ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN VIỆT ANH
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG CÂY KEO LAI TẠI XÃ BÌNH TRUNG,
HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN”
tạo trong công việc, đáp ứng yêu cầu của xã hội, góp phần xứng đáng vào sự
nghiệp phát triển chung của đất nước.
Được sự đồng ý của khoa Lâm Nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo lai tại xã Bình Trung,
huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”. Để thực hiện đề tài này, ngoài sự nỗ lực của
bản thân còn có sự giúp đỡ của các thầy (cô) giáo khoa Lâm Nghiệp, Trường
Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, các cán bộ thuộc UBND xã Bình Trung và
nhân dân trong xã, đặc biệt sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo - TS. Trần
Quốc Hưng trong suốt thời gian thực tập của mình.
Qua đây cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả sự giúp đỡ quý báu trên.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ chuyên môn của bản thân, thời
gian có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, tôi kính mong
nhận được sự góp ý của quí thầy (cô), các bạn đồng nghiệp để bài của tôi
ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Việt Anh
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1. Thông tin chung về cây Keo lai 3
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
4.1.1. Quá trình phát triển rừng trồng tại xã Bình Trung, huyện
Chợ Đồn 30
4.1.2. Diện tích và tỷ lệ phát triển trồng Keo lai tại xã Bình Trung . 31
4.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển Keo lai tại địa bàn
nghiên cứu 32
4.2. Khả năng sinh trưởng của cây Keo lai tại xã Bình Trung 35
4.2.1. Tăng trưởng về đường kính D
1.3
35
4.2.2. Sinh trưởng về chiều cao H
vn
38
4.3. Đánh giá hiệu quả của của cây Keo lai tại địa bàn nghiên cứu 41
4.3.1. Hiệu quả kinh tế 41
4.3.2. Hiệu quả xã hội 45
4.3.3. Đánh giá hiệu quả môi trường. 46
4.4. Tình hình chế biến sử dụng gỗ và thị trường tiêu thụ sản phẩm 48
4.4.1. Tình hình chế biến sử dụng gỗ 48
4.4.2. Thị trường tiêu thụ sản phẩm 50
4.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển trồng Keo lai ở xã Bình Trung 51
4.5.1. Giải pháp về kỹ thuật 51
4.5.2. Các giải pháp về chính sách 51
4.5.3. Các giải pháp về kinh tế- xã hội 52
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
NQ - HĐND : Nghị quyết hội đồng nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Sinh trưởng chiều cao các loài keo 18 tháng tuổi Mindoro
Mindanao 5
Bảng 3.1. Thang điểm độ dốc và thành phần cơ giới đất 27
Bảng 3.2. Thang điểm, độ tàn che và độ che phủ của rừng trồng Keo lai 27
Bảng 3.3. Tổng hợp điểm cấp phòng hộ rừng trồng Keo lai 27
Bảng 4.1. Hiện trạng các loài cây trồng tại xã Bình Trung 32
Bảng 4.2. Đặc điểm đất dưới tán rừng trồng Keo lai 32
Bảng 4.3. Sinh trưởng về đường kính (D
1.3
) của Keo lai tại Bình Trung 36
Bảng 4.4. Sinh trưởng chiều cao của Keo lai tại các tuổi 38
Bảng 4.5. Trữ lượng của Keo lai qua các độ tuổi 42
Bảng 4.6. Thống kê thu nhập và chi phí mô hình Keo lai Bình Trung 43
Bảng 4.7. Thống kê thu nhập và chi phí mô hình Mỡ Bình Trung 44
Bảng 4.8. Bảng cân đối thu nhập và chi phí cho 1 ha rừng trồng 45
Bảng 4.9. Mức độ tham gia của người dân vào hoạt động lâm nghiệp 46
Bảng 4.10. Cấp độ phòng hộ của Keo lai 47
Bảng 4.11. Kết quả điều tra, khảo sát một số cơ sở chế biến và sử dụng
gỗ rừng trồng của xã Bình Trung - Chợ Đồn. 48
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài 25
Hình 4.1. Biểu đồ sinh trưởng đường kính D
1.3
số 147/2007/ QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát
triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 – 2015. Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban
hành Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 07/10/2011 về việc phê duyệt
chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất một số cây trồng trong phát triển nông
nghiệp chính và trồng rừng sản xuất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 - 2015. Đây
là những chính sách thiết thực nhằm khuyến khích nhân dân tham trồng rừng,
đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh
Bắc Kạn nói chung và xã Bình Trung nói riêng. 2
Tuy nhiên, thực tế trên địa bàn xã hiện nay nhân dân chủ yếu tập trung
phát triển trồng cây Mỡ là chủ yếu nên dẫn đến nhiều yếu tố bất lợi như: một
số nơi chưa phù hợp với điều kiện lập địa, sâu bệnh phát triển mạnh, chu kỳ
kinh doanh dài, nên hiệu quả kinh tế chưa thực sự hiệu quả. Để phát triển
lâm nghiệp ở xã một cách bền vững trên cơ sở yêu cầu phải lựa chọn cây
trồng phù hợp với những điều kiện thực tế tại địa phương, khắc phục được
những tồn tại hạn chế trong thực hiện công tác trồng rừng của huyện trong
những năm qua. Vì vậy đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp
phát triển rừng trồng cây Keo lai tại xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh
Bắc Kạn” là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế,
góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống cho người dân và góp phần
quan trọng việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác trồng và phát triển cây Keo lai của xã
nhằm đề xuất các giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo lai tại xã Bình
Trung tỉnh Bắc Kạn góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của
người trồng rừng.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp cho sinh viên kiểm chứng
- Keo lai còn có tác dụng cải tạo đất, cải tạo môi trường thông qua khả
năng cố định đạm, lưu giữa carbon và lượng cành khô rụng hàng năm trả lại
cho đất lượng chất hữu cơ đáng kể.
- Rừng trồng Keo lai cũng được đánh giá là cây trồng mang lại hiệu quả
kinh tế cao, nhanh thu hồi vốn, thời gian sinh trưởng ngắn hơn các loài cây
trồng rừng khác (từ 5 đến 7 năm đã được khai thác).
- Kỹ thuật trồng Keo lai đơn giản, dễ trồng, hiện nay nhiều người dân đã
biết trồng rừng Keo lai. 4
Từ những đặc tính và công dụng nêu trên, Keo lai đã được trồng phổ
biến nhiều vùng trong cả nước và được đánh giá là cây đa tác dụng, có vị trí
quan trọng trong danh mục cơ cấu cây trồng lâm nghiệp chủ lực, cần được
phát triển để góp phần vào việc nâng cao hiệu quả trồng rừng và xóa đói giảm
nghèo ở những vùng miền núi.
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1. Trồng rừng nguyên liệu công nghiệp năng suất cao
Trồng rừng thành công ở Bradin là một điển hình hết sức khích lệ. Năm
1991, Campinhos đã thông báo kết quả thực tiễn năng suất rừng trồng trong
suốt 30 năm ở Bradin. Có thể thấy do nhờ chọn giống, nhân giống hom và
thâm canh mà năng suất rừng trồng tăng 5% mỗi năm qua một chu kỳ dài 30
năm như:
1960 - 1965, hạt giống chất lượng di truyền thấp, năng suất
13m
3
/ha/năm.
1966 - 1970, hạt giống chất lượng di truyền thấp, có sử dụng bón phân,
năng suất đạt 17m
3
3
/ha/năm, trong khi đó các dòng vô
tính trồng đại trà, đạt trên 30m
3
/ha/năm. Tác giả cho rằng, giai đoạn đầu rừng
trồng từ hạt đôi khi có chiều cao lớn hơn rừng trồng từ dòng vô tính, do vậy
dùng số liệu chiều cao trong hai năm đầu có thể dẫn đến kết luận sai lầm. Các
dòng vô tính từ vật liệu chọn giống thế hệ cho năng suất cao hơn và đồng đều
hơn cây con từ hạt. Kết luận trên của Quaile là đòn bẩy khích lệ công tác
trồng rừng vô tính phục vụ nguyên liệu công nghiệp ở Nam Phi.
2.2.2. Những nghiên cứu về các loài keo Acacia
Trong những năm 1980, các loài keo Acacia đã được đưa vào thử
nghiệm ở nhiều nước vì những khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải
tạo đất, chống xói mòn, năng suất cao. Khảo nghiệm ở Philippin với 7 loài,
cho thấy Keo tai tượng có chiều cao đứng thứ ba ở cả hai điểm thí nghiệm
(Havmoller,1989).
Bảng 1.1. Sinh trưởng chiều cao các loài keo 18 tháng tuổi Mindoro
Mindanao
Loài Mindoro Mindanao
A.crassicarpa 4,8 m 5,9 m
A.auriculiPormis 4,3 m 5,3 m
A.mangium 3,5 m 5,0 m
A.aulacocarpa 3,5 m 3,9 m
A.leptocarpa 2,8 m 4,3 m
A.cincinnata 2,8 m 3,7 m
A.polystachya 2,6 m 3,1 m
Năm 1986, trên đảo Hải nam -Trung quốc, một khảo nghiệm với 20
xuất xứ của 8 loài keo đã được thực hiện, ở tuổi thứ 2, thứ tự xếp hạng của
các xuất xứ như sau (Minquan, Ziayu và Yutian ,1989). Kết quả nghiên cứu
7
Malaysia. Năm 1978 Pedkey được xác định là giống lai. Nghiên cứu năm
1987 của Rufelds đã thấy rằng Keo lai xuất hiện từ rừng keo tai tượng với
mức 3-4 cây/ha, còn Wong thì thấy xuất hiện ở tỷ lệ 1/500.
Năm 1991, Cyeil Pisno và Robert Nasi đã thấy rằng tại Ulukukut, cây lai
tự nhiên đời F1 sinh trưởng khá hơn các xuất xứ của Keo tai tượng ở Sabah.
Các tác giả này cũng thấy gỗ của cây lai là trung gian giữa keo tai tượng và
keo lá tràm, có phẩm chất tốt hơn Keo tai tượng.
Edmund Gan và Sim Bon liang (1991) [14] nghiên cứu hình thái ở giai
đoạn vườn ươm và thấy rằng trong lúc Keo lá tràm có lá giả điển hình (lá của
cây trưởng thành) ở lá thứ 5. Keo tai tượng ở lá thứ 12 thì Keo lai ở lá thứ 8.
Sau này Keo lai cũng được phát hiện ở Thái lan (Kijkar, 1992), tuy
nhiên mức độ xuất hiện trên diện tích gây trồng đều rất ít. Năm 1992 ở
Inđônêxia, bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai bằng cây con được nhân giống
từ nuôi cấy mô phân sinh cùng Keo tai tượng và Keo lá tràm.
Mặc dù Keo lai trên thế giới được phát hiện khá sớm và đã được nghiên
cứu phát triển trong trồng rừng, nhưng các công trình nghiên cứu về Keo lai
chưa nhiều.
2.2.3. Nghiên cứu lợi ích kinh tế từ rừng trồng
Khi nghiên cứu về phương diện kinh tế của rừng trồng cũng được nhiều
người quan tâm. Theo tài liệu lưu trữ trong Tree CD-ROM
(CAB.International for Asia) từ năm 1939 đến năm 1995 có 48 công trình
đánh giá hiệu quả kinh tế trong lâm nghiệp, trong đó có 9 công trình đánh giá
hiệu quả kinh tế của rừng trồng và chủ yếu tập trung đánh giá hiệu quả của
các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.
Hans M. Gregersen và Amoldo, H. Contresal (1979), trong cuốn "Phân
tích kinh tế các dự án trong lâm nghiệp" đã đưa ra các phương pháp tính hiệu
quả kinh tế trong trồng rừng với các nội dung cơ bản về lãi xuất, cơ sở tính lãi
gam than bùn đã hoạt hoá. Công thức cho bón thúc là 75 gam urê + 125 gam
Supe lân. Các tác giả cũng kiến nghị không nên trồng mật độ thưa 1111
cây/ha vì tán quá thưa, tạo điều kiện cho cỏ Mỹ phát triển, không có lợi cho
sinh trưởng của cây trồng và tốn công làm cỏ. Với hai loài keo tai tượng và
keo lá tràm, nhóm tác giả cũng đưa ra kết luận, công thức bón phân tốt nhất
cho bón lót là 100 gam NPK + 160 gam than bùn hoặc 100 gam NPK + 100 9
gam than bùn + Bo + Zn. ở mật độ 1666 cây/ha, cả hai loài keo cho năng suất
cao nhất sau 40 tháng. Bằng cách tính toán giá thành phân bón và công chăm
sóc, các tác giả cũng đã bắt đầu tính toán hiêu quả kinh tế của việc làm đất và
bón phân và đi đến nhận định là, nếu bón phân có thể thu lợi từ 498.000đ/ha
đến 870.000đ/ha sau thời gian 40 tháng.
Mai Đình Hồng (2002), nghiên cứu sinh trưởng của các dòng Bạch đàn
chọn lọc PN2, PN14 trong trồng rừng sản xuất, phục vụ nguyên liệu giấy
vùng trung tâm, đã thông báo kết quả sinh trưởng của bạch đàn Urophylla ở
các lập địa khác nhau rất khác nhau, trữ lượng cây đứng sau sáu năm ở hai
khu vực vạn xuân thuộc Huyện Tam Nông Phú Thọ là 123 m
3
/ha và khu vực
Huyện Đoan Hùng, Phú Thọ là 155m
3
/ha. Sinh trưởng ở vùng trồng khác
nhau cũng khác nhau rất lớn, rừng trồng sau 3 năm tuổi ở vùng Hữu Lũng -
Lạng Sơn là 104 m
3
/ha, ở Đoan Hùng, Phú Thọ là 75 m
3
/ha, còn ở Vạn xuân
Trong khi đó ở Đông Nam Bộ, điều tra năng suất rừng trồng keo tai
tượng cũng nhận thấy, độ dầy tầng đất và loại đất có ảnh hưởng lớn tới năng
suất rừng. Ở Bầu Bàng trên đất xám, tầng đất dày năng suất rừng 8 tuổi, mật
độ 1600 cây/ha, đạt 16-22m
3
/ha/năm, còn ở Sông Mây, đất mỏng lớp hơn,
trên phiến sét năng suất đạt 15-19 m
3
/ha/năm, ở Minh Đức (Bình Dương) trên
đất xám dày, năng suất rừng 6 tuổi đạt khá cao, từ 25-29 m
3
/ha/năm. Năng
suất rừng trồng còn phụ thuộc nhiều vào giống, làm đất và bón phân. Các kết
quả điều tra đánh giá thấy, giống được cải thiện, làm đất và bón phân hợp lý
đều nâng cao năng suất rừng trồng. Keo lá tràm các trị số tương ứng là 34,4
so với 20,2m
3
/ha/năm. Rõ ràng là để nâng cao năng suất rừng trồng công
nghiệp, cần phải chọn giống đã được cải thiện, phải chọn lập địa phù hợp để
phát huy năng suất, tiềm năng của nguồn giống đã cải thiện, cần tiến hành
thâm canh rừng trồng thông qua các biện pháp làm đất, bón phân hợp lý. Với
Keo tai tượng và Keo lai, đạt năng suất 25 đến 30 m
3
/ha/năm, sau 7-8 năm
kinh doanh với lãi suất vay 7%, thì tỷ suất lãi nội bộ IRR có thể đạt 18-20%
nghĩa là trồng rừng có lãi. Nếu trữ lượng đạt 70 m3/ha sau 8 năm, năng suất
chỉ đạt gần 9m
3
/ha/năm, thì với lãi suất 7%/ năm, người trồng rừng sẽ không
có lãi, tỷ suất lãi nội tại IRR chỉ đạt 7,68%. Theo tính toán năng suất phải đạt
kính đều lớn hơn keo bố, mẹ, đến 18 tháng tuổi chúng vẫn có sinh trưởng cao
hơn các dòng bố mẹ đối chứng.
Đoàn Thị Mai (1997) [8], thông báo kết quả nhân giống một số dòng Keo
lai bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, cũng cho kết quả tương tự như tác giả.
Nguyễn Ngọc Tân, để nhân tạo chồi Keo lai với hệ số nhân cao, chỉ cần
dùng riêng BAP mà không cần phối hợp với chất khác, với nồng độ BAP 2,0
mg/l cho kết quả cao nhất.
Lê Đình Khả và cộng sự (2000) [6], nốt sần và khả năng cải tạo đất của
Keo lai đã thông báo kết quả ở giai đoạn 3 tháng tuổi, số lượng và khối lượng
nốt sần trên rễ của Keo lai gấp 3-10 lần các loài keo bố, mẹ. Số lượng tế bào
vi khuẩn cố định đạm trong bầu đất, cao hơn so với bố, mẹ, một số khác có
tính chất trung gian.
Dưới tán rừng 5 tuổi, số tế bào vi sinh vật và vi khuẩn cố định đạm trong
1 gam đất dưới tán rừng Keo lai cao hơn rõ rệt so với bố, mẹ. Đất dưới tán
rừng Keo lai được cải thiện hơn đất dưới tán rừng keo của bố, mẹ ,cả về hoá,
lý tính. 12
2.3.3. Về kinh tế - chính sách và thị trường
Nhìn chung, những nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển trồng
rừng sản xuất ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã được quan tâm nhiều
hơn, song cũng mới chỉ tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh
giá hiệu quả kinh tế của cây trồng, sử dụng đất lâm nghiệp và một số nghiên
cứu nhỏ về thị trường. Có thể kể đến các nghiên cứu của các tác giả:
- Võ Nguyên Huân (1997) [4], đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở
Thanh Hoá; từ việc nghiên cứu các loại hình chủ rừng sản xuất đưa ra khuyến
nghị các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý
và sử dụng bền vững. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn và
hạn chế của chính sách giao đất khoán rừng đồng thời đề xuất các khuyến
đường nối hành lang phía Bắc và Đông của tỉnh Tuyên Quang đồng thời
kết nối với trung tâm 6 xã lân cận: Nghĩa Tá, Phong Huân, Lương Bằng,
Yên Mỹ, Yên Nhuận. Là xã đạt tiêu chuẩn trung tâm cụm xã, có ranh giới
tiếp giáp như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Phong Huân và xã Nghĩa Tá.
+ Phía Nam giáp xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên.
+ Phía Đông giáp xã Yên Nhuận và tỉnh Thái Nguyên.
+ Phía Tây tiếp giáp xã Trung Minh huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Phạm vi đối với quy hoạch chi tiết thì không bao gồm toàn xã mà tập
trung vào điểm dân cư nông thôn trong đó có tính đến trung tâm xã, hoặc khu
vực có tính đặc thù (nông nghiệp hay tâm linh…).
2.4.1.2.Khí hậu, thủy văn
Xã Bình Trung có những nét đặc trưng của khí hậu miền núi bắc bộ, khí
hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông khô và lạnh; Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.
Nhiệt độ trung bình năm là 21,2°C. Hướng gió chính là gió Đông nam.
a/ Nhiệt độ:
- Nhiệt độ trung bình các tháng cao nhất: (28÷29)°C trong các tháng 6,
tháng 7.
- Các tháng lạnh nhất trong mùa đông là tháng 1 và tháng 2: nhiệt độ
trung bình 16,1°C. Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối có thể xuống (- 2°C).
- Tổng nhiệt độ cả năm đạt: (7000÷8000)°C. 14
b/. Chế độ mưa:
- Lượng mưa trung bình năm: 1700mm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, lượng mưa chiếm 75÷80% lượng mưa cả năm, tập trungvào các tháng 7
và tháng 8. Số ngày mưa trong năm vào khoảng: 150-179ngày/ năm.
c/. Độ ẩm:
Bình quân năm: 82÷85%, thấp nhất đạt 50% vào các tháng mùa mưa.
Khuổi Mâng, suối Khuổi Pèo, suối Khuổi Trang.
2.4.1.4. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu
a. Tài nguyên đất
- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét và đá biến chất, tầng đất
dày trung bình, thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc pha sét, kết cấu tốt, tỷ lệ đạm
trung bình. Trên đất có thảm thực vật che phủ và có tỷ lệ mùn khá cao. Loại đất
này thích hợp cho trồng cây công nghiệp như quế, chè hoặc trồng cây ăn quả.
- Đất dốc tụ và phù sa ven sông, suối phân bố ở các thung lũng và dọc
theo các sông suối. Tầng đất dày thành phần cơ giới thịt nặng đến sét, đất
chua, hàm lượng dinh dưỡng khá cao, thích hợp cho trồng cây lương thực,
thực phẩm.
Nhìn chung tài nguyên đất của Bình Trung tương đối thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp.
b. Tài nguyên rừng:
Theo số liệu thống kê năm 2010, xã có 5.812,30 ha đất lâm ngiệp. Trong
đó đất rừng tự nhiên sản xuất có 3.918,07ha, chiếm 67,41% diện tích đất lâm
nghiệp, đất có rừng trồng sản xuất 734,13ha, chiếm 12,63% diện tích đất lâm
nghiệp, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất 1.160,10 ha chiếm 19,96%
diện tích đất lâm nghiệp.
Rừng tự nhiên có độ che phủ thực vật tương đối khá, với các loại cây bản
địa và một số loại gỗ quý như Dổi, Re, Sến, Trò…tuy nhiên trữ lượng lâm sản
không cao do trước đây đã bị khai thác cạn kiệt.
c. Tài nguyên nước
- Nước mặt
Xã Bình Trung có sông Phó Đáy chảy qua, nguồn nước mặt tương đối phong
phú, với lượng mưa trung bình khoảng 1700 mm, đây là nguồn nước phục vụ cho
sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong địa bàn xã. Tuy nhiên muốn khai thác sử
dụng được cần có sự đầu tư xây dựng và mở rộng các đập chứa nước.
trong điều kiện biến đổi khí hậu. 17
2.4.
2.
Phân tính đánh giá tổng hợp về dân số, lao động, kinh tế, văn
hoá - xã h
ội
2.4.2.1. Dân số và lao động
a. Dân số và lao động
Dân số: Xã Bình Trung với 6 dân tộc anh em cùng sinh sống, dân số xã
năm 2011 là 2882 nhân khẩu, phân bố thành 15 thôn bản với 689 hộ. Tỷ lệ
tăng dân số trung bình là: 1,2%. Biến động qua các năm có tăng theo tự nhiên.
Dân tộc Tày chiếm 51,1 %, dân tộc Kinh chiếm 1,23 %, dân tộc Dao chiếm
25,2%, dân tộc Mông chiếm 18.52%, dân tộc Nùng chiếm 2,26%, Sán Chí
chiếm 0,37%. Mỗi dân tộc có nét đặc trưng riêng trong đời sống văn hoá, hoà
nhập làm phong phú đa dạng bản sắc văn hoá dân tộc với những truyền thống
lịch sử, văn hoá nghệ thuật, tín ngưỡng…
Bảng 2.1. Hiện trạng dân số - lao động xã Bình Trung
STT Tên thôn (bản)
Dân số năm 2011 (người)
Số hộ Số nhân khẩu
Toàn xã 689 2.882
1 Tông Quận 58 211
2 Đon Liên 47 194
3 Nà Oóc 47 192
4 Nà Quân 46 188
5 Nà Phầy 35 159
khai thác triệt để. Tuy nhiên đất nông – lâm nghiệp xung quanh khu dân cư đã
giao cho các hộ nông dân quản lý nên khả năng mở rộng điểm dân cư sẽ gặp
nhiều khó khăn.
2.4.2.2. Về kinh tế
a. Cơ cấu kinh tế
Là xã đặc biệt khó khăn, nằm trong chương trình 135 nên Bình Trung
còn không ít những mặt khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội. Nền kinh tế
của xã Bình Trung chủ yếu là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, hoạt động
chủ yếu là trồng cây lương thực, cây lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc. Trong
cơ cấu kinh tế, sản xuất nông nghiệp là chính, chiếm tỷ trọng gần 90% tổng
giá trị sản phẩm. Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền xã đã vận
động nhân dân đổi mới cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cây trồng vật nuôi, thâm
canh tăng vụ, phát triển chăn nuôi, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản