Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng keo lai tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn - Pdf 27


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HÀ SỸ HUÂN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG KEO LAI
TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

: 60.62.02.01 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Quốc Hƣng

THÁI NGUYÊN – 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i

Tôi xin cam đoan các số liệu nghiên cứu này đều được tiến hành tại xã
Bình Trung, Yên Nhuận và các số liệu thu thập ở các xã, đơn vị cơ quan liên
quan tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả trong luận văn là trung thực.
Tác giả Hà Sỹ Huân

HÀ SỸ HUÂN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Địa điểm và thời gian tiến hành 3
4.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu 3
4.2. Thời gian nghiên cứu 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1. Thông tin chung về cây Keo lai 4
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
1.2.1. Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) 5
1.2.2. Những kết quả nghiên cứu về điều kiện lập địa 6
1.2.3 Những nghiên cứu về lâm sinh 7
1.2.4. Nghiên cứu về chính sách và thị trường 9
1.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.3.1 Đặc điểm cây Keo lai 11
1.3.2 Nghiên cứu cải thiện giống 12
1.3.3. Những nghiên cứu về trồng rừng nguyên liệu công nghiệp 14
1.3.4 Nghiên cứu về điều kiện lập địa 16
1.3.5 Về chính sách vào thị trường 18
1.4 Đánh giá chung 20

3.4.1. Tình hình chế biến sử dụng gỗ 59
3.4.2. Thị trường lâm sản rừng trồng huyện Chợ Đồn- Bắc Kạn 61
3.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển rừng trồng Keo lai ở huyện
Chợ Đồn 63
3.5.1 Giải pháp về kỹ thuật 63
3.5.2. Các giải pháp về chính sách 64
3.5.3. Các giải pháp về kinh tế- xã hội 65
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 66
Kết luận 66
Kiến nghị: 67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

UBND
:
Ủy ban nhân dân
NQ - HĐND
:
Nghị quyết hội đồng nhân dân

:
Quyết định
TDTT
:
Thể dục - thể thao

:
Giá trị chiều cao vút ngọn lớn nhất
M
:
Mật độ
RSX
:
Rừng sản xuất
OTC
:
Ô tiêu chuẩn
NĐ- CP
:
Nghị định của chính phủ
FAO
:
Tổ chức nông lương quốc tế
QĐ- TTg
:
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.2: Tình hình chung của 2 xã nghiên cứu trọng điểm 27
Bảng 1.3: Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu tại 2 xã trọng điểm 28

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài 33
Hình 3.1. Biểu đồ sinh trưởng đường kính của Keo lai qua các cấp tuổi 47
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng chiều cao của Keo lai qua các cấp tuổi 47

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nhằm thúc đẩy sự
phát triển nền kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Chợ Đồn nhằm nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Trước những nhu cầu cấp bách đó đòi
hỏi cần có những quy hoạch tổng thể mang tính định hướng lâu dài để sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, khai thác khoáng sản,
có sự đầu tư khai thác và phát triển tốt thúc đẩy sự phát triển kinh tế huyện
Chợ Đồn.
Chợ Đồn là 1 huyện miền núi vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, việc đưa
những loại cây trồng trên đất lâm nghiệp có giá trị kinh tế phù hợp với điều
kiện địa lý, thổ nhưỡng là rất cần thiết. Trong những năm gần đây công tác
trồng rừng trên địa bàn huyện đã được đẩy mạnh từ việc vận động nhân dân
trồng rừng và quản lý bảo vệ rừng. Diện tích rừng trồng ngày càng tăng.
Xác định lâm nghiệp là thế mạnh của tỉnh Bắc Kạn, thực hiện quyết định
số 147/2007/ QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát
triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 – 2015. Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn
đã ban hành Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 07/10/2011 về việc phê
duyệt chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất một số cây trồng trong phát triển
nông nghiệp chính và trồng rừng sản xuất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 -

trồng rừng.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
Vận động được nhân nhân phát triển mạnh về diện tích rừng Keo trồng
tập trung trên địa bàn để sản lượng gỗ Keo trở thành hàng hóa chính trên địa
bàn, phát huy hết tiềm năng đất lâm nghiệp của huyện, có thêm một loài cây
mới để nhân dân lựa chọn để trồng trên địa bàn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trên rừng trồng Keo lai ở các cấp tuổi khác
nhau tại huyện Chợ Đồn.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng như: H
vn

D
1.3
, đất dưới tán rừng trồng Keo lai, hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, thị
trường tiêu thụ sản phẩm gỗ Keo lai và nhu cầu nguyện vọng phát triển rừng
trồng của người dân của người dân tại huyện Chợ Đồn.
4. Địa điểm và thời gian tiến hành
4.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu
Xã Bình Trung và xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Đây là
hai xã phía nam của huyện Chợ Đồn giáp ranh với các xã Phía Bắc của huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên nên nhân dân có nhận thức, ý thức và phong trào
chuyển đổi giống cây lâm nghiệp từ cây Mỡ sang trồng Keo tốt nhất trong
những năm qua so với các xã khác của huyện
4.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 7 năm 2014

biết trồng rừng Keo lai.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
Từ những đặc tính và công dụng nêu trên, Keo lai đã được trồng phổ
biến nhiều vùng trong cả nước và được đánh giá là cây đa tác dụng, có vị trí
quan trọng trong danh mục cơ cấu cây trồng lâm nghiệp chủ lực, cần được
phát triển để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả trồng rừng và xóa đói giảm
nghèo ở những vùng miền núi.
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Để nâng cao năng suất và duy trì tính ổn định, bền vững của rừng trồng
kinh tế, các nhà khoa học nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu về
điều kiện lập địa, tuyển chọn tập đoàn cây trồng sao cho phù hợp với điều
kiện lập địa, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, phân vùng sinh thái, tăng trưởng
và sản lượng, sâu bệnh,… Có thể nói cho đến nay cơ sở khoa học cho việc
phát triển rừng trồng sản xuất ở các nước phát triển đã được hoàn thiện, tương
đối ổn định và đi vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp trong nhiều năm qua.
1.2.1. Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis)
Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng
(Acasimangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống Keo lai tự
nhiên này được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972
trong số các cây Keo tai tượng và Keo lá tràm trồng ven đường ở Sook
Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia. Năm 1976, M.Tham đã kết luận thông
qua việc thụ phấn chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai
có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ. Đến tháng 7 năm 1978, kết luận
trên cũng đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại
phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia ( dẫn theo Lê Đình Khả,
1999) [11]. Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và
Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987,

+ ×3: Độ cao so với mặt nước biển (m);
+ ×4: Độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%);
+ ×5: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%);
+ ×11: Độ phì của đất đã được xác định.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

7
Kết quả nghiên cứu của Pandey. D (1983) [34] về loài Bạch đàn
Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã
cho thấy: nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm
thì năng suất chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì
năng suất có thể đạt tới 30m3/ha/năm. Kết quả này lại một lần nữa khẳng định
điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau.
Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy việc xác định vùng trồng và điều
kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính
là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng
của rừng trồng.
1.2.3 Những nghiên cứu về lâm sinh
Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ
thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là ở
những nơi đất xấu. Trên thế giới, việc áp dụng bón phân cho rừng trồng bắt
đầu từ những năm 1950. Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân
đã tăng lên 100.000 ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan. Đến năm
1980, diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha ( dẫn
theo Đinh Văn Quang) [22].
Về vấn đề này đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm và đi sâu
nghiên cứu, điển hình là công trình nghiên cứu của Mello (1976) [33] ở
Brazin, tác giả cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công
thức không bón phân, nhưng nếu bón phân NPK thì năng suất rừng trồng có

công thức mật độ khác nhau (2.200 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.330 cây/ha; 1.075
cây/ha và 750 cây/ha), sau hơn 9 năm trồng cũng thu được kết quả tương tự,
nhưng ở các công thức trồng mật độ thấp (750 cây/ha - 1.075 cây/ha) có
đường kính trung bình đạt từ 20,1 - 20,9cm, số cây đạt đường (D
1.3
) > 10cm
chiếm từ 84% - 86%; Ở công thức mật độ cao đường kính chỉ đạt từ 16,6 -
17,8cm, số cây có đường kính (D
1.3
) > 10cm chỉ chiếm từ 71% - 76%. Từ các
kết quả nghiên cứu trên cho thấy mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến chất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

9
lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì vậy cần phải căn cứ vào mục tiêu
kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp.
1.2.4. Nghiên cứu về chính sách và thị trường
Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất chính là hiệu quả về kinh tế.
Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước
mắt cũng như lâu dài. Đồng thời, phương thức canh tác phải phù hợp với kiến
thức bản địa và dễ áp dụng đối với người dân. Theo nghiên cứu của Ianuskơ
K (1996), vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế
có thể giải quyết được thông qua những kế hoạch xây dựng và phát triển các
nhà máy chế biến lâm sản với quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công
cụ chính sách “đòn bẩy” nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào
phát triển rừng. Thom R. Waggener (2000) để phát triển trồng rừng sản xuất
đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật còn
phải chú ý nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị
trường. Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với

trồng sản xuất tại các nước đang phát triển ở Việt Nam.
Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề
được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các
quốc gia Đông Nam Á chính là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất.
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ rừng trồng.
- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân.
Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt
Nam đã và đang quan tâm giải quyết để thu hút nhiều thành phần kinh tế tham
gia trồng rừng sản xuất, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng. Vì vậy, quan điểm chung để phát triển
trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành
phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức
sản xuất kinh doanh rừng trồng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

11
1.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ngành Lâm nghiệp nước ta đã có những bước tiến đáng kể trong những
năm qua. Cùng với những đổi mới về công tác quản lý, hoạt động nghiên cứu
khoa học về xây dựng và phát triển rừng cũng rất được quan tâm. Các chương
trình, dự án trồng rừng với quy mô lớn được thực hiện trên khắp cả nước với
nhiều mô hình rừng trồng sản xuất được thiết lập, nhiều biện pháp kỹ thuật đã
được đúc rút xây dựng thành quy trình, quy phạm, phục vụ đắc lực cho công
tác trồng rừng trong đó có trồng rừng sản xuất. Có thể tóm tắt và đúc rút từ
kết quả một số công trình như sau:
1.3.1 Đặc điểm cây Keo lai
Ở Việt Nam, cây Keo lai tự nhiên được Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn

Đoàn Thị Mai (1997) [21], thông báo kết quả nhân giống một số dòng keo
lai bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, cũng cho kết quả tương tự như tác giả.
Nguyễn Ngọc Tân, để nhân tạo chồi keo lai với hệ số nhân cao, chỉ cần
dùng riêng BAP mà không cần phối hợp với chất khác, với nồng độ BAP 2,0
mg/l cho kết quả cao nhất.
Lê Đình Khả và cộng sự (2000) [13], nốt sần và khả năng cải tạo đất của
keo lai đã thông báo kết quả ở giai đoạn 3 tháng tuổi, số lượng và khối lượng
nốt sần trên rễ của keo lai gấp 3-10 lần các loài keo bố, mẹ. Số lượng tế bào vi
khuẩn cố định đạm trong bầu đất, cao hơn so với bố, mẹ, một số khác có tính
chất trung gian.
Dưới tán rừng 5 tuổi, số tế bào vi sinh vật và vi khuẩn cố định đạm trong
1 gam đất dưới tán rừng keo lai cao hơn rõ rệt so với bố, mẹ. Đất dưới tán
rừng keo lai được cải thiện hơn đất dưới tán rừng keo của bố, mẹ ,cả về hoá,
lý tính.
1.3.2 Nghiên cứu cải thiện giống
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng. Không
có giống được cải thiện theo mục đích kinh tế thì không thể đưa năng suất
rừng lên cao. Trong thực tế đã cho thấy, cây rừng nói chung nếu chọn được
giống tốt thì sản lượng gỗ có thể tăng từ 10-20%, có khi tăng tới 30% so với
giống bình thường. Đối với giống lai đã được chọn lọc của các loài cây mọc
nhanh có thể tăng từ 50-100% sản lượng gỗ so với giống bố mẹ. Vì vậy, cải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ
và các sản phẩm mong muốn khác. Năm 1993, Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ
Nông nghiệp và PTNT) đã có Quyết định ban hành "Qui phạm xây dựng rừng
giống và vườn giống", "Qui phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa", trong đó
qui định rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc xuất xứ giống và cây giống cũng như

được gây trồng thành công, như mỡ, tre luồng, thông nhựa thì một số loài
cây mọc nhanh như keo, bạch đàn, với nhiều xuất xứ cũng được tham gia vào
cơ cấu cây trồng trong lâm nghiệp.
Trồng rừng công nghiệp đã có nhiều tác giả nghiên cứu Những năm
1992 - 1995, trong khuôn khổ của chương trình KN03 - 03 năm 2001, Hoàng
Xuân Tý và các cộng sự đã tiến hành đề tài KN03 - 13 “Nâng cao công nghệ
thâm canh rừng trồng (Keo, Bạch đàn), sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất và
nâng cao sản lượng rừng ở vùng Đông Nam Bộ” [27]. Nhóm tác giả đã đề ra
một tổ hợp phân hữu cơ vi sinh để bón lót hữu hiệu cho bạch đàn ở vùng
Sông Bé gồm: 25 gam urê + 50 gam Supe lân + 10 gam KCL + 100 đến 200
gam than bùn đã hoạt hoá. Công thức cho bón thúc là 75 gam urê + 125 gam
Supelân. Các tác giả cũng kiến nghị không nên trồng mật độ thưa 1111 cây
/ha vì tán quá thưa, tạo điều kiện cho cỏ Mỹ phát triển, không có lợi cho sinh
trưởng của cây trồng và tốn công làm cỏ. Với hai loài keo tai tượng và keo lá
tràm, nhóm tác giả cũng đưa ra kết luận, công thức bón phân tốt nhất cho bón
lót là 100 gam NPK + 160 gam than bùn hoặc 100gam NPK + 100 gam than
bùn + Bo + Zn. ở mật độ 1666 cây/ha, cả hai loài keo cho năng suất cao nhất
sau 40 tháng. Bằng cách tính toán giá thành phân bón và công chăm sóc, các
tác giả cũng đã bắt đầu tính toán hiêu quả kinh tế của việc làm đất và bón
phân và đi đến nhận định là, nếu bón phân có thể thu lợi từ 498.000đ/ha đến
870.000đ/ha sau thời gian 40 tháng.
Mai Đình Hồng (2002), nghiên cứu sinh trưởng của các dòng Bạch đàn
chọn lọc PN2, PN14 trong trồng rừng sản xuất, phục vụ nguyên liệu giấy
vùng trung tâm, đã thông báo kết quả sinh trưởng của bạch đàn urophylla ở
các lập địa khác nhau rất khác nhau, trữ lượng cây đứng sau sáu năm ở hai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
khu vực vạn xuân thuộc Huyện Tam Nông Phú Thọ là 123 m

Đoàn Thị Mai (1997) [21] đã đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì
mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất canh tác
trong lâm nghiệp và vùng nguyên liệu giấy. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
năng suất rừng trồng công nghiệp và lập địa gây trồng có quan hệ mật thiết
với nhau. Tác giả đã dựa vào độ dốc, thực bì đặc trưng và độ sâu tầng đất để
phân dạng lập địa trồng rừng keo tai tượng ở vùng trung tâm thành 5 dạng,
đánh giá sinh trưởng của keo tai tượng, 8 tuổi, mật độ từ 930 - 1100 cây /ha
trên các dạng lập địa.
Trong khi đó ở Đông Nam Bộ, điều tra năng suất rừng trồng keo tai
tượng cũng nhận thấy, độ dầy tầng đất và loại đất có ảnh hưởng lớn tới năng
suất rừng. ở Bầu Bàng trên đất xám, tầng đất dày năng suất rừng 8 tuổi, mật
độ 1600 cây/ha, đạt 16-22m
3
/ha/năm, còn ở Sông Mây, đất mỏng lớp hơn,
trên phiến sét năng suất đạt 15-19 m
3
/ha/năm, ở Minh Đức (Bình Dương) trên
đất xám dày, năng suất rừng 6 tuổi đạt khá cao, từ 25-29 m
3
/ha/năm. Năng
suất rừng trồng còn phụ thuộc nhiều vào giống, làm đất và bón phân. Các kết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

16
quả điều tra đánh giá thấy, giống được cải thiện, làm đất và bón phân hợp lý
đều nâng cao năng suất rừng trồng. Keo lá tràm các trị số tương ứng là 34,4
so với 20,2m
3
/ha/năm. Rõ ràng là để nâng cao năng suất rừng trồng công

Bộ có tiềm năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích

Trích đoạn Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển Keo lai tại địa bàn nghiên cứu Đánh giá hiệu quả môi trường Tình hình chế biến sử dụng gỗ Thị trường lâm sản rừng trồng huyện Chợ Đồn Bắc Kạn Giải pháp về kỹ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status