BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
========= =========
NGUYỄN NGỌC HƯNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN NUÔI CÁ LỒNG BÈ TẠI VỊNH CÁT BÀ
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60 62 70 LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Lại Văn Hùng
Nha Trang-2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Hưng
-iii-
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Giá trị các thông số môi trường nước cơ bản ở vịnh Cát Bà 16
Bảng 4.2: Hàm lượng trung bình của kim loại trong nước biển ven đảo Cát Bà 17
Bảng 4.3: Diễn biến phát triển nuôi cá lồng ở vịnh Cát Bà giai đoạn 2001-2009 20
Bảng 4.4: Trình độ lao động trong nuôi cá lồng 24
Bảng 4.5: Trình độ học vấn của lao động tham gia nuôi cá lồng tại vịnh Cát Bà 25
Bảng 4.6: Mật độ và kích cỡ cá thả 24
Bảng 4.7: Thời gian và lượng thức ăn cho cá 25
Bảng 4.8: Một số thông số kỹ thuật của mô hình nuôi cá giò tại Cát Bà (n= 30) 28
Bảng 4.9: Chi phí đầu tư ban đầu làm lồng bè nuôi cá giò vịnh Cát Bà (n=30) 29
Bảng 4.10: Chi phí cho hoạt động sản xuất của mô hình nuôi cá giò (n=30) 29
-iv-
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Diễn giải nghĩa
1 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
2 ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
3 BQ Bình quân
4 CĐ Cố định
5 DT Diện tích
6 ĐVPD Động vật phù du
7 ĐVT Đơn vị tính
8 GĐ Giai đoạn
9 GHCP Giới hạn cho phép
10 FAO Tổ chức lương thực - Nông nghiệp của Liên hợp Quốc
11 FCR Hệ số sử dụng thức ăn
12 KT- XH Kinh tế - xã hội
13 MM Mùa mưa
14 MK Mùa khô
15 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
16 NTHS Nuôi trồng hải sản
17 NTU Độ đục
18 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
19 TCN Tiêu chuẩn ngành
20 T-N Tổng Nitơ
21 T-P Tổng phốt pho
22 TP Thành phố
23 TS Thủy sản
24 TVPD Thực vật phù du
25 Tr.đ Triệu đồng
26 UBND Ủy ban nhân dân
4.1.1. Vị trí địa lý của huyện Cát Hải 12
4.1.2. Điều kiện khí hậu và chế độ thủy văn vùng nghiên cứu 12
4.1.3. Chất lượng môi trường vịnh Cát Bà 15
4.1.4. Tiềm năng phát triển nuôi cá lồng tại vịnh Cát Bà 19
4.2. Hiện trạng nghề nuôi cá lồng bè tại vùng vịnh Cát Bà 20
4.2.1. Diễn biến phát triển nuôi cá lồng bè giai doạn 2001-2009 20
4.2.2. Hiện trạng các đối tượng nuôi cá lồng biển tại vịnh Cát Bà 20
4.2.3. Hiện trạng về nguồn nhân lực nuôi cá lồng bè 21
-vi-
4.2.4. Hiện trạng hệ thống lồng bè nuôi cá biển 22
4.2.5. Hiện trạng về kỹ thuật sử dụng giống, thức ăn và quả lý khi nuôi 24
4.2.6. Tình hình dịch bệnh: 26
4.2.7. Thị trường tiêu thụ sản phẩm cá nuôi thương phẩm: 27
4.2.8. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ phát triển nuôi cá lồng 27
4.2.9. Thu hoạch 28
4.2.10. Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi cá lồng tại vùng vịnh Cát Bà 28
4.3. Đánh giá tổ chức quản lý và thể chế chính sách phát triển nghề nuôi cá lồng
bè tại vùng vịnh Cát Bà, TP. Hải Phòng. 35
4.3.1. Hiện trạng về tổ chức quản lý 35
4.3.2. Chính sách phát triển nuôi cá lồng biển 36
4.4. Đánh giá những tác động của nghề nuôi cá lồng bè tại vịnh Cát Bà 36
4.4.1. Tác động tích cực: 36
4.4.2. Tác động tiêu cực 36
4.5. Đánh giá những mặt thuận lợi và kho khăn đối với việc phát triển nuôi cá
lồng tại vịnh Cát Bà, thành phố Hải Phòng. 37
4.5.1. Những mặt thuận lợi đối với việc nuôi cá lồng bè tại vịnh Cát Bà 37
4.5.2. Những khó khăn đối với việc nuôi cá lồng bè tại vịnh Cát Bà 38
4.6. Các giải pháp phát triển nuôi cá lồng bè bè tại vịnh Cát Bà 39
4.6.1. Giải pháp chính sách phát triển nuôi cá lồng trên biển đảo 39
4.6.2. Giải pháp về cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ phát triển nuôi cá lồng bè 40
đó Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuân lợi cho các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân thuộc các thành phần kinh tế trong nuớc và nước ngoài, đầu tư vào lĩnh vực nuôi
trồng thuỷ hải sản trên biển, hải đảo; giao và cho thuê mặt nuớc biển; đầu tư và hỗ trợ
đầu tư cho công tác quy hoạch, nhập khẩu giống, đào tạo cán bộ, ưu tiên bố trí kinh
phí khuyến ngư cho nuôi trồng thuỷ hải sản trên biển và hải đảo.
Vùng biển Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng có tiềm năng lớn để
phát triển nuôi cá lồng bè và các đối tượng hải sản khác: với hơn 366 hòn đảo lớn nhỏ
và có khoảng 29.000 ha diện tích mặt nước biển có khả năng phát triển nuôi hải sản.
Đảo Cát Bà nằm trong quần thể đảo vịnh Hạ Long và ở vị trí trung tâm vịnh Bắc Bộ
nên đặc điểm cấu trúc địa hình đáy biển và đặc điểm chế độ hải văn gắn liền với những
đặc điểm chung của vịnh Bắc Bộ. Xung quanh đảo Cát Bà có nhiều dãy núi, đảo nhỏ
che chắn đã tạo ra các eo, vũng, vịnh ít chịu ảnh hưởng của sóng gió, địa hình đáy biển
tương đối bằng phẳng, chất đáy chủ yếu là cát bùn, quanh đảo có các rạn san hô, tạo
điều kiện thuận lợi cho các loài sinh vật biển cư trú, sinh sống và phát triển. Đây là
môi trường thích hợp và là tiềm năng lớn để phát triển nuôi cá lồng bè và các đối
tượng hải sản khác.
Trong nhưng năm gân đây, bên cạnh việc thực hiện các chủ trương, chính sách
phát triển nuôi biển của Đảng và Nhà nước, UBND thành phố Hải Phòng còn ban hành
một số chính sách và chỉ đạo các đơn vị, địa phương huyện đảo Cát Bà phát triển
mạnh nghề nuôi thủy sản trên biển, tập trung vào nuôi cá lồng bè nhằm đấy mạnh nghề
nuôi thủy sản biển thành nghề sản xuất hàng hóa. Đến nay, sau 9 năm (2001-2009)
-2-
thực hiện, phát triển nghề nuôi cá lồng bè tại vịnh Cát Bà đã mang lại kết quả đáng kể
như: đã tạo ra nguồn thực phẩm ổn định từ 3.200-3.500 tấn cá thương phẩm/năm, giải
quyết việc làm cho 2.000-2.500 lao động có thu nhập cao, góp phần làm cho nền kinh
tế - xã hội của đảo Cát Bà ngày càng phát triển [13].
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả mà nghề nuôi cá lồng bè ở vịnh Cát Bà đã
mang lại, thì nghề nuôi cá lồng bè ở đây hiện nay cũng còn có những tồn tại và khó
khăn như: việc phát triển nuôi cá lồng bè còn mang tính tự phát, người nuôi thiếu hiểu
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá lồng biển trên thế giới
2.1.1. Vai trò của nuôi cá biển trên thế giới
Nuôi cá biển là một ngành mới, nhưng đã có tốc độ phát triển nhanh chóng, tạo
ra hàng tỷ USD, góp phần giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động và góp phần
đảm bảo chất lượng thực phẩm cho nhân loại. Theo thống kê của FAO, sản lượng cá
biển nuôi năm 2002 của khu vực Châu Á Thái Bình dương khoảng 1 triệu tấn, giá trị
đạt 3,2 tỷ USD, tăng 240% so với năm 1990 và chiếm 95% sản lượng nuôi cá biển trên
thế giới [23].
Từ những năm cuối thế kỷ trước, nhiều nước có biển đã khẳng định rõ vai trò
quan trọng của biển nói chung và nuôi cá biển nói riêng. Cá biển là loại thực phẩm có
giá trị dinh dưỡng cao, nhu cầu sử dụng cá biển ngày càng tăng, trong khi đó sản
lượng khai thác từ tự nhiên có hạn, do đó việc phát triển nuôi cá biển là biện phát tất
yếu đáp ứng nhu cầu của xã hội. Xác định được ý nghĩa chiến lược lâu dài của nuôi cá
biển, nhiều nước như Trung Quốc, Nauy, Nhật Bản coi nuôi cá biển là một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
2.1.2. Nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới
Tại Trung Quốc bắt đầu nuôi thử nghiệm một vài lồng các loài cá song và cá
hồng tại vùng biển Quảng Đông vào năm 1979. Sau đó nuôi cá biển tăng lên khoảng
960.000 lồng phân bố chủ yếu ở Sơn Đông, Trung Quốc. Sản lượng cá biển ở Trung
Quốc tăng lên nhanh chóng: năm 1990 sản lượng là 101.000 tấn đến năm 2005 sản
lượng là 660.000 tấn. Hệ thống lồng nuôi thông dụng (chiếm 98%) là lồng gỗ nổi lên
mặt nước có kích thức 3x3x3m. Sau đó những năm gần đây có các loại lồng bằng phao
kích thước 6x6x6m và kiểu lồng hình trụ có chu vi 60-100m, sâu 8-12m, kiểu lồng đại
dương chịu sóng dùng cho nuôi đại dương và nuôi vùng biển hở.
Nauy là cường quốc về nuôi cá biển trong hai thập kỷ qua, là nước xuất khẩu cá
biển nuôi số 1 thế giới. Từ đầu thập kỷ 80, Nauy đã xác định nuôi cá biển là mũi nhọn
kinh tế của đất nước, trong đó cá hồi là đối tượng nuôi chủ đạo. Sau hơn 20 năm
nghiên cứu và phát triển, Nauy đã đạt đến đỉnh cao của nuôi cá biển, sản lượng và giá
trị liên tục tăng. Năm 1985 sản lượng nuôi đạt 40.000 tấn, giá trị đạt 53 triệu USD; đến
Ở khu vực Châu Âu, năm 1970, nước Pháp đã thành công trong việc nghiên cứu
sản xuất cá tráp Châu Âu, cuối năm 1980 Italia thành công trong việc cho sinh sản
nhân tạo cá mú Địa Trung Hải [23].
Ở khu vực Địa Trung Hải, Hy Lạp là nước đứng đầu về công nghệ nuôi cá biển
phát triển nhờ tiếp cận kỹ thuật sản xuất giống của Pháp, Italia, Anh, Nauy, Nhật Bản.
Chỉ sau một thời gian ngắn, họ đã thành công trong khâu cho sinh sản nhân tạo, sản
xuất được cá giống chất lượng cao, công nghệ nuôi được phát triển nhanh chóng. Sản
lượng cá biển nuôi năm 2000 của Hy Lạp đạt 79.000 tấn, giá trị 491 triệu USD. Nghề
nuôi cá biển của Hy Lạp phát triển ổn định và vững chắc do luôn cải tiến về công nghệ
nuôi, quản lý và tăng cường tiếp thị thị trường.
Các nước Đông Nam Á nghề nuôi cá biển chưa phát triển như các khu vực
khác. Thập niên 90 của thế kỷ trước, Thái Lan đi đầu trong lĩnh vực nuôi cá biển nhờ
-5-
thành công sản xuất nhân tạo và sau đó phát triển nuôi cá vược. Những năm cuối thập
niên 90, sản lượng cá vược của Thái Lan đã đạt tới hàng trăm ngàn tấn. Thị trường tiêu
thụ cá vược của Thái Lan là Hồng Kông và một số nước Châu Âu. Từ sau năm 2000,
do cá tráp ở Châu Âu phát triển mạnh, sự thành công của Trung Quốc và các nước
khác trong sản xuất giống và nuôi cá vược, giá cá vược giảm nhanh làm cho nghề nuôi
cá vược của Thái Lan bị đình trệ. Philippin là nước đứng đầu thế giới về nuôi cá măng
biển và đang tiếp tục phát triển. Sản lượng cá măng biển năm 2005 của Philippin đạt
37.000 tấn, tuy nhiên sản phẩm xuất khẩu còn hạn chế.
2.1.3. Một số đối tượng hải sản được nuôi trên biển
Các đối tướng cá biển trên thế giới hiện nay đang được phát triển nuôi là: các loài
cá song (Epinephelus sp), cá giò (Rachycentron canadum), cá hồng mỹ (Sciaenops
ocellatus), cá chim vây vàng (Trachinotus blochii), cá tráp (Pagrus sp), cá măng biển
(Chanos chanos), cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus), cá chẽm (Lates
calcarifer), cá dìa (Siganus sp), cá hồi, cá ngừ
- Cá song (cá mú) được nuôi nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Đài
Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Philippines các loài cá
Nhật Bản, kiểu lồng đại dương của Thụy Điển, kiểu lồng đại dương của Nga, kiểu lồng
đại dương của úc, kiểu lồng đại dương của Tây Ban Nha, kiểu lồng đại dương của
Nauy, kiểu lồng đại dương của Mỹ, kiểu lồng đại dương của Trung Quốc.
2.2. Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá biển Việt Nam
Việt Nam đã bắt đầu phát triển nuôi cá biển từ năm 1960 nhưng chủ yếu nuôi ao
ở phía Bắc, đến năm 1988 đã nuôi lồng cá biển (cá song/cá mú) tại vịnh Nha Trang,
tuy nhiên đến nay sự phát triển nuôi cá biển ở Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn khởi đầu:
2.2.1. Về đối tượng nuôi
Đối tượng nuôi chủ yếu ở Việt Nam là các loài cá song (Epinephelus sp), cá giò
(Rachycentron canadum), cá chẽm (Lates calcarifer), và nuôi một số loài cá biển khác
như cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus), cá chim vây vàng (Trachinotus blochii), cá tráp
(Pagrus sp), cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus), cá dìa (Siganus sp), nhưng số
lượng không đáng kể.
2.2.2. Công nghệ thức ăn
Thức ăn hiện nay sử dụng chủ yếu vẫn là cá tạp chiếm khoảng 85%, một số nơi sử
dụng thức ăn tự chế tuy nhiên tỷ lệ sử dụng loại thức ăn này chiếm tỷ lệ thấp khoảng
10%, và một số cơ sở bắt đầu nhập thức ăn công nghiệp, lượng thức ăn công nghiệp sử
dụng không đáng kể, mới chỉ dừng ở lại mô hình nuôi thử nghiệm chiếm khoảng 5%.
2.2.3. Công nghệ lồng nuôi
Công nghệ lông nuôi chủ yếu nuôi bằng lồng gỗ đơn giản, phao bằng nhựa hay
bằng xốp. Hình thức nuôi kiểu lồng chịu sóng vùng biển hở hiện nay chưa được áp
dụng nuôi rộng rãi, do chi phí đầu tư công nghệ nuôi lồng chịu sóng rất cao, người dân
không có khả năng đầu tư. Tại Phân viện Bắc Trung Bộ (Cửa Lò), hiện đã áp dụng
-7-
thành công công nghệ lồng nhựa tròn chịu sóng của Nauy, đã mở ra hướng phát triển
mới cho nghề nuôi cá lồng tại các vùng biển mở.
2.2.4. Công nghệ sản xuất giống cá biển
Một số loài cá biển ở Việt Nam đã cho sản xuất nhân tạo thành công là: cá song,
cá giò, cá vược, cá hồng mỹ Con giống đang nuôi hiện nay chủ yếu là do dân thu
của đề tài KC 06.13.NN: “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm
một số loài cá song (Epinephelus spp) phục vụ xuất khẩu”. Đề tài đã được triển khai
nghiên cứu tại 02 cơ sở của Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I (tại Cát Bà và Cửa
Hội), tại Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II và một doanh nghiệp ở Quảng Ninh
(Công ty Đầu tư Phát triển sản xuất Hạ Long) từ tháng 11/2001 đến tháng 11/2004.
Kết quả của đề tài đã đạt được những kết quả bước đầu như sau: Chọn lọc nuôi vỗ
chuyển đổi giới cá bố mẹ đạt tỷ lệ thành thục 60 – 70%. Tỷ lệ thụ tinh của trứng đạt
-8-
71,5 – 82%, tỷ lệ nở đạt 76,0 – 82,1%. Ương nuôi ấu trùng (cá bột) đến cá hương 40
ngày tuổi đạt 7,5%. Ương cá hương lên cá giống (40 ngày tuổi, chiều dài 3 – 4 cm)
đến 90 ngày tuổi (8 – 10 cm) đạt tỷ lệ sống 72 – 81% [15]. Đề tài đã triển khai trên
quy mô thí nghiệm tại Cát Bà, Cửa Hội, Vũng Tàu. Năm 2003, đề tài phối hợp với
Công ty Đầu tư Phát triển xản xuất Hạ Long thử nghiệm triển khai tại đảo Cống Tây
(Quảng Ninh). Tổng số cá giống các cơ sở đã xuất được trong 2 năm 2002 và 2003 là
301.000 con. Hiện nay, Viện Nghiên cứu NTTS I đang nuôi giữ đàn cá hậu bị đơn 300
con của 2 loài cá song: cá song chấm nâu (E. coioides) và cá song chanh
(E.malabaricus). Kết quả nuôi thương phẩm trong lồng từ đàn cá giống sản xuất nhân
tạo năm 2002, năng suất nuôi đạt trung bình 6,2 kg/m
3
nước. Một ô lồng có thể tích 27
m
3
(3x3x3m) đã đạt 1.600 – 1.700 kg [15].
Hiện nay nghề nuôi cá lồng biển ở Việt Nam còn gặp nhiều hạn chế, phát triển ở
quy mô công nghiệp gặp nhiều khó khắn do nguồn giống hiện nay còn thiếu, còn phụ
thuộc vào nguồn giống từ tự nhiên và nguồn giống nhập từ bên ngoài và công nghệ
lồng nuôi và công nghệ sử dụng thức ăn còn lạc hậu.
Sự thành công của các đề tài nghiên cứu sản xuất giống và ương nuôi cá giống và
mô hình thử nghiệm nuôi cá lồng thương phẩm đã góp phần quan trọng thúc đẩy nghề
của UBND huyện Cát Hải.
- Báo cáo kết quả thực hiện của các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học liên quan
đến nuôi cá lồng bè tại vịnh Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học về sản xuất giống, thức ăn, công lồng bè
nuôi trên biển trong và ngoài nước.
-10-
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Trong quá trình điều tra thu thập số liệu
sơ cấp sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA): phân tích các vấn đề
về các mặt: điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển nuôi cá
lồng bè tại vịnh Cát Bà. Hội thảo “đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng”
được tổ chức trước khi điều tra nông hộ để thu thập các thông tin chung về các đối
tượng nuôi, các mô hình nuôi, các khu vực nuôi phân bố chính cho từng loài và mô
hình nuôi;
- Phương pháp chuyên gia: thông qua hội nghị, hội thảo thu thập ý kiến góp ý của
các chuyên gia để thực hiện các nội dung của đề tài.
- Phương pháp điều tra bổ sung: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ
gia đình theo bộ câu hỏi điều tra đã được chuẩn bị trước. Bộ câu hỏi được lập và chuẩn
hoá với các thông tin cần thu thập liên quan đến mục đích đề tài như:
+ Thông tin chung về hộ nuôi cá lồng bè: Tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản
xuất, lao động tham gia nuôi cá lồng…
+ Thông tin chung về hoạt động nuôi cá lồng bè: Thông tin về đối tượng, mùa vụ
và thời gian nuôi, thiết kế và xây dựng lồng nuôi cá biển.
+ Một số thông tin về sử dụng con giống, thức ăn và hóa chất khi nuôi: Thông tin
về con gống (kích cỡ, mật độ giống thả, nguồn giống và chất lượng con giống). Thông
tin về thức ăn; thông tin về hóa chất (loại hoá chất, nguồn gốc xuất xứ và cách sử dụng
hoá chất)
+ Thông tin về quản lý chăm sóc: Quản lý chất lượng nước (kiểm tra về chế độ
thuỷ lý, thuỷ hoá và thuỷ sinh). Bệnh và quản lý bệnh, xử lý chất thải từ nuôi cá biển.
-12-
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, môi trường vùng nuôi và tiềm
năng phát triển nuôi cá lồng tại vịnh Cát Bà, huyện Cát Hải.
4.1.1. Vị trí địa lý của huyện Cát Hải
Cát Hải là một huyện đảo của thành phố Hải Phòng, nằm ở phía Đông Nam
thành phố Hải Phòng. Phía Tây Bắc huyện Cát Hải giáp với Yên Hưng (Quảng Ninh),
phía Đông Bắc là Vịnh Hạ Long. Ba mặt giáp với biển Đông, huyện có vị trí chiến
lược quan trọng, là cửa ngõ tiền tiêu của thành phố Hải Phòng. Huyện Cát Hải nằm
trong kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gần các trung tâm thành phố lớn như Hà Nội, Quảng
Ninh nên có nhiều thuận lợi trong việc liên kết, trao đổi, giao lưu hàng hóa, khoa học
công nghệ, kỹ thuật với các địa phương khác trong vùng, trong nước và các nước
khác trên thế giới [12].
Có thể khẳng định vị trí địa lý là một trong những lợi thế nổi bật của huyện Cát
Hải, nơi có nhiều điều kiện để hình thành các ngành kinh tế mạnh như ngành nuôi
trồng hải sản, dịch vụ hậu cần nghề cá và phát triển du lịch.
4.1.2. Điều kiện khí hậu và chế độ thủy văn vùng nghiên cứu
Huyện đảo Cát Hải nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng
trực tiếp của khí hậu đại dương; có hai mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hè. Các đặc
điểm về điện kiện khí hậu và chế độ thủy văn như sau:
- Nhiệt độ không khí: chế độ nhiệt trong vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng rõ rệt
của hai hệ thống gió mùa: gió mùa đông bắc khô lạnh, gió mùa tây nam nóng ẩm.
Nhiệt độ không khí trung bình năm dao động trong khoảng 22,5-23,5
0
C. Mùa gió tây
nam (mùa hè), nhiệt độ trung bình đạt trên 25
0
C, cao nhất có thể đạt 35
có tốc độ nhỏ nhưng hoạt động của gió này dẫn đến thời tiết khô nóng. Trong thời kỳ
chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10), sự ảnh hưởng của gió mùa giảm, thường xuất hiện
gió biển - đất liền, hướng gió tản mạn, tốc độ gió thường nhỏ hơn các tháng chính mùa
đông bắc và mùa tây nam [10].
- Chế độ mưa: Hải Phòng nằm trong vùng khí hậu có tính chất nhiệt đới, mùa hạ
nóng ẩm mưa nhiều và mùa đông khô lạnh mưa ít. Tổng lượng mưa cả năm dao động
trong khoảng 1600 - 1800mm nhưng phân bố không đều. Lượng mưa cao nhất vào
tháng 8 (235 mm), thấp nhất vào tháng 12 (16mm). Trong mùa khô (tháng 11 đến
tháng 4), lượng mưa nhỏ, tổng lượng mưa chỉ đạt 297mm. Mùa mưa (tháng 5 đến
tháng 10), chiếm 80-90% tổng lượng mưa cả năm. Tổng số ngày mưa trong năm đạt
100-150 ngày, tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hạ [10].
- Chế độ bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi hàng năm của khu vực Hải Phòng đạt trung
bình 700-750mm. Các tháng 10, 11 là thời kỳ khô hanh, lượng bốc hơi lớn nhất trong
năm, đạt trên 80mm, các tháng 2, 3 lượng bốc hơi thấp, chỉ trên 30mm [10].
- Bão và các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Hải Phòng nằm trong vùng có bão và
áp thấp nhiệt đới đổ bộ nhiều, chiếm 31% tổng số cơn bão đổ bộ vào nước ta hằng
năm. Trung bình hàng năm có từ 1-2 cơn bão và áp thấp đổ bộ trực tiếp, 3-4 cơn bão
và áp thấp khác gián tiếp ảnh hưởng đến vùng ven biển và đảo. Thời kỳ bão đổ bộ trực
tiếp vào Hải Phòng tập trung trong các tháng 7 đến tháng 9 với tổng tần suất 78%,
trong đó tháng 7 là 28%, tháng 8 là 21% và tháng 9 là 29%. Dông, lốc, mưa lớn là các
hiện tượng thời tiết đặc biệt, tuy chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng thường gây
ra những hậu quả nặng nề cho người, tài sản và sản xuất ven biển. Hàng năm khu vực
Hải Phòng có khoảng 40-45 ngày có dông, chủ yếu vào mùa hè (các tháng 4 và 6). Khi
có dông, lượng mưa trong 1-2 giờ có thể lên đến 180-200mm. Khi dông phát triển
mạnh thường xuất hiện gió xoáy với tốc độ rất lớn, có thể đạt tới 100- 200m/s (gió lốc)
trong khoảng 5-10 phút.
- Thủy triều và mực nước: Chế độ triều tại các khu vực nghiên cứu tuân theo quy
luật diễn biến của thủy triều ngoài biển: điều này thể hiện quá rõ qua dao động mực
-14-
do sòng triều quyết định, hướng chảy phức tạp, tốc độ dong chảy chỉ cỡ khoảng 8 -
10cm/s [10].
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, khí tượng thuỷ văn của Hải Phòng có nhiều thuận
lợi cho nuôi trồng hải sản (thuỷ triều, dòng chảy…). Tuy nhiên, nó cũng có những yếu
tố ảnh hưởng rất lớn, đến nuôi trồng hải sản (nhiệt độ không khí, lượng mưa, sóng
gió ). Biến trình nhiệt độ không khí chi phối biến trình nhiệt độ nước vùng nuôi, từ đó
-15-
kéo theo một loạt biến đổi của các thông số môi trường khác như pH, DO, CO
2
, H
2
S…
dẫn kéo theo chất lượng môi trường bị biến đổi. Vào các tháng mưa nhiều (tháng 5-8)
thường có những đợt nắng nóng, dẫn đến nhiệt độ nước tăng cao. Mặt khác, cũng vào
các tháng mưa nhiều, lượng nước mưa lớn làm thay đổi đáng kể độ muối thuỷ vực nuôi
hải sản, có thể gây sốc cho đối tượng nuôi. Đây là những khoảng thời gian thường có
những bất lợi về môi trường đối với sự sinh trưởng phát triển của các đối tượng hải sản.
4.1.3. Chất lượng môi trường nước vịnh Cát Bà
4.1.3.1. Các thông số thuỷ lý, thuỷ hoá
- Nhiệt độ nước biển: Nhiệt độ nước biển khu vực Cát Bà diễn biến theo quy luật
mùa, biên độ dao động năm của nhiệt độ xấp xỉ 8
o
C. Các giá trị nhiệt độ ghi nhận được
dao động từ 21,4-31,2
o
C. Khu vực nghiên cứu có độ sâu nhỏ nên chênh lệch nhiệt độ
nước biển không lớn giữa tầng mặt và tầng đáy (chênh lệch lớn nhất 1,8
o
C). Nhiệt độ
o
T S
Hình 4.1: Biến trình nhiệt độ, độ muối trung bình tháng ở Bến Bèo - Cát Bà [11]
- Hàm lượng DO: hàm lượng DO ở khu vực đảo Cát Bà biến động khá lớn, từ
5,1– 7,2mg/l. Nhìn chung, hàm lượng DO không có sự khác biệt lớn giữa 2 đợt quan
quan trắc (bảng 4.1). So với GHCP (DO ≥ 5,0mg/l) theo QCVN 10: 2008, các kết quả
DO ghi nhận được đều nằm trong khoảng phù hợp với nuôi trồng hải sản và bảo tồn
-16-
thuỷ sinh. Tuy nhiên, biến động DO theo ngày đêm rất lớn, nhất là khu vực có biểu
hiện ô nhiễm như ở Bến Bèo cần được quan tâm hơn [11].
- Độ pH: Độ pH của nước biển khu vực đảo Cát Bà tương đối ổn định với tính
kiềm yếu và ít chênh lệch giữa các điểm đo cũng như giữa tầng mặt, tầng đáy và
chênh lệch mùa không lớn (bảng 4.1). Các giá trị pH quan trắc được (pH dao động từ
7,75 – 8,20) đều nằm trong khoảng GHCP 6,5 – 8,5) theo QCVN 10:2008.
- Độ đục: Độ đục của nước biển khu vực Cát Bà biến động ở khoảng khá rộng, từ
4-23NTU. Độ đục trung bình tháng mùa mưa (12NTU) cao hơn mùa khô (7NTU),
chênh lệch 5NTU (bảng 4.1). Độ đục ở khu vực Bến Bèo cao nhất trong 3 khu vực
nghiên cứu. Độ đục tăng đồng nghĩa với sự gia tăng của chất rắn lơ lửng trong nước
biển, dẫn đến nguy cơ mầm bệnh và các chất độc hại ảnh hưởng đến đối tượng nuôi.
Bảng 4.1: Giá trị các thông số môi trường nước cơ bản ở vịnh Cát Bà [11]
Nhiệt độ
(oC)
Độ muối (‰)
DO (mg/l)
pH
Độ đục
(NTU)
8,02
17 12
GHCP
- -
≥
5
6,5 - 8,5 -
Ghi chú: MM - Mùa mưa; MK - Mùa khô [11].
- Hàm lượng N-NO
2
-
: Kết quả quan trắc ghi nhận được hàm lượng N-NO
2
biến
động rất lớn, từ 0,002 - 0,031mg/l, trung bình 0,018mg/l.
- Hàm lượng N-NO
3
-
: Hàm lượng N-NO
3
-
dao động từ 0,037- 0,108mg/l. So với
GHCP 0,5mg/l theo đề xuất của đề tài KT 03.07, các kết quả quan trắc đều thấp hơn.
Tuy nhiên, so với ngưỡng (0,06mg/l) ASEAN đề xuất, hầu hết kết quả quan trắc ở khu
vực vịnh Cát Bà hàm lượng N-NO
3
-
cao hơn.
10,75 - 13,61µg/l, trung bình 12,09µg/l. Nhìn chung, hàm lượng Cu ở 3 vùng nghiên
cứu chênh lệch nhau không lớn (trung bình ở Bến Gia Luận là 12,32µg/l; Bến Bèo
12,01µg/l; vịnh Lan Hạ 11,84µg/l ). So với GHCP 30µg/l theo QCVN 10: 2008 đối
với nuôi trồng thuỷ sản và bảo tồn thuỷ sinh, các kết quả quan trắc đều thấp hơn,
nhưng 100% giá trị Cu quan trắc được lại vượt ngưỡng 8µg/l do ASEAN đề xuất[11].
- Hàm lượng Pb: Hàm lượng Pb quan trắc được thấp hơn nhiều so với GHCP
50µg/l theo QCVN 10: 2008, nhưng lại vượt ngưỡng 8,5µg/l do ASEAN đề xuất. Chênh
lệch hàm lượng Pb giữa 3 vùng nghiên cứu ở Cát Bà không lớn [11].
- Hàm lượng Zn: Hàm lượng Zn quan trắc được dao động từ 15,83 - 25,51µg/l,
trung bình 18,07µg/l. So với GHCP 50µg/l theo QCVN 10: 2008 và ngưỡng do
ASEAN đề xuất, các kết quả quan trắc được đều thấp hơn nhiều.
- Hàm lượng Fe: Hàm lượng Fe biến động từ 0,012-0,095mg/l, trung bình
0,067mg/l. So với GHCP 0,1mg/l theo QCVN 10: 2008, các giá trị Fe quan trắc được
ở ven biển Cát Bà đều thấp hơn.
Bảng 4.2: Hàm lượng trung bình của kim loại trong nước biển ven đảo Cát Bà
Thông số
Giá trị
Cu
(µg/l)
Pb
(µg/l)
Zn
(µg/l)
Fe
(mg/l)
Nhỏ nhất
10,75 8,58 15,83 0,012
Lớn nhất
13,61 12,14 25,51 0,095
- Tảo độc: So với vùng biển Hạ Long và Đồ Sơn thì vịnh Bến Bèo là nơi có số
lượng loài nhiều nhất (28 loài) và mật độ tương đối cao, đặc biệt vào các tháng cuối
mùa khô (từ 610.000-3.276.000tb/m
3
) trong mùa khô và mùa mưa biến động từ
300.000-2.390.000tb/m
3
). Trong tổng số loài tảo độc đã bắt gặp, ngành tảo giáp
(Pyrrophyta) có số loài nhiều nhất (24 loài), tiếp đến là ngành tảo Silic
(Bacillariophyta - 3 loài) và tảo Kim (Silicoflagellata - 1 loài). Trong số loài bắt gặp,
đã ghi nhận được một số loài có thể sản sinh ra độc tố mạnh, gây độc với cá, động vật
không xương sống và ảnh hưởng tới sức khoẻ con người thông qua chuỗi thức ăn (gây
nên những chứng bệnh về thần kinh và tiêu hoá). Theo các nhà khoa học, ở khu vực
Cát Bà đã xuất hiện từ 8 đến 16 loài vi tảo gây bệnh tiềm năng ảnh hưởng đến nguồn
lợi thuỷ sản tự nhiên và đối tượng hải sản nuôi [11].
- Động vật phù du: Kết quả quan trắc ghi nhận được 54 loài ĐVPD (trong 98 loài
đã thống kê ghi nhận ở khu vực đảo Cát Bà) cùng nhiều ấu trùng ĐVPD, ĐVĐ, trứng
cá và cá con. Thành phần loài ĐVPD chủ yếu là các loài nước nhạt ven bờ. Nhóm giáp
xác chân chèo (Copepoda) là thành phần cơ bản của quần xã ĐVPD chiếm khoảng 60%
tổng số loài; tiếp theo là giáp xác râu nhánh (Cladocera), hàm tơ (Chaetognatha), Các
loài ĐVPD điển hình thường gặp trong các đợt quan trắc là: Arcatia erythraea,
Canthocalanus pauper, Paracalanus gracilis, Acrocalanus gibber, Temora discaudata,
Podon leuckarti, Evadne tergestina, Sagitta enflata .v.v.
Mật độ ĐVPD biến động từ 1.347-57.134ct/m
3
. Mật độ động vật phù du có sự
khác biệt lớn trong 2 đợt quan trắc; đợt cuối mùa khô (5.276 ct/m
3
) thấp hơn nhiều so
với đợt cuối mùa mưa (16.648 ct/m