i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả, số
liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào.
Quách Nhật Bình
ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi đến Ban Giám hiệu, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Phòng
Đào tạo Đại học & Sau đại học Trường Đại Học Nha Trang sự kính trọng và niềm tự
hào đã được học tập và nghiên cứu tại Trường trong những năm qua.
Xin chân thành cảm ơn đến Cô TS. Hoàng Thị Bích Đào, người đã định hướng,
động viên và cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian tôi học tập và thực
hiện đề tài tốt nghiệp.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND tỉnh Cà Mau, Sở nội vụ, Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến ngư, phòng Nông nghiệp và
phát triển nông thành phố Cà Mau đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời
gian học tập tại Trường Đại học Nha Trang và thực hiện đề tài tại tỉnh Cà Mau.
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy, Cô trong Khoa Nuôi trồng
1.1.8. Một số yếu tố sinh thái của cá chình 11
1.1.8.1. Tính thích ứng với nhiệt độ 11
1.1.8.2. Hàm lượng oxy hòa tan (DO) 12
1.1.8.3. Độ mặn 12
1.1.8.4. Nồng độ pH 12
1.1.8.5. Ánh sáng 13
iv
1.1.8.6. Sự thích ứng dòng chảy 13
1.2. Tình hình nghiên cứu cá chình trên thế giới và Việt Nam 13
1.2.1. Trên thế giới 13
1.2.1.1. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chình 13
1.2.1.2. Tình hình nuôi cá chình trên thế giới 14
1.2.2. Tình hình nghiên cứu cá chình tại Việt Nam 17
1.2.2.2. Tình hình nuôi cá chình tại Việt Nam 18
1.3. Một vài nét về nghề nuôi cá chình ở Cà Mau 18
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.2. Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 20
2.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp 20
2.2.2. Hoạt động điều tra phỏng vấn: 20
2.2.2.1 Chọn hộ điều tra phỏng vấn 20
2.2.2.2 Tiêu chí điều tra 21
2.2.2.3 Sơ đồ khối hoạt động điều tra, phỏng vấn 21
2.2.3. Đề xuất giải pháp 22
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu 22
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Thành phần loài, đăj điểm và sự phân bố cá chình trong giống Anguilla 5
Bảng 1.2: Hàm lượng Protein (%) trong thức ăn cá chình ở một số nước và khu vực
trên Thế giới. 7
Bảng 1.3: Hàm lượng Lipit (%) trong thức ăn cá chình ở một số nước và khu vực trên
Thế giới 8
Bảng 1.4: Sản lượng cá chình nuôi trong nhà kính tại Nhật [25] 15
Bảng 1.5: Sản lượng nuôi cá chình ở một số quốc gia năm 2000 (FAO 2001) 16
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu về khí hậu thành phố Cà Mau giai đoạn 2005 – 2008 [18] .24
Bảng 3.2: GDP thành phố Cà Mau giai đoạn 2006-2008 (ĐVT: tỷ đồng) [18] 26
Bảng 3.3: Lao động trong các ngành kinh tế từ năm 2004-2008 (ĐVT: người) [18] 27
Bảng 3.4: Phân bố độ tuổi của chủ hộ 31
Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá chình tại thành phố Cà Mau (n=60) 43 vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Bản đồ phân bố của cá chình bông trên thế giới 3
Hình 1.2: Cá Chình bông A. marmorata 4
Hình 1.3: Vòng đời của cá chình 11
Hình 3.1: Bản đồ hành chính thành phố Cà Mau 23
Hình 3.2: Diện tích các đối tượng nuôi ở thành phố Cà Mau (%) 27
Hình 3.3: Diện tích nuôi cá chình tại thành phố Cà Mau 28
Hình 3.4: Sản lượng các đối tượng nuôi ở TP. Cà Mau (%) 29
Hình 3.5: Sản lượng cá chình năm 2009 của thành phố Cà Mau (tấn) 30
Hình 3.6: Trình độ văn hóa của các chủ hộ nuôi cá chình tại thành phố Cà Mau (%)
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
FCR : Hệ số thức ăn
W : Khối lượng
L : Chiều dài 1
MỞ ĐẦU
Cá Chình trong giống Anguilla là đối tượng nuôi có ý nghĩa kinh tế bởi giá trị
dinh dưỡng cao và chất lượng thịt thơm ngon, được người dân ở nhiều nước trên thế
giới ưa chuộng và coi cá chình như “nhân sâm ở dưới nước”. Trên thế giới nhiều
nước đã đầu tư nuôi rất mạnh đối tượng này như: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,
Hàn Quốc, Hà Lan, Đan Mạch … Trong các loài cá chình hiện nay thì loài A. anguilla
và A. japonica được nuôi khá phổ biến.
Ở Việt Nam, cá Chình bông A. marmorata là đối tượng đang được quan tâm
nghiên cứu cũng như đã phát triển nuôi nhiều ở một số tỉnh Miền Trung và Đồng bằng
Sông Cửu Long. Ở các tỉnh miền Trung như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa có
nguồn lợi lớn về cá Chình bông và nghề nuôi cá Chình bông ở đây phát triển khá mạnh,
hình thức nuôi chủ yếu trong bể xi măng và nuôi lồng. Trong khi đó, ở một số tỉnh
Đồng bằng Sông Cửu Long nghề nuôi cá Chình bông chỉ mới bắt đầu, với hình thức
nuôi chủ yếu trong ao đất. Nguồn giống Cá Chình bông phục vụ cho nuôi thương
phẩm hiện đang bị động, phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống khai thác được từ tự
nhiên ở các tỉnh miền Trung vận chuyển về.
Việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo Cá Chình bông hiện đang được quan tâm
nghiên cứu nhưng chưa thành công. Mặt khác, do nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu
ngày càng tăng, giá cá chình tăng cao, cá chình trở thành đối tượng bị khai thác triệt để
bằng nhiều hình thức khác nhau như: hóa chất độc hại, thuốc nổ, kích điện … làm cho
nguồn lợi cá chình suy giảm. Một số loài cá chình trong giống Anguilla như cá Chình
nghề ni cá Chình bơng tại thành phố Cà Mau.
- Là cơ sở khoa học cho ngành thủy sản địa phương đề ra các biện pháp kỹ thuật
và quản lý nhằm phát triển nghề ni cá Chình bơng tại thành phố Cà Mau một cách
hợp lý. 3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vài nét về đối tượng nghiên cứu
1.1.1. Vị trí phân loại
Cá Chình bông nằm trong hệ thống phân loại sau:
Lớp: Osteichthyes
Phân lớp: Actinopterygii
Bộ: Anguilliformes
Phân bộ: Anguilloidei
Họ: Anguillidae
tốc độ bơi lội và giảm ma sát khi chui vào hang. Chất dịch cá tiết ra còn có tác dụng
bảo vệ thân cá khi gặp môi trường không thích hợp [12].
Hình 1.2. Cá Chình bông A. marmorata
1.1.4. Sự phân bố
Sự phân bố của các loài cá Chình khác nhau rất lớn. Trong số 16 loài và 6 bậc
dưới loài của cá Chình đã được phát hiện, trên thế giới chỉ có 2 loài phân bố ở vùng
biển Đại Tây Dương, số khác thì được phát hiện ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương
[10], [25], [32].
5
Bảng 1.1: Thành phần loài, đăj điểm và sự phân bố cá chình trong giống Anguilla
Kích cỡ tối đa
Stt
Tên loài
Màu
sắc
Số
đốt
sống
Phân bố trên thế giới
W(kg)
L(cm)
1 A. ancestralis Đốm 103 N. Sulawesi
2 A. celebesensis Đốm 103 Indonesia, Philipine
3 A. interioris Đốm 105 New Guinea
4 A. megastoma Đốm 112
Các loài cá Chình phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới gần vành đai Xích đạo.
Khoảng 70% số cá Chình khác nhau tập trung ở vùng biển Thái Bình Dương [25],
[32]. Như vậy, hầu hết các loài cá Chình phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới và 6 loài
6
cá Chình được tìm thấy ở vùng ôn đới. Các loài cá Chình thuộc vùng ôn đới của Bắc
bán cầu có 3 loài: cá Chình Nhật (A. japonica) phân bố ở vùng biển Châu Á Thái
Bình Dương; cá Chình Châu Âu (A. anguilla) và cá Chình Mỹ (A. rostrata) phân bố ở
Đại Tây Dương.
Năm 1942, Poul Jespersen nghiên cứu cá bột giống Anguilla vùng biển Ấn Độ
Dương cho thấy chúng phân bố rất nhiều ở quần đảo Indonesia, Philippine, New
Guinea [32]
Cá chình Bông (A. marmorata) là loài phân bố rộng rãi nhất, chúng chịu ảnh
hưởng của dòng hải lưu. Trên thế giới, chúng phân bố ở Nhật Bản, Trung Quốc,
Indonesia, các vùng ôn đới và nhiệt đới của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương [12].
Cá chình Nhật phân bố ở Nhật bản và Trung Quốc, ở vùng biển Kainan-To,
Okinawa và Seiman-To Đài Loan nhưng lại không tìm thấy tại Philippine. Ở Việt Nam,
A. japonica là loài cá chình được phát hiện và xác định tên khoa học đầu tiên bởi
Temminck et Schlegel,1846 và Chevey và Lemason J. năm 1937, nhưng sau đó không
thấy chúng nữa [6].
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng.
Cá chình là loài cá dữ, phàm ăn. Hầu hết các loài động vật và cá đều là nguồn
thức ăn của cá chình (từ côn trùng thủy sinh, giun ít tơ, côn trùng đến giáp xác và các
loài cá khác…). Tùy theo từng giai đoạn phát triển của cá mà có sự chuyển đổi nguồn
thức ăn và cách bắt mồi [37]. Cá con khi mới vào cửa sông trong ruột và dạ dày
thường chứa một lượng mùn bã hữu cơ. Ở giai đoạn giống, thức ăn của cá chủ yếu là
động vật phù du như Copepoda, Daphnia, Moina… Ở giai đoạn trưởng thành thức ăn
của cá chình là cá, tôm, giáp xác… Lúc thiếu thức ăn, chúng tranh cướp thức ăn lẫn
nhau và có xu hướng ăn thịt đồng loại [37].
Thế giới.
STT
Tên nước, Khu vực Hàm lượng Protein (%)
1 Châu Âu 46 – 52
2 Mỹ 55 – 60
3 Nhật Bản 46 – 52
4 Trung Quốc 50
5 Đài Loan 45
1.1.5.2. Lipit.
Lipid đóng vai trò quan trọng như là một nguồn cung cấp năng lượng, đặc biệt
đối với các loài cá dữ, khả năng sử dụng carbonhydrate để cung cấp năng lượng là rất
8
thấp [28], [29]. Với vai trò là vật chất cần thiết cấu tạo nên cơ thể và là nguồn cung
cấp năng lượng cho các hoạt động nên lipid được coi là chất dinh dưỡng quan trọng
thứ 2 trong thức ăn của cá [28], [35].
Khẩu phần lipit trong thức ăn có tác dụng như là nguồn cung cấp axit béo
(EFA) cần thiết để xây dựng nên cấu trúc của cơ thể và nguồn cung cấp năng lượng
cho các hoạt động của cá. Bên cạnh đó, chúng còn hoạt động như những chất vận
chuyển các vitamin hòa tan trong mỡ. Sự thiếu hụt của EFA trong thức ăn sẽ làm
giảm sức đề kháng của cá đối với bệnh tật, cá có tốc độ tăng trưởng thấp và hệ số sử
dụng thức ăn cao [28].
Tùy theo các loài cá khác nhau mà nhu cầu lipit trong thức ăn cũng khác nhau.
Hàm lượng lipit trong thức ăn nuôi cá biến động trong khoảng 2,5 – 15% [32]. Hàm
lượng lipit trong thức ăn cho cá chình châu Âu từ 3 – 5% [38], ở Nhật là 4% [25],
Trung Quốc là 5% [38]. Hàm lượng lipit trong thức ăn nuôi cá chình ở Đài Loan từ
5,34% đến 9,0% [34].
Bảng 1.3. Hàm lượng Lipit (%) trong thức ăn cá chình ở một số nước và khu vực
o
C hàm
lượng Vitamin bổ sung vào là 10% [25].
1.1.6. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng của cá chình sống trong tự nhiên được xác đình
là thấp hơn nhiều so với các loài cá khác. Các ấu trùng và ấu thể của cá chình Châu
Âu phải mất 3 năm mới đến được các thuỷ vực nội địa. Tốc độ tăng trưởng của cá
chình được đo vào tháng 6 hàng năm cho thấy, ở năm thứ nhất cá đạt chiều dài 25 cm,
năm thứ 2 dài 53 cm, năm thứ 3 dài 75 cm [24], [33].
Cá chình đực thường phát triển chậm hơn cá chình cái. Sự khác biệt này thể
hiện rõ khi cá đạt kích cỡ từ 30 cm trở lên. Đối với cá chình Nhật (A. japonica) vào
giai đoạn thành thục cá chình đực có khối lượng (70 g/con), dài (30 -35 cm); cá chình
cái có khối lượng từ (300- 350 g/con), chiều dài (57- 60 cm).
Như vậy, cá chình cái lớn hơn cá chình đực gấp khoảng 4 lần [25], [32], [40].
Trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá chình thường có tốc độ tăng trưởng khác nhau tùy theo
mật độ nuôi, điều kiện môi trường, chất lượng thức ăn và kỹ thuật nuôi. Ở Nhật Bản cá
chình nuôi thương phẩm sau 18 tháng tăng từ 160-180 g/con (9-10 g/con/tháng) [25]. Khi
môi trường đảm bảo ổn định nhiệt độ (nhà kính), cá chình nuôi có khối lượng ban đầu
(20g/con), sau 1 năm có thể đạt kích cỡ (150- 200 g/con) [25]. Cá cùng kích thước đó
được nuôi ở Đài Loan chỉ cần thời gian là 8 - 10 tháng (18 – 25 g/con/tháng) [26], [34],
[40].
1.1.7. Đặc điểm sinh sản
Giống cá chình Anguilla có khả năng sống ở cả nước ngọt và mặn. Chúng có
đặc điểm sinh sản khá độc đáo, hầu hết cả vòng đời của chúng sống ở nước ngọt. Tuy
10
nhiên, không ai có thể tìm thấy trứng đã thành thục của chúng trong nước ngọt. Trên
thực tế, cá chình sinh sản ở vùng biển sâu, xa đất liền [25][36].
Khi cá đến tuổi trưởng thành nhưng tuyến sinh dục chưa hoàn toàn phát triển. Cá
11
Hỡnh 1.3: Vũng i ca cỏ chỡnh
Hỡnh 1.3: Vũng i ca cỏ chỡnh
1.1.8. Mt s yu t sinh thỏi ca cỏ chỡnh
1.1.8.1. Tớnh thớch ng vi nhit
Cỏ chỡnh l loi cú phm vi thớch ng rng vi nhit . Nhit t 1-38
trũn, mu en
Cỏ chỡnh ging ln
Cỏ chỡnh bụng trng thnh
di c t nc ngt ra i dng sinh sn
Sng
vựng
ca
sụng
Sng
trụi
ni
trong
nc
bin
Trng c th tinh trụi ni
ngoi i dng
u trựng dng lỏ liu Cỏ chỡnh bt trng
12
Nhiệt độ 22-30
o
C là nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của cá, lúc này
cá ăn nhiều nhất, lớn nhanh, khả năng đề kháng bệnh cao. Khi quá 30
o13
1.1.8.5. Ánh sáng
Cá chình là loài không thích ánh sáng mạnh, ban ngày cá thường nằm dưới đáy
ao, chui rúc trong hang, ban đêm ngoi lên hay di chuyển ra ngoài kiếm mồi. Vì vậy,
khi nuôi cá chình, nơi cho ăn phải che đậy tránh ánh sáng [7][12].
1.1.8.6. Sự thích ứng dòng chảy
Cả cuộc đời của cá chình liên quan mật thiết với dòng nước chảy, cá bố mẹ đến
tuổi trưởng thành sẽ thực hiện cuộc hành trình xuôi dòng di cư ra biển để đẻ trứng. Cá
bột biến thái thành ấu trùng hình lá, trôi theo dòng hải lưu và thủy triều. Sau khi biến
thái thành cá chình trắng mới đi vào nước ngọt, ngược lên thượng lưu vượt qua đồng
ruộng hay đồng cỏ, thậm chí có chướng ngại vật cá bột cũng có thể vượt qua. Ở giai
đoạn cá con, cá thích ngược dòng nước, ở gần nơi có nước chảy. Vì vậy, khi nuôi cá
phải hết sức chú ý đến dòng chảy của nước. Khi cá lớn dần tập tính này cũng giảm dần
[4][41].
1.2. Tình hình nghiên cứu cá chình trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chình
Hơn ¾ thế kỷ qua, có nhiều nghiên cứu quan tâm đến quá trình sinh sản của cá
chình và có không biết bao nhiêu công trình nghiên cứu để tái tạo giống cá này trong
điều kiện nhân tạo. Điều làm các nhà khoa học quan tâm là rất hiếm gặp cá chình cái
trong thời kỳ cá sống ở nước ngọt, có thể sự chuyển giới tính thành cá cái xảy ra vào
lúc cá chuyển sang thời kỳ sống ở biển.
Đã có những thực nghiệm nuôi tế bào sinh dục đực của cá chình trong điều kiện
invitro và đã đạt được kết quả: Từ tinh nguyên bào đã nhận được các tinh tử và tinh trùng.
Tiến hành nghiên cứu trên cá chình Anguilla japonica, các nhà khoa học Trung
nuôi tại Nhật: A.autralis; A.anguilla; A.japonicus; A.rostrata. Trước diễn biến ngày
càng bất lợi của môi trường như nhiệt độ, điều kiện khí hậu thì những hệ thống nuôi:
Nuôi ngoài trời, hệ thống nuôi trong nhà kính, hệ thống thâm canh không tuần hoàn
được sử dụng [27]. Hệ thống nhà kính được ưa chuộng tại Nhật và Hàn Quốc, mặc dù
hệ thống nuôi bên ngoài vẫn được nuôi vì giá thành sản phẩm thấp. Ngược lại, một số
nước Bắc Âu hầu hết độc quyền sử dụng hệ thống nuôi thâm canh không tuần hoàn. Hệ
thống nuôi bên ngoài phổ biến ở Đài Loan nhưng hệ thống nuôi thâm canh không tuần
hoàn cũng phát triển. Trung Quốc sử dụng tất cả các hệ thống nuôi [27] .
Các trang trại nuôi cá chình ở Nhật áp dụng hình thức nuôi nước tĩnh và nguồn
nước sử dụng là nước ngầm. Theo kết quả thống kê cho thấy, diện tích ao nuôi cá
chình Nhật là 1.036,7 ha và năng suất đạt được 37 tấn/ha. Năm 1998, Nhật cung cấp
55% sản lượng cho toàn thế giới và đến năm 2000 Nhật cung cấp 90% sản lượng cá
chình trên toàn thế giới [27]
15
Ở Nhật Bản, nhiệt độ là yếu tố hạn chế đến việc nuôi cá chình, hệ thống nuôi bên
ngoài chủ yếu được sử dụng suốt mùa hè khi nhiệt độ lên trên 15
o
C [27]. Nuôi cá chình
trong nhà kính với hệ thống nước chảy tuần hoàn, cấp nhiệt chủ động được thực hiện ở
một số nước và đã đưa lại kết quả tốt. Tại Nhật Bản, quá trình nuôi trong nhà kính với
con giống được thả vào cuối năm đến mùa hè năm sau cá có thể đạt kích cỡ thương
phẩm. Mặc dù quá trình nuôi trong nhà kính bước đầu còn khó khăn nhưng sau năm
1975 nuôi cá chình trở nên dễ dàng. Qua nhiều năm, kỹ thuật nuôi cá chình được cải
thiện và hoàn thiện dần tạo nên kết quả tốt trong nền kinh tế [25].
Bảng 1.4: Sản lượng cá chình nuôi trong nhà kính tại Nhật [25]
Năm
Cá chình giống
được thả (tấn)
16
Sự chuyển đổi công nghệ nuôi góp phần thúc đẩy cho quá trình phát triển nuôi
cá chình quy mô công nghiệp. Vào năm 2000, cá chình được nuôi ít nhất trên 34 nước
với tổng sản lượng 232.815 tấn (FAO, 2001). Trong đó Trung Quốc chiếm 69% sản
lượng cá chình nuôi, sau đó là Đài Loan và Nhật Bản. Ở Châu Âu, cá chình được di
nhập vào đầu tiên tại Ý, Hà Lan và Đan Mạch nhưng mỗi quốc gia chỉ chiếm 2% tổng
sản lượng trên toàn thế giới.
Bảng 1.5: Sản lượng nuôi cá chình ở một số quốc gia năm 2000 (FAO 2001)
Quốc gia Sản lượng (Tấn)
Trung Quốc 160.740
Đài Loan 30.480
Hà Lan 3.700
Hàn Quốc 2.725
Ý 2.700
Đan Mạch 2.674
Indonesia 2.056
Malaysia 1.980
Ai Cập 506
Mặt khác sự mở rộng nuôi cá chình thương phẩm tại Nhật Bản làm cho sự
cung cấp cá chình giống bị hạn chế, đòi hỏi phải nhập khẩu từ những nơi khác. Đài
Loan cũng thiết lập những khu công nghiệp nuôi cá chình. Khi cá chình nuôi công
nghiệp ở Đài Loan phát triển, thì sự cung cấp con giống cho nuôi thương phẩm ở
Đài Loan trở nên thiếu hụt và phải nhập khẩu từ Trung Quốc.
Hệ thống nuôi cá chình trong nhà kính không giải quyết được nhiệt độ quá thấp
trong suốt mùa đông ở Bắc Âu. Vì vậy, những vấn đề nuôi cá chình trở nên khó khăn.
Bắt đầu từ 1978, các kỹ sư tại Đan Mạch đã thiết kế các bể nuôi cá chình cách nhiệt
(Giusset, 1990) và các hệ thống nuôi không tuần hoàn được ra đời. Hệ thống này trở
nên thành công (Hemsbroek,1991). Nhiều hệ thống nuôi không tuần hoàn khác bắt đầu
phát triển ở Đan Mạch [27].
[14]. Vũ Trung Tạng (1999) công bố ở đầm Trà Ổ gồm có 3 loài: A. marmorata, A.
bicolor pacifca, A. bornessnsis [13]. Nguyễn Hữu Phụng (2000) xác định có 5 loài cá
chình thuộc họ Anguillidae: A. japonica phân bố ở miền Bắc (sông Hồng); A.
marmorata, A. nebulosa, A. bicolor pacifica, A. celebesensis phân bố ở khu vực miền
Trung từ khu vực Hà Tĩnh đến Khánh Hoà.
Một số nhà nghiên cứu ngư loại khác như Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực đã
xác định ở nước ta hiện nay có 4 loài cá chình trong giống Anguilla, đó là: A. bicolor