đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống vườn nhà theo hướng thị trường tại xã định cư hương hòa, huyện nam đông, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Vườn nhà ở nước ta đã có từ lâu đời, nhiều kinh nghiệm làm vườn đã
được tích lũy, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Vườn nhà là mảnh đất
được thiết kế và chăm sóc đặc biệt để tạo ra sản phẩm ăn được hoặc phục vụ
cho du ngoạn, giải trí. Trên khía cạnh sinh thái, mô hình sản xuất vườn là một
hệ thống sinh thái sử dụng tối ưu tài nguyên môi trường không cày bừa hàng
năm. Mặt khác, cùng với rừng, vườn nhà góp phần tăng độ che phủ tạo nên sự
cân bằng sinh thái, điều hòa chế độ thủy văn, cải thiện chế độ nước và ngăn
chặn lũ lụt, chống xói mòn. Về khía cạnh kinh tế, kinh tế vườn chiếm một tỉ
trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp.
Nam Đông là một huyện miền núi thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, với gần
90% dân số là người dân tộc thiểu số. Lãnh thổ Nam Đông chủ yếu là vùng
đồi núi nên hoạt động kinh tế chính ở nơi đây là Nông – Lâm Nghiệp. Trong
những năm gần đây, kinh tế vườn đóng vai trò chủ lực trong kinh tế hộ. Được
sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, kinh tế vườn
ngày càng được chú trọng, nó góp phần tăng thu nhập bình quân trên đầu
Cách trung tâm thành phố Huế 50km về phía Tây Nam, Hương Hòa là một xã
thuộc vùng miền núi Nam Đông. Nhân dân trong xã chủ yếu sống bằng kinh
tế nông nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, có một số nghề phụ nhưng
con số đó là không đáng kể. Để không ngừng phát triển kinh tế xã nhà, chính
quyền địa phương đã chỉ đạo người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo
hướng đa dạng cây trồng đó chú trọng đến những cây có giá trị trong kinh tế
vườn như cau, cam, chuối… chính vì thế, giá trị thu nhập bình quân trên một
đơn vị canh tác tăng lên 15 triệu đồng so với trước đây. Vườn, thực sự đang
dần trở thành kinh tế mũi nhọn trong nền nông nghiệp của xã. Tuy nhiên,
vườn ở Hương Hòa đang còn rất nhiều vấn đề đáng được quan tâm để từ đó
đưa ra những giải pháp thích hợp. Những biến động về giá cả thị trường, tình
hình sâu bệnh… và nhiều yếu tố khác nữa đang là vấn đề cấp bách cho những
hộ tham gia vào kinh tế vườn. Trước tình hình đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “ Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống vườn

có quan hệ chặt chẽ và trao đổ với hệ thống công nghiệp [14].
 Khái niệm thị trường
Thị trường là phạm trù kinh tế tổng hợp gắn liền với quá trình sản xuất
và lưu thông hàng hóa. Thừa nhận hàng hóa không thể phủ định sự tồn tại
khách quan của thị trường [16].
Theo khái niệm cổ điển cho rằng: Thị trường là nơi diễn ra các hoạt
động trao đổi, mua bán hàng hóa. Theo khái niệm này, người ta đã đồng nhất
thị trường với chợ và những địa điểm mua bán hàng hóa cụ thể. Trong kinh tế
hiện đại lại ít dùng khái niệm này.
Khái niệm hiện đại về thị trường rất nhiều. Theo sự tương tác của chủ
thể trên thị trường người ta cho rằng: Thị trường là quá trình người mua và
người bán tác động qua lại lẫn nhau để giải quyêt giá cả và số lượng hàng hóa
mua bán. Theo khái niệm này tác động và hình thành thị trường là một quá
trình không thể là thời điểm hay thời gian cụ thể.
3
Theo nội dung chúng ta có thể khái niệm: Thị trường là tổng thể các
quan hệ về lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ, tổng thể các giao dịch
mua bán và các dịch vụ. Như vậy, thị trường vừa có yếu tố ảo, vừa có yếu tố
thực. Bản chất của thị trường là giải quyết các quan hệ [16].
2.2. Thực trạng vườn trên thế giới
Vườn cây ăn quả trên thế giới phải nói đến là những vườn cây có múi.
Đầu những năm 90 của thế kỷ 20, so với 30 – 40 năm trước đây, sản xuất và
tiêu thụ quả trên thế giới đã có nhiều thay đổi đáng kể. Quả có múi đã trở
thành loại quả quan trọng nhất so với trước đây và nó chỉ bằng hoặc thua ba
loại quả quan trọng khác là nho, chuối (không kể đến chuối lấy bột ở châu
Phi) và quả táo. Vị trí các nước sản xuất nhiều loại quả có múi nhất trên thế
giới theo thứ tự là : Mỹ, Brazinl, Tây Ban Nha, Trung Quốc [5].
Trong những năm nửa sau của thế kỉ XX, sản xuất cam quýt trên thế
giới tăng nhanh. Nhu cầu đối với các cây có múi đang tăng và ngày càng có
nhu cầu lớn hơn. Theo tài liệu của Tổ chức lương thực và nông nghiệp của

năm 1980 là 5,15 triệu tấn với giá trị là 2329 triệu USD. Chanh trao đổi hàng
hóa là 956 nghìn tấn với giá trị là 517 triệu USD. Luồng hàng chủ yếu là từ
các nước Địa Trung Hải và Nam Phi đi châu Âu, từ Mỹ đi Tây Âu và Nhật
Bản. Các nước xuất khẩu cam quýt chủ yếu là Tây Ban Nha, Ixraen, Maroc,
Italia. Các giống cam quýt được ưa chuộng trên thị trường thế giới là: cam
Oasinton naven (cam có rốn), cam Valenxia muộn của Maroc; cam Xamuti
của Ixraen; cam Mantenxo của Tuynazi, các giống quýt Địa Trung Hải như
Colementin, quýt đỏ Đaxni và Unxia [3].
Thị trường thế giới có nhu cầu về cam quýt rất lớn. Nước ta nằm trong
vùng sản xuất cam quýt của thế giới nhưng chỉ sản xuất hàng năm gần 3
kg/người không đủ để đáp ứng cho nhu cầu trong nước. Phát triển cam quýt
để thỏa mãn nhu cầu trong nước đang tăng lên nhanh chóng do đời sống của
nhân dân ngày càng được cải thiện và góp phần từng bước tăng nguồn hàng
xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết và đang mở ra triển vọng to lớn cho nghề trồng
cam quýt ở nước ta [3].
2.3. Thực trạng vườn ở Việt Nam
2. 3.1. Vai trò của nghề làm vườn
Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, nghề làm vườn xuất hiện từ bao
giờ là vấn đề cần được nghiên cứu. Song một điều chắc chắn là nghề làm
vườn được quy tụ rất nhiều, nếu không nói là hầu hết các ngành cấu tạo thành
nền nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi cá, nuôi ong, chế biến nông sản,
tiểu thủ công nghiệp…) ở một trình độ kỹ thuật ngày càng cao. Và từ khi còn
5
ở mức độ thấp, nghề làm vườn cũng đã mang tính chất của sự phát huy tính
sáng tạo chinh phục thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống no đủ về vật chất,
nhân thiện mỹ về tinh thần. Trong lịch vực phát triển nông nghiệp, hiếm có
lĩnh vực nào thể hiện rõ nét và sâu sắc về sự muốn hưởng thụ vẻ đẹp thiên
nhiên như nghề vườn. Ở đây ít có sự hủy hoại thiên nhiên, mà trái lại người ta
muốn bằng bàn tay và khối óc khai thác thiên nhiên một cách hợp lí để nuôi
sống mình đồng thời xây dựng một cảnh sắc tươi đẹp trên nền thiên tạo làm

thành phần: Mặt nước, cây xanh và đá núi nhỏ.
Vườn cảnh Việt Nam không nổi tiếng như vườn Nhật, vườn Trung Hoa
do không có những nét đặc trưng rõ ràng và khuôn mẫu cụ thể cũng như độ
phổ biến rộng rãi ra ngoài các khu vực.
Các vườn cảnh Việt Nam nhất là các khu vườn lớn, cổ thường mang
những nét tương đồng với vườn Trung Hoa như hòn non bộ, thủy đình, các
lều hóng gió, ngắm trăng, các hồ nước được trồng vườn liễu rủ… vườn Việt
Nam thường là sự thể hiện lại nét thiên nhiên mộc mạc, cảnh thường được
Việt hóa để tạo nên nét riêng phù hợp với điều kiện thời tiết, đất đai và văn
hóa lịch sử (Việt Nam là nước vùng nhiệt đới)… từ đó khiến vườn cảnh Việt
Nam đã có nét độc đáo riêng, ví dụ vườn Việt Nam, những yếu tố dân dã và
mộc mạc bản sắc dân tộc luôn được đề cao, coi trọng và thể hiện. Đó là những
nét rất gần gũi với cuộc sống thường nhật ở thôn quê Việt Nam như: cây đa
bến nước, cây khế bờ ao, lũy tre, hàng rào chè tàu hay dâm bụt, cây cau
vương víu bụi trầu… đặc biệt ở vườn cảnh Việt Nam mỗi miền lại có những
ngôi nhà mang đậm nét đặc trưng: nhà ba gian hai chái ở vườn Bắc Bộ, nhà
rường trong những nhà vườn Huế, hoặc được làm đẹp bằng những kiểu nhà
sàn của dân tộc thiểu số vùng cao. Ở Nam Bộ trong vườn thường có thêm
những cây cầu khỉ bằng tre vắt vẻo qua các mương nước như thách thức du
khách đến chơi vườn [19].
Việc phân chia các loại vườn như trên chỉ mang tính tương đối. Hiện
nay các nhà vườn khi tạo lập vườn thường nhằm mục đích khai thác tổng hợp
nhiều mặt. Chính vì thế, một vườn giá trị thường phải đạt các yêu cầu là: Một
7
mặt, nó phải có hiệu quả kinh tế cao một cách ổn định để có khả năng phát
triển vườn theo hướng thâm canh.
Mặt khác, phải đảm bảo các yêu cầu bảo vệ môi sinh, giữ gìn cân bằng
sinh thái, cải tạo và bảo vệ đất đai, phòng hộ và cải thiện tiểu khí hậu. Muốn
đạt được các yêu cầu đó cần phải áp dụng hệ thống kỹ thuật thâm canh tổng
hợp, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật đặc biệt là các thành tựu nông sinh học kết

và sản lượng quả trong thời gian qua nhưng vẫn còn khiêm tốn. Năng suất
một số loại quả chính như cam 9,7 tấn/ha; chuối 14,6 tấn/ha; xoài 6,1 tấn/ha;
dứa 12,7 tấn/ha (Năm 2004) [12]. Năng suất quả Việt Nam còn phân tán,
chưa có vùng chuyên canh lớn, các hình thức liên kết sản xuất khép kín còn
hạn chế đặc biệt là công nghệ thu hoạch – đóng gói – bảo quản còn yếu. Năm
2005, Việt Nam hiện có khoảng 755 nghìn ha cây ăn quả và sản lượng ước
tính 6,5 triệu tấn. Trong đó chuối lớn nhất khoảng 800.000 tấn, nhãn 590.000
tấn [11].
Khi nhắc đến vườn và kinh tế vườn chúng ta không thể không nhắc đến
Tiền Giang. Là địa phương có thế mạnh về cây ăn quả, Tiền Giang đang nổ
lực quy hoạch lại diện tích vườn cây theo hướng chất lượng cao, số lượng lớn,
đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, theo các nhà chuyên
môn, để kinh tế vườn Tiền Giang phát triển bền vững, cần phải có những giải
pháp thực hiện đồng bộ. So với các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL), Tiền Giang có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế vườn. Nơi đây
có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, nông dân có kinh nghiệm trồng cây ăn
quả và là vùng có tập đoàn giống cây ăn quả đa dạng và trú phú. Hiện toàn
tỉnh cao hơn 68 nghìn ha đất vườn trồng cây ăn quả, hằng năm cho sản lượng
gần 1 triệu tấn quả các loại [18].
Kinh tế vườn đóng một vai trò khá quan trọng trong phát triển nông
nghiệp của Tiền Giang, giá trị sản lượng cây ăn quả chiếm gần 52% giá trị
trồng trọt và ngày càng gia tăng. Thiên nhiên ưu đãi cho vùng đất Tiền Giang
8 vùng sinh thái rõ rệt, thích hợp cho sự phát triển nhiều loại cây ăn quả đặc
sản, từ đó hình thành nên những vùng chuyên canh tập trung rất nổi tiếng
9
như: Sầu riêng Ngũ Hiệp ở Cai Lậy, xoài cát Hòa Lộc, bưởi Rông Cổ Cò (Cái
Bè), thanh long (Chợ Gạo), sơ ri Gò Công, dứa Tân Lập (Tân Phước)…[18].
Những năm gần đây, cùng với việc tập trung tăng diện tích cây ăn quả
theo hướng chuyên canh, vấn đề chất lượng quả cũng được nông dân đặc biệt
quan tâm. Những giống kém chất lượng đã được nông dân thay thế dần như:

Những khu vườn Huế bên cạnh góp phần làm đẹp Huế, tạo nên những địa chỉ
du lịch hấp dẫn, chúng còn là nơi sản xuất cây ăn quả đặc sản với những
chủng loại cây ăn quả nhiệt đới và Á nhiệt đới. Sông Hương nước chảy qua
cũng như hàng chục con sông nước chảy qua mảnh đất Thừa Thiên Huế đã
đem lại cho những khu vườn phù sa và nguồn nước. Lượng mưa ở Huế rất
cao làm cho vườn luôn có độ ẩm lớn, thuận lợi cho các loại cây trái phát triển.
Vườn cây ở Thừa Thiên Huế hiện có trên 8000ha tập trung ở các vùng
Nguyệt Biều, Kim Long, Hương Vân, Truồi, Nam Đông… vườn được bà con
trồng đa chủng loại, trồng hỗn hợp nên có phần ảnh hưởng đến năng suất,
nhưng bù lại, vườn Huế cho mùa nào thứ ấy. Từ tháng chạp đến tháng giêng,
tháng 2 (Âm lịch) là mùa của vải và măng cụt. Hầu hết các vườn măng cụt
nằm ở Kim Long, Thủy Biều, Truồi và có những vườn cây đã 80 năm tuổi.
Măng cụt hợp với khí hậu Huế nên cho trái nhiều, lại thu hoạch vào dịp tết,
sau tết nên thường bán được giá. Vào mùa xuân, cùng với vải và măng cụt là
Sapuche. Loại này mới phát triển ở Huế trong vòng 7 năm trở lại đây được
trồng nhiều ở Thủy Biều và Kim Long [1].
Vào mùa hè, trái cây ở Huế rất nhiều. Các vườn chuối, dứa rộng hàng
trăm ha ở Nam Đông, A Lưới thu hoạch đem về bán ở các chợ với giá rẻ. Các
khu vườn cũng đem ra chợ các loại trái cây nổi tiếng: Dâu Truồi, mít, nhãn
lồng, xoài, chanh, me, chôm chôm.
Từ tháng 7 đến tháng 9 có thể nói là mùa đặc sản của trái cây Huế. Nói
đến cây ăn quả đặc sản Huế ai cũng biết đến Thanh trà. Loại cây này được
trông khắp mọi nơi, song ngon nhất là ở hai vùng Hương Vân, đầu nguồn
sông Bồ và Thủy Biều ở Huế. Hương vị Thanh trà ở hai vùng này rất thơm,
ăn ngon và trái ít hạt. Ngoài ra mùa thu ở Huế cũng có nhiều loại cam quýt…
11
Mùa đông ở Huế gắn với “Mít mùa đông ba đồng một múi” của câu ca
xưa. Ý là mùa đông ở Huế ít trái cây, ấy nhưng bây giờ mùa đông bây giờ ra
chợ thế nào cũng gặp những hàng trái mãng cầu dai, những sạp hồng đỏ ối…
của vườn Huế đem tới. Đặc biệt một số vườn Huế hiện nay cũng có sầu riêng.

hiện nay của hai địa phương trên – Huyện Nam Đông hiện nay là vùng phát
triển cây ăn quả tập trung và lớn nhất hiện nay; Thành phố Huế là đặc trưng
12
nhà vườn của Thừa Thiên Huế.Quảng Điền, Phú Vang và A Lưới là ba địa
phương có diện tích trồng cây ăn quả chiếm tỉ lệ thấp nhất. Điều đó cho thấy
rõ ràng tiềm năng về đất đai để phát triển cây ăn quả ở Thừa Thiên Huế là rất
lớn [1].
• Loại hình vườn
Ở Thành Phố Huế có đủ 4 loại hình vườn, trong đó vườn nhà chiếm tỉ
lệ gần gấp đôi vườn kinh tế (59,42% so với 32,61%). Điều này phản ánh đúng
thực tế nhà vườn Huế mang giá trị văn hóa nhiều hơn giá trị kinh tế. Đây
chính là nét đặc trưng nhất của nhà vườn Huế. Huyện Hương Trà là địa
phương có tỉ lệ vườn kinh tế cao nhất (64,3%) so với các địa phương còn lại.
Huyện Nam Đông mặc dù là địa phương tập trung nhiều chủng loại cây ăn
quả của tỉnh Thừa Thiên Huế nhưng mô hình vườn kinh tế vẫn chưa cao.
Huyện Phong Điền và Quảng Điền là 2 địa phương có mô hình vườn kinh tế
chiếm tỉ lệ thấp nhất (13,89% và 13,42%). Với tỉ lệ trên 80% là vườn nhà nên
việc cải tạo vườn nhà thành vườn cây ăn quả là một vấn đề cần thiết phải
được quan tâm .
• Vấn đề quy hoạch vườn
Ở Thừa Thiên Huế việc trồng cây ăn quả theo quy hoạch hầu như chưa
được chú đến. Theo Phạm Quang Bảo thì ở Huế vườn tạp chiếm tỉ lệ cao so
với vườn được quy hoạch, có hơn 60% địa phương có tỉ lệ vườn tạp trên 65%.
Điều này thể hiện tính hiệu quả đem lại từ vườn ở Thừa Thiên Huế trong
nhiều năm qua là rất thấp. Huyện Phong Điền là huyện có tỉ lệ vườn tạp cao
nhất (93,29%), còn huyện Hương Trà là huyện có tỉ lệ vườn quy hoạch cao
nhất, chiếm tới 73,64% diện tích vườn của toàn huyện [1].
• Cấu trúc vườn
Đặc trưng của vườn nhà Huế là ngoài trồng cây ăn quả ra thì trong
vườn còn trồng thêm một số loại cây khác. Điều đó được thể hiện qua bảng

thống theo hướng thị trường.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
- Dùng cả phương pháp định tính và định lượng để tiến hành nghiên
cứu
- Thu thập thông tin thứ cấp thông qua Báo cáo hàng năm của xã
Hương Hòa
- Thu thập thông tin thứ cấp qua các hộ có tham gia vào kinh tế vườn
tại xã Hương Hòa và những người am hiểu
• Phương pháp thu thập thông tin
Chọn 45 hộ có vườn tại xã Hương Hòa trong đó chọn ngẫu nhiên 15 hộ
khá, 15 hộ trung bình và 15 hộ nghèo.
Sử dụng một số công cụ PRA đề tiến hành thu thập thông tin
 Tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập thông tin từ các hộ có hệ
thống vườn, người am hiểu, cán bộ chuyển giao kỹ thuật cho người dân
15
 Quan sát thực địa
Quan sát một cách tổng thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại xã
Hương Hòa, trong đó đặc biệt chú trọng đến hệ thống vườn của xã.
• Phương pháp xử lí, đánh giá và phân tích số liệu
- Thống kê các số liệu thu thập được từ phiếu phỏng vấn
- Xử lí trên phần mềm Excel.
16
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 . Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lí
Xã Hương Hòa, Huyện Nam Đông, Tỉnh Thừa Thiên Huế được tách ra
từ xã Hương Lộc và thành lập từ tháng 4 năm 1997 theo nghị định 22/ND –
CP ngày 17/3/1997. Hương Hòa là một xã miền núi cách trung tâm thành phố
Huế 50km về phía Nam, có diện tích tự nhiên là 1109ha với dân số là 2261

việc giao lưu giữa xã với các nơi khác cũng không được thuận lợi, điều đó
ảnh hưởng rất nhiều đến sựu phát triển kinh tế chung của toàn xã.
Tình hình sử dụng đất đai ở xã Hương Hòa được thể hiện qua bảng số
liệu sau:
Bảng 1: Tình hình sử dụng đất ở xã Hương Hòa
Phân loại Diện tích (Ha) Tỉ lệ (%)
1. Đất nông nghiệp
- Đất trồng cây lâu năm
- Đất trồng cây hàng
năm
808,41
284,21
524,20
72,90
26,63
46,27
1. Đất phi nông nghiệp 100,75 9,08
2. Đất chưa sử dụng 199,80 18,02
Tổng diện tích 1.109 100
(Nguồn: Niên giám Thống kê, Huyện Nam Đông, 2007)
Diện tích đất nông nghiệp vẫn chiếm một tỉ lệ cao nhất trong cơ cấu
diện tích đất đai của xã Hương Hòa. Trong đó, diện tích đất trồng cây hàng
năm lớn hơn nhiều so với diện tích đất trồng cây lâu năm. Tuy nhiên, hiện nay
và sắp tới đây, một phần lớn diện tích đất trồng cây hàng năm sẽ được chuyển
đổi để trồng cây lâu năm. Bởi vì, điều kiện đất đai – khí hậu – thời tiết ở
Hương Hòa rất khó khăn cho việc trồng cây hàng năm. Trồng cây lâu năm
mang lại hiệu quả kinh tế hơn nhiều.
18
Đất phi nông nghiệp chiếm một tỉ lệ không lớn (chỉ 9,08%). Dự kiến
trong thời gian tới, một phần đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế thấp sẽ được

như cau, chuối, tiêu và các loại cây có múi như cam, chanh, bưởi… chứ chưa
có các loại giống cây mới phù hợp với điều kiện địa phương. Đây chính là
điều kiện hạn chế của hệ thống vườn ở Nam Đông nói chung và ở Hương Hòa
nói riêng.
- Cây cao su
Tổng diện tích cao su trên toàn xã là 360ha, trong đó cao su kinh doanh
là 30ha. Xã đã chỉ đạo trồng mới 84ha cao su, tăng cường công tác quản lí,
chăm sóc đầu tư thâm canh, đồng thời tiến hành thâm canh trồng xen sắn
KM94, do tình hình thời tiết mưa kéo dài nên tình hình bệnh héo đen đầu lá
xảy ra trên diện rộng. Về cao su kinh doanh, trên địa bàn còn khoảng 30 ha, từ
khi bắt đầu khai thác đến nay sản lượng ước tính là 43 tấn mủ đông, tương
ứng giá trị gần 500 triệu đồng. Bên cạnh đó, trồng xen các loại cây ngắn ngày
vào 120ha diện tích cao su bị đổ do bão số 6, chủ yếu là sắn KM94 cho thu
nhập gần 800 triệu đồng.
Bão số 6 đi qua, để lại một hậu quả nặng nề cho nhân dân toàn xã đặc
biệt là những hộ gia đình có trồng cao su. Trên địa bàn xã có khoảng 355ha
cao su bị thiệt hại do bão số 6, trong đó có gần 220ha cao su đang trong thời
kì cho kinh doanh [9]. Đối với cây cao su bị thiệt hại, hiện nay có 95% diện
tích các lô đã khai thác bán gỗ và dọn vườn, UBND xã đã chủ động triển khai
cho các hộ dân đăng kí giống trồng lại và liên hệ mua cây giống, đến nay
nhân dân đã trồng lại được 81,46ha.
- Cây chè
Trước đây, chè là một trong những cây trồng chủ lực của xã nhưng hiện
nay, thu nhập từ việc trồng chè không cao nên nhân dân đã chuyển đổi trồng
chè sang trồng các loại cây trồng khác có thu nhập cao hơn. Diện tích cây chè
còn lại trên địa bàn không nhiều, khoảng hơn 25ha, phần lớn diện tích chè
được thay thế bằng cây cao su, tuy nhiên bà con vẫn chú trọng công tác đầu tư
nhằm tạo thu nhập trước mắt trong khi vườn cây cao su đang trong thời kì
20
kiến thiết cơ bản. Do giá thành về sản phẩm chè tăng, nên nhân dân cũng có

ha. Diện tích đất lâm nghiệp ở đây được các nông hộ quy hoạch thành vườn
đối với các loại cây trồng chủ yếu là cao su và keo nhưng hầu hết diện tích
đang ở thời kì kiến thiết cơ bản.
Nhận thức được hiệu quả của rừng trồng nên nhân dân chú trọng công
tác đầu tư chăm sóc. Bên cạnh đó, công tác quản lí bảo vệ rừng, phòng chống
cháy rừng được chính quyền và nhân dân quan tâm. Rừng đã đưa lại cho
người dân Hương Hoà một nguồn thu nhập không nhỏ. Định hướng của xã là
trong những năm tới sẽ khai thác tiềm năng rừng của xã một cách có hiệu quả
và bền vững nhằm nâng cao thu nhập cho người dân nhưng vẫn không ảnh
hưởng đến thế hệ sau.
 Tài nguyên, môi trường
Đứng trước một thực tế cho nông nghiệp nước nhà nói chung và nông
nghiệp Hương Hoà nói riêng là diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp,
chính vì thế, việc bảo vệ môi trường cũng như bảo vệ tài nguyên đất ở Hương
Hoà rất được chú trọng. Năm 2006, xã đã tiến hành công tác quản lí, sử dụng
đất theo sự chỉ đạo quy hoạch của UBND huyện và các phòng có liên ban,
liên cấp huyện. Tình hình quản lí và sử dụng đất đã đạt được hiệu quả tốt.
Môi trường, đặc biệt là môi trường đất, môi trường nước là một vấn đề
rất đáng được quan tâm ở Hương Hoà chính vì thế, công tác bảo vệ môi
trường được người dân cũng như chính quyền địa phương quan tâm. Công tác
bảo vệ môi trường có có sự phối hợp kiểm tra giữa người dân và chính quyền
địa phương. Công việc chính chủ yếu là nâng cao ý thức người dân trong việc
bảo vệ môi trường đồng thời cùng với người dân thường xuyên kiểm tra các
điểm bị ô nhiễm. Người dân đã có những nhận thức tiến bộ trong bảo vệ môi
trường. Bảo vệ môi trường, nó không đơn thuần là việc làm cho môi trường
không bị ô nhiễm, sâu sắc hơn, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khoẻ,
bảo vệ sự sống cho mỗi người dân.
22
4.1.2.2 Điều kiện xã hội
• Lịch sử hình thành và cơ cấu hành chính

nhưng giáo dục ở Hương Hoà rất được chú trọng. Toàn xã có 2 nhà trẻ, một
trường cấp 1 và một trường cấp 2. Nhà trẻ, nhà mẫu giáo có tổng là 112 cháu.
Xã giữ vững phổ cập trung học đúng độ tuổi đạt 97,4% và phổ cập THCS đạt
tỉ lệ 95,14%. Tỉ lệ học sinh thi đậu vào các trường Đại học, Cao Đẳng cao
nhất từ trước đến nay. Có tới 8 người thi đậu vào Đại học, 4 người thi đậu vào
Cao Đẳng, đặc biệt ở thôn 9 có 5 em thi đậu vào Đại học. Tuy nhiên, tình
trạng học sinh bỏ học giữa chừng vẫn còn đang xảy ra
• Y tế
Xã Hương Hoà có 1 trạm y tế và đã được công nhận đạt chuẩn Quốc
gia về trạm y tế cơ sở. Trên địa bàn, không có dịch bệnh xảy ra, các chương
trình y tế được triển khai đồng bộ và có chất lượng, phong trào phòng bệnh
trong nhân dân ngày càng được chú ý. Trạm y tế đã triển khai chương trình
tiêm chủng mở rộng cho trẻ em và bà mẹ mang thai. Số trẻ em được tiêm
chủng đạt 100%. Đối với một xã thuộc huyện miền núi thì đây quả thực là
một con số đáng để chúng ta nói đến. Hàng năm, trạm y tế tiến hành khám
sức khoẻ cho người dân trong xã. Trong năm qua, có tới 3819 lượt người đến
khám. Trong số đó, khám BHYT là 2070 lượt. Khám cho trẻ em dưới 6 tuổi
là 527 lượt. Khám nghĩa vụ quân sự là 17 lượt. Đặc biệt, ở đây có điều trị
bằng phương pháp y học cổ truyền với 841 lượt người đến tham gia điều trị
• Cơ sở hạ tầng trong toàn xã
Đa số người dân trong toàn xã đều có nhà ngói để ở. Đối với một huyện
thuộc miền núi thì con số này không phải là nhiều, Hương Hòa chính là một
điển hình của huyện Nam Đông (đứng sau Thị trấn Khe Tre và xã Hương
Giang). 90% số hộ trong toàn xã đã có nhà vệ sinh. Đường sá đi lại giữa các
thôn trong xã đã được bê tông hóa 80%, tuy nhiên, hiện nay 20% trong số đó
đã bị xuống câp. Xã đang vận động người dân đóng góp để chỉnh sửa lại
những đoạn đường đã bị hư hỏng nhằm thuận lợi hơn trong việc đi lại của
người dân cũng như giao lưu kinh tế, văn hóa với các địa phương khác.
24
Hiện nay, công trình xây dựng trụ sở UBND xã Hương Hòa đang được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status