là 1km. Cao độ lớn nhất 31,5m; thấp nhất là 0,3m;
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 23
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
trung bình là 15m. Địa hình có hướng dốc về hai phía Đông và Tây với độ dốc từ 0,5%
đến 2%.
3.1.3. Khí hậu
Thành phố Quy Nhơn mang đặc tính khí hậu của vùng Trung - Trung Bộ, bị chi
phối bởi gió Đông Bắc trong mùa mưa và gió Tây vào mùa khô. Mùa khô từ tháng 1 đến
tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 (lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% lượng
mưa cả năm). Mùa Đông ít lạnh, thịnh hành gió Tây Bắc đến Bắc. Mùa hè có nhiệt độ
khá đồng đều, có 4 tháng nhiệt độ trung bình vượt 28
0
C. Hướng gió chủ yếu là Đông đến
Đông Nam, nhưng chiếm ưu thế trong nửa đầu mùa Hạ là hướng Tây đến Tây Bắc. Mùa
mưa tại khu vực Quy Nhơn thường có bão và bão lớn tập trung nhiều nhất vào tháng 10.
Một số đặc trưng khí hậu về thành phố Quy Nhơn:
- Nhiệt độ trung bình năm: 26,9
0
C;
- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 30,8
0
C;
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 24,0
0

thiện, cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng các ngành xây dựng,
công nghiệp và dịch vụ và giảm tỷ trọng các ngành nông - lâm nghiệp.
Tổng sản phẩm địa phương (GDP) năm 2006 đạt 3.024,782 tỷ đồng (giá thực tế), tăng
21,78% so với năm 2005 là mức tăng cao nhất trong những năm gần đây, trong đó giá trị
sản xuất công nghiệp và xây dựng cơ bản là 2.083,49 tỷ đồng, chiếm 66,89% GDP, nông
lâm thuỷ sản đạt xấp xỉ 308,331 tỷ đồng, tương đương 10,19% GDP. Thu ngân sách địa
phương năm 2006 đạt 228,11 tỷ đồng, tăng 418,64% so với năm 2005.
Các ngành đóng góp lớn cho Ngân sách nhà nước là công nghiệp chế biến, công
nghiệp khai thác mỏ, du lịch. Trong đó ngành du lịch có đóng góp lớn và ngày càng tăng
trong cơ cấu GDP của thành phố.
Thành phố có trên 1.800 cơ sở công nghiệp lớn nhỏ, 11.593 cơ sở dịch vụ giải quyết
việc làm cho 73.800 lao động và hàng chục nghìn cơ sở kinh doanh cá thể. Giá trị sản
xuất công nghiệp năm 2004 đạt 2.083 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 183.478 USD,
tăng 35,41% so với năm 2005. GDP bình quân năm 2006 là 11,86 triệu đồng.
Kinh tế hộ gia đình cũng ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm,
hộ giàu ngày càng tăng. Theo các tiêu chí đánh giá và phân loại hộ nghèo của Bộ lao
động - TBXH thì số hộ nghèo năm 2006 là 4,3% (giảm 1,32% so với năm 2005). Số hộ
nghèo phân bố không đều giữa các phường xã khác nhau của thành phố. Các phường nội
thị có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn so với các xã ngoại thị.
SVTH: Trần Thị Kiều Diễm 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status