Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo lai tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐỖ VĂN MINH
Tªn ®Ò tµi:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG CÂY KEO LAI
TẠI XÃ YÊN NHUẬN, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
kho¸ luËn tèt nghiÖp ®¹i häc Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Khoa : Lâm nghiệp.
Khóa học : 2010 – 2014
Thái Nguyên - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là
hoàn toàn trung thực, không sao chép ai. Nội dung khóa luận có tham khảo và
sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, trang
wed theo danh mục tài liệu tham khảo.

XÁC NHẬN CỦA GVHD
Giáo viên hướng dẫn
TS. Trần Quốc Hưng

Tác giả khóa luận
SV. Đỗ Văn Minh XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa sai sót khi Hội đồng chấm yêu cầu
( ký, ghi dõ họ và tên )
LỜI CẢM ƠN !
Thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi sinh viên sau
quá trình học tập. Đây là khoảng thời gian để cho sinh viên làm quen với công
tác nghiên cứu khoa học, đồng thời giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại
những kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn nghiên cứu cũng như công
việc ngoài thực tế, từ đó nâng cao năng lực tri thức sáng tạo của bản thân
nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc.

1
1.1 Đặt vấn đề
1
1.2 Mục đích nghiên cứu
2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
2
1.4. Ý nghĩa của đề tài
2
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
2
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
3
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
4
2.1.1 Trên thế giới
4
2.1.2 Ở Việt Nam
9
2.1.3 Đánh giá chung
15
2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
16
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
16
2.2.2. Khí hậu
16
2.4.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

4.2 Kết quả đánh giá sinh trưởng của Keo lai
33
4.3 Kết quả đánh giá hiệu quả của cây Keo lai tại địa bàn xã Yên Nhuận
35
4.3.1 Hiệu quả về kinh tế
35
4.3.2 Hiệu quả về xã hội
40
4.3.3 Hiệu quả về môi trường
42
4.4 Tình hình tiêu thụ sản phẩm gỗ Keo lai tại xã Yên Nhuận
43
4.4.1 Tình hình chế biến và sử dụng gỗ
43
4.4.2 Thị trường tiêu thụ gỗ trên địa bàn
44
4.5 Các giải pháp phát triển
44
4.5.1 Giải pháp về kỹ thuật
44
4.5.2 Các giải pháp về chính sách và tổ chức thực hiện
45
4.5.3 Giải pháp về xã hội
47
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ
48
Kết luận
48
Tồn tại
49

4.2 Các chỉ số bình quân của lâm phần Keo lai
34
4.3 Chi phí sản xuất cho 1 ha Keo lai
37
4.4 Lợi nhuận kinh tế từ 1 ha Keo lai trong 1 chu kỳ kinh
doanh

38
4.5 Tổng thu nhập cho 1 ha rừng
40
4.6
Tổng hợp chi phí sản xuất tạo 1ha rừng bình quân tại địa
phương

40
4.7 Giá trị tăng thêm cho 1 ha mô hình
41
4.8 Số lao động sử dụng trong 1ha Keo lai/chu kỳ.
42
4.9 Cấp phòng hộ của rừng Keo lai trên địa bàn xã Yên Nhuận 43 DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình
4.1
Biểu đồ chỉ số về đường kính và chiều cao ở 4 tuổi 35 1

tồn tại hạn chế trong thực hiện công tác trồng rừng của xã trong những năm
qua . Vì vậy đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển
rừng trồng cây Keo lai tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”
là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần tích
cực trong việc nâng cao đời sống cho người dân và góp phần quan trọng việc
xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác trồng và phát triển cây Keo lai của xã,
xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong phát triển diện tích
trồng Keo lai nhằm đề xuất các giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo lai tại
xã Yên Nhuận huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng phát triển rừng trồng Keo Lai tại xã Yên
Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển
rừng trồng keo lai tại địa bàn nghiên cứu
- Hiệu quả của cây Keo lai đem lại về kinh tế, xã hội và môi trường
- Đề xuất được một số giải pháp phát triển rừng trồng cây keo lai tại đây.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
+ Là tài liệu trong quá trình học tập cũng như những nghiên cứu tiếp
theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực liên quan.
+ Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên,
giúp sinh viên kiểm chứng lại kiến thức, học đi đôi với hành, vận dụng những
điều có trong sách vở và trong quá trình học tập vào thực tế một cách có hiệu

3
quả. Giúp sinh viên nắm vững được các kiến thức đã học và áp dụng vào
trong thực tiễn một cách có hiệu quả.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn

phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia ( dẫn theo Lê Đình Khả,
1999) [9]. Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và
Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987,
Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut
(Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của
Thái Lan (Kijkar, 1992). Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá
tràm đã được phát hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số
đặc tính vượt trội với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn

5
trục với đoạn thân dưới cành lớn ( dẫn theo Lê Đình Khả và CS, 2006) [11].
Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu
của Rufelds (1988) [26]; Gan.E và Sim Boom Liang (1991) [21] các tác giả
đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng
nhưng muộn hơn Keo lá tràm. Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá tràm
thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo tai tượng lại thường xuất hiện ở lá thứ 8-9
còn ở Keo lai thì thường bắt đầu xuất hiện ở lá thứ 5-6.
2.1.1.2 Những kết quả nghiên cứu về điều kiện lập địa
Nghiên cứu của Laurie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất
khác nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển, điều này được thể hiện ở sự
khác nhau về đặc điểm của các phẫu diện đất, đó là độ dày tầng đất, cấu trúc
vật lý, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và
nồng độ muối. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khả năng sinh trưởng của
rừng trồng trên các loại đất khác nhau là khác nhau. Khi đánh giá khả năng
sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở Swziland, Julian Evans (1992) [23]
đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài Thông này có quan
hệ khá chặt (R=0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phương trình
tương quan sau:
Y = -18,75+0,0544×3- 0,000022×32+0,0185x4+0,0449x5+0,5346×11
Trong đó:

lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng. Đối với
mỗi dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có
cách sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau.
Tại Colombia, Bolstand và cộng sự (1988) [20] cũng đã tìm thấy một
vài loại phân có phản ứng tích cực đối với rừng trồng Thông P. caribeae, đó là
Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium. Tại Cu Ba, cũng với đối tượng
là rừng Thông P. caribeae, khi nghiên cứu các công thức bón phân cho đối
tượng này Herrero và cộng sự (1988) [22] đã kết luận bón phân Phosphate sau
13 năm trồng nâng cao sản lượng rừng từ 56m3/ha lên 69m3/ha. Từ những

7
kết quả nghiên cứu trên, một lần nữa đã khẳng định bón phân cho rừng trồng
mang lại những hiệu quả rõ rệt: nâng cao tỷ lệ sống, tăng sức đề kháng của
cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường, tăng sinh trưởng, nâng cao
sản lượng, chất lượng sản phẩm rừng trồng.
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau
trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình là các công trình nghiên cứu của
Julian Evans (1992) [24] khi nghiên cứu mật độ trồng rừng cho Bạch đàn E.
deglupta ở Papua New Guinea đã bố trí 4 công thức có mật độ trồng khác
nhau (2.985 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.075 cây/ha; 750 cây/ha), số liệu thu được
sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm
tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo
chiều tăng của mật độ, điều này có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy
lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng vẫn
nhỏ hơn những công thức trồng ở mật độ cao. Trong một nghiên cứu khác với
thông P. caribeae ở Quensland - Australia, tác giả cũng đã thí nghiệm với 5
công thức mật độ khác nhau (2.200 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.330 cây/ha; 1.075
cây/ha và 750 cây/ha), sau hơn 9 năm trồng cũng thu được kết quả tương tự,
nhưng ở các công thức trồng mật độ thấp (750 cây/ha - 1.075 cây/ha) có
đường kính trung bình đạt từ 20,1 - 20,9cm, số cây đạt đường (D

đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá.
Trên quan điểm về sở hữu, Thomas Enters và Patrick B. Durst đã dẫn
ra rằng rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở hữu sau:
- Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước.
- Sở hữu tư nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã,
doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ.
- Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội.
Liu Jinlong dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong
những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát
triển trồng rừng như:
- Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá.
- Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước.
- Giảm thuế đánh vào các lâm sản.
- Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng.
- Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát

9
triển trồng rừng.
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý
chung, vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người
dân. Có thể nói, đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia
trồng rừng ở Trung Quốc mà còn gợi những định hướng quan trọng cho phát
triển rừng trồng sản xuất tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề
được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các
quốc gia Đông Nam Á chính là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất.
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ rừng trồng.
- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân.
Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có

Keo tai tượng và Keo lá tràm, điều tra sinh trưởng tại rừng trồng khảo nghiệm
4,5 năm tuổi ở Ba Vì (Hà Tây cũ) cho thấy Keo lai sinh trưởng nhanh hơn
Keo tai tượng từ 1,2 - 1,6 lần về chiều cao và từ 1,3 - 1,8 lần về đường kính,
gấp 2 lần về thể tích. Tại Sông Mây (Đồng Nai) ở rừng trồng sau 3 năm tuổi
Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm 1,3 lần về chiều cao; 1,5 lần về
đường kính. Một số dòng vừa có sinh trưởng nhanh vừa có các chỉ tiêu chất
lượng tốt đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật là
các dòng BV5, BV10, BV16, BV32, BV33. Khi nghiên cứu sự thoái hóa và
phân ly của cây Keo lai, Lê Đình Khả (1997) [10] đã khẳng định: Không nên
dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới. Keo lai đời F1 có hình thái
trung gian giữa hai loài bố mẹ và tương đối đồng nhất, đến đời F2 Keo lai có
biểu hiện thoái hóa và phân ly khá rõ rệt, cây lai F2 sinh trưởng kém hơn cây
lai F1 và có biến động lớn về sinh trưởng. Do đó, để phát triển giống Keo lai
vào sản xuất thì phải dùng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy
mô từ những dòng Keo lai tốt nhất đã được công nhận là giống Quốc gia và
giống tiến bộ kỹ thuật.

11
2.1.2.2 Nghiên cứu cải thiện giống
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng. Không
có giống được cải thiện theo mục đích kinh tế thì không thể đưa năng suất
rừng lên cao. Trong thực tế đã cho thấy, cây rừng nói chung nếu chọn được
giống tốt thì sản lượng gỗ có thể tăng từ 10-20%, có khi tăng tới 30% so với
giống bình thường. Đối với giống lai đã được chọn lọc của các loài cây mọc
nhanh có thể tăng từ 50-100% sản lượng gỗ so với giống bố mẹ. Vì vậy, cải
thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ
và các sản phẩm mong muốn khác. Năm 1993, Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ
Nông nghiệp và PTNT) đã có Quyết định ban hành "Qui phạm xây dựng rừng
giống và vườn giống", "Qui phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa", trong đó
qui định rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc xuất xứ giống và cây giống cũng như

2001) [4]. Đề cập đến vấn đề này, tại Việt Nam đã có khá nhiều các công
trình nghiên cứu, điển hình là các công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và
cộng sự (1994) [15], khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng
Đông Nam Bộ, các tác giả đã căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau đó là đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ
thích hợp của cây trồng. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng Đông Nam
Bộ có tiềm năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích
hợp để phát triển các loài cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80%, đặc biệt là các
loài cây cung cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp như một số loài Bạch đàn và
Keo. Khi nghiên cứu phương pháp đánh giá về sản lượng rừng trồng Keo lai ở
vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và Hồ Văn Phúc (2004) [2] đã chỉ ra
rằng Keo lai cho năng suất khác nhau trên các điều kiện lập địa khác nhau.
Nghiên cứu của Trần Công Quân về một số cơ sở khoa học nhằm nâng
cao hiệu quả kinh tế rừng trồng nguyên liệu bằng Keo lai và Bạch đàn tại hai
tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Với hai phương pháp phân chia lập địa hương
pháp dựa vào 6 yếu tố lập địa (Kiểu khí hậu, Dạng khí hậu, dạng ẩm lập địa,

13
dạng địa hình – địa thế, dạng đất và nền vật chất tạo đất, trạng thái thực vật)
đã phân chia được trên địa bàn nghiên cứu thành các dạng, nhóm lập địa cụ
thể. Phương pháp dựa trên 4 yếu tố chủ đạo (loại đất – đá mẹ; độ dốc; độ dày
tầng đất – tỷ lệ đá lẫn và thực vật chỉ thị). Kết quả của nghiên cứu cho thấy
trên địa bàn nghiên cứu có hai loại dạng lập địa chủ yếu là: FsII
2
a và F
S
II
2
b
thuộc nhóm dạng lập địa C

trong các doanh nghiệp nhà nước; 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994, Ban
hành bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; 163/NĐ-CP ngày 16
tháng 11 năm 1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp các chính
sách về đầu tư, tín dụng như luật Khuyến khích đầu tư trong nước, nghị định
43/1999/NĐ-CP, nghị định 50/1999/NĐ-CP, tín dụng ưu đãi, tín dụng thương
mại, chính sách thuế, chính sách hưởng lợi Các chính sách trên đã có tác
động mạnh tới phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là trồng rừng sản xuất.
Nhìn chung, những nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển trồng
rừng sản xuất ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã được quan tâm nhiều
hơn, song cũng mới chỉ tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh
giá hiệu quả kinh tế của cây trồng, sử dụng đất lâm nghiệp và một số nghiên
cứu nhỏ về thị trường. Có thể kể đến các nghiên cứu của tác giả: Võ Nguyên
Huân (1997) [8], đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở Thanh Hoá; từ việc
nghiên cứu các loại hình chủ rừng sản xuất đưa ra khuyến nghị các giải pháp
chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý và sử dụng bền
vững. Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của
chính sách giao đất khoán rừng đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng.
Nghiên cứu thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm vì đây
là vấn đề có quan hệ mật thiết tới trồng rừng, có thể điểm qua một số công
trình nghiên cứu như sau: Võ Đại Hải (2004) [6], trong nghiên cứu về yếu tố
đầu vào và đầu ra trong sản xuất nông lâm sản hàng hoá ở miền núi phía Bắc,
tác giả đã phân tích những lợi thế cũng như bất lợi và hiệu quả của sản xuất
nông sản hàng hoá ở miền núi.
Võ Đại Hải (2003 - 2005) khi tiến hành nghiên cứu về thị trường lâm
sản rừng trồng miền núi phía Bắc đã tổng hợp nên các kênh tiêu thụ gỗ rừng

15

2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
2.2.1.1. Vị trí địa lý
Xã Yên Nhuận nằm ở phía Nam của Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
cách trung tâm huyện 30 km, Có đường tỉnh lộ 254B chạy qua, nối Yên
Nhuận với xã Yên Mỹ, Phong Huân, Bình Trung, và huyện Định Hóa của tỉnh
Thái Nguyên. Giáp với các xã như sau:
- Phía đông giáp xã Yên Mỹ
- Phía Tây giáp xã Bình Trung
- Phía Bắc giáp xã Phong Huân
- Phía Nam giáp huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
- Tổng diện tích đất tự nhiên là: 29,36 km
2

2.2.1.2 Địa hình
Xã Yên Nhuận là một trong những xã vùng cao của tỉnh Bắc kạn, địa
hình chủ yếu là núi, chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên của xã, địa
hình phức tạp và bị chia cắt mạnh bởi hệ thống suối và khe sâu, độ dốc địa
hình cao, phù hợp với việc phát triển rừng, kinh tế rừng đồi, ít thuận lợi cho
xây dựng, sản xuất tập trung và giao thông liên thôn, liên xã, giao thông phục
vụ khai khoáng.
Hướng dốc chính của địa hình từ Đông Bắc xuống Tây Nam và dốc về
các dòng suối chính
2.2.2. Khí hậu
Xã có những nét đặc trưng của khí hậu miền núi bắc bộ. Mùa đông khô
và lạnh; Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình năm là 21,2
o
C.

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status