Chuyên ngành : Nuôi trồng thuỷ sản
Mã số
: 60 62 70 Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Anh Tuấn
Nha Trang - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo TS Phạm Anh Tuấn. Các số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng vào bất
cứ mục đích nào.
Tác giả
kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập. Xin được gửi lời cảm ơn tới các hộ gia
đình đã sắp xếp thời gian và cung cấp thông tin trong luận văn này!
Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình cùng các bạn đồng nghiệp đã đóng góp
những ý kiến chia sẻ, ủng hộ và động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua.
Tác giả luận văn Vương Văn Oanh i
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
Chương I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Đặc điểm sinh học cá rô phi 3
1.1.1. Đặc điểm dinh dưỡng 3
1.1.2. Một số đặc điểm sinh thái của cá rô phi 3
1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng 4
1.1.4. Đặc điểm sinh sản 5
1.2. Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống 5
3.4. Định hướng phát triển nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh 45
3.4.1. Quan điểm 45
3.4.2. Định hướng 46
3.4.3. Sản xuất giống 49
3.4.4. Công nghệ nuôi 49
3.5. Giải pháp phát triển nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh 49
3.5.1.Giải pháp vốn đầu tư 49
3.5.2.Giải pháp sản xuất giống 50
3.5.3. Giải pháp mô hình tổ chức quản lý sản xuất 50
3.5.4. Giải pháp khoa học công nghệ 51
3.5.5. Giải pháp thức ăn 51
3.5.6. Giải pháp quản lý 51
3.5.7. Giải pháp thị trường 52
3.5.8. Giải pháp dịch vụ và khuyến ngư 52
3.5.9. Giải pháp về cơ chế chính sách 52
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 53
1. Kết luận 53
2. Đề xuất 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Sản lượng nuôi cá rô phi của một số nước sản xuất lớn 11
Hình 3.1. Tỷ lệ nguồn giống cung cấp cho các hộ nuôi 34
Hình 3.2. Tỷ lệ các loại thức ăn sử dụng nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh 35
Hình 3.3. Sơ đồ kênh tiêu thụ cá rô phi thương phẩm tại Quảng Ninh 39
Hình 3.4. Phân loại cá rô phi xuất khẩu tại Quảng Ninh 41 1
MỞ ĐẦU
Sự cần thiết nghiên cứu
Quảng Ninh là tỉnh ven biển phía đông bắc của tổ quốc, có vị trí thuận lợi và
tiềm năng lớn về diện tích nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 loại hình mặt nước (nước ngọt,
nước lợ và nước mặn). Với trên 250 km bờ biển chạy dài từ Yên Hưng đến Móng Cái,
vùng ven bờ biển chủ yếu là các bãi triều, trương cát, bãi bồi rất thuận lợi cho việc
phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước lợ. Đồng thời, tỉnh cũng có diện tích vùng nội thuỷ
rộng trên 6.000 km
2
, hệ thống sông, suối dày đặc, có nhiều đồi núi tạo nên những
thung lũng và hệ thống hồ chứa nước rất lớn bao gồm hàng ngàn ha diện tích chuyển
đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt.
Qua số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng
Ninh năm 2009 cho thấy có khoảng 1/4 diện tích tiềm năng được đưa vào sử dụng. Đối
với diện tích nuôi thuỷ sản nước ngọt vẫn chủ yếu sử dụng hình thức nuôi quảng canh
cải tiến, bán thâm canh và các loài thủy sản được nuôi chủ yếu là các loài cá truyền
thống có giá trị kinh tế thấp. Đối với diện tích nuôi thuỷ sản nước lợ tập trung chủ yếu
nuôi tôm sú, tôm chân trắng bán thâm canh và thâm canh, tuy nhiên hiệu quả kinh tế
của mô hình này không ổn định, rủi ro cao cho người nuôi.
Quảng Ninh trong thời gian tới.
3
Chương I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm sinh học cá rô phi
Cá rô phi (Oreochromis niloticus) thuộc họ Cichlidae, bộ Perciformes, là loài cá
có nguồn gốc Châu Phi, đến nay chúng được phân bố trên 100 quốc gia trên thế giới
[15]. Cá rô phi là tên gọi chung khoảng 80 loài, nhưng chỉ có khoảng 10 loài có giá trị
trong nuôi trồng thủy sản (Schoenen 1982: Pullin, 1983: Pillay 1988). Theo FAO
(2002) [19], trong mấy thập kỷ gần đây có 3 loài cá rô phi được nuôi phổ biến là cá rô
phi vằn (Oreochromis niloticus), cá rô phi xanh (O.aureus) và cá rô phi đen (O.
mosambicus). Sản lượng cá rô phi thế giới của 3 loài này chiếm chủ yếu, trong đó sản
lượng rô phi vằn chiếm tới 83% tổng sản lượng cá rô phi trên thế giới. Cá rô phi vằn
được coi là loài có nhiều ưu điểm bởi chúng có khả năng thích nghi với các điều kiện
môi trường nước khác nhau chịu được chất lượng môi trường nước kém, ít bị bệnh
dịch, chất lượng thịt thơm ngon [15], [32], [35]. Đặc biệt, chúng có khả năng chịu điều
kiện môi trường oxy hoà tan thấp [17]
o
C [15].
1.1.2.3. Giá trị pH
Giá trị pH ảnh hưởng tính độc của amonia, nitrit và Hydrogen sulfphile. pH quá
cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới sức khoẻ cá và quá trình trao đổi chất trong thủy
vực. Ngưỡng pH giới hạn của cá rô phi từ 4- 11 đối với cá rô vằn [18], ngưỡng pH
thích hợp 6,5 - 9 [36].
1.1.2.4. Độ muối
Cá rô phi có thể sinh trưởng và phát triển trong môi trường nước ngọt, nước lợ
và có thể phát triển ở nước biển có độ mặn 32‰. Cá phát triển tối ưu ở độ mặn dưới
5‰ (15). Tuy nhiên, khả năng thích ứng với nồng độ muối còn phụ thuộc vào kích cỡ,
tuổi, điều kiện khí hậu Cá càng nhỏ thì ngưỡng độ mặn càng thấp.
1.1.2.5. Ammonia và Nitrite
Trong nước ammonia tồn tại 2 dạng NH
3
và NH
4
+
và được gọi là ammonia
Nitrogen tổng số. Sự chuyển hoá ammonia ở 2 dạng NH
3
và NH
4
+
phụ thuộc độ pH và
nhiệt độ của nước, hàm lượng NH
3
tăng cao khi pH và nhiệt độ nước tăng cao.
độ 30
o
C thời gian kéo dài khoảng 3 ngày. Sau khi nở cá bột tiếp tực đựơc cá mẹ bảo vệ
đến khi cá con tiêu hết noãn hoàng thì chúng sống độc lập [25].
Tóm lại, cá rô phi là một đối tượng dễ nuôi, thích nghi với môi trường sinh thái
rộng là nước ngọt, lợ và mặn, phát triển tốt trong môi trường nước ngọt, nước lợ, phổ
thức ăn rộng, khả năng chịu đựng tốt với các yếu tố bất lợi của môi trường. Tốc độ
sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt thơm ngon. Vì vậy, cá rô phi là đối tượng nuôi kinh
tế, thích hợp phát triển ở nước ta.
1.2. Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống
1.2.1. Nghiên cứu sản xuất giống cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong điều kiện bình thường ao nuôi
mà không cần tác nhân kích thích sinh sản. Ban đầu nguồn cá rô phi giống cung cấp
cho nuôi thương phẩm được lấy từ tự nhiên [25]. Do nhu cầu về giống cá rô phi ngày
càng cao nên người ta đã tiến hành sản xuất giống. Có 2 phương pháp sản xuất giống
cá rô phi là sản xuất giống cá rô phi trong ao và sản xuất giống trong giai.
Pillay (1990) [30] đã mô tả kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi trong ao đất. Cá bố
mẹ đã thành thục được thả chung trong một ao đã được chuẩn bị sẵn và cho ăn hàng
ngày. Trong thời gian này cá tự sinh sản trong ao, sang tháng thứ 2 chuyển cá bố mẹ
sang ao khác và dùng ngay ao cho đẻ làm ao ương cá bột. Quá trình nuôi vỗ, cho đẻ tiếp
tục được lặp lại ở ao kế tiếp. Nhược điểm phương pháp này là kích cỡ cá giống không
đồng đều, mặt khác do kích cỡ cá ương không đều nên có hiện tượng những con lớn tấn
công con nhỏ hơn. Để hạn chế nhược điểm này hàng ngày người ta tiến hành vớt cá bột
khi thấy chúng bơi thành đàn trong ao rồi chuyển sang ao khác ương riêng. Phương
pháp cho sinh sản cá rô phi trong ao đất dễ áp dụng, giá thành sản xuất rẻ nên được áp
dụng ở nhiều nước như ở Trung Quốc, Thái Lan, Phillipines
[25], [30].
6
liều lượng 60mg/kg thức ăn, trong khoảng thời gian từ 21 ngày). Công nghệ tương đối
đơn giản, kết quả ổn định, tạo đàn cá có tỷ lệ đực khá cao đạt 92-100%, dễ áp dụng và
đầu tư thấp hơn so với phương pháp lai xa và chọn cá đực bằng tay. Hiện công nghệ
này được áp dụng khá phổ biến trong sản xuất cá rô phi đơn tính đực ở Thái Lan,
Phillippines, Brazil, Israel, Trung Quốc [25], [34]. Tuy nhiên những lo ngại về ảnh
7
hưởng của hormone sử dụng đến môi trường và sức khỏe con người đã thúc đẩy việc
tìm kiếm các công nghệ khác tạo cá rô phi đơn tính đực [25].
Năm 1994-1997, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I áp dụng thành công
nghệ chuyển giới tính cá rô phi bằng hormone từ Học viện Công nghệ Châu Á (AIT).
Trứng cá rô phi được thu từ khi cá mẹ đang ấp trong miệng đưa vào ấp nhân tạo trong
hệ thống khay ấp. Cá sau khi tiêu hết noãn hoàng được đưa ra giai cắm trong ao để
ương, cá được cho ăn thức ăn bằng bột cá nghiền mịn trộn với 17α- Methyltestosteron
với liều lượng 60mg/kg thức ăn, vitamin C được bổ sung 10g/1kg thức ăn. Sau 21
ngày xử lý cá đạt tỷ lệ sống 72,2%, tỷ lệ đực đạt trên 95% [6]. Đến nay công nghệ sản
xuất cá rô phi đơn tính được áp dụng rộng rãi trên cả nước.
Công nghệ lai xa và công nghệ cá siêu đực được xây dựng trên cơ sở khoa học
di truyền điều khiển giới tính ở cá rô phi. Hicking (1960) (trích bởi Pillay,1990) cho
lai 2 loài O. urolepis, O. hurnorum với O. mossambicus tạo ra thế hệ con đơn tính đực,
các nghiên cứu sau này được tiến hành trên nhiều loài khác nhau: T. nilotica x T.
nornorum (Pruginin and Kanyike, 1960), T. nilotica X T. aurea (Fishelson, 1962), T.
nilotica X T. variabilis, T. spilurus niger X T. hornorum, T. vulcani X T. hornorum, T.
vulcani X T. aurea, T. nilotica X T. macrochir (Lessent, 1968). Công nghệ lai xa ngoài
việc tạo thế hệ con lai toàn đực còn cải thiện tốc độ sinh trưởng, khả năng chịu lạnh
[30]. Tuy nhiên, tỷ lệ đực ở đàn con lai dao động từ 70-100% và phụ thuộc vào mức
độ “thuần chủng” cá bố mẹ. Tỷ lệ cá đực còn có sự khác biệt khi sử dụng các loài khác
nhau. Do vậy, ngay ở Trung Quốc, Đài Loan và Israel công nghệ lai xa mới sử dụng ở
một phạm vi nhất định. Để có đàn cá toàn đực thường vẫn phải kết hợp lai xa với công
nghệ chuyển giới tính bằng hormone có điều chỉnh về thời gian và hàm lượng
rô phi tại nhiều quốc gia, đàn cá rô phi tạo ra từ dự án GIFT đã cung cấp cho nhiều
nước để tiếp tục chọn giống như ở Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Fiji,
Thái Lan, Bangladesh và Philippines [16].
1.2.2. Nghiên cứu, sản xuất cá giống cá rô phi ở Việt Nam
Năm 1951, lần đầu tiên cá rô phi đen (O. mossambicus) được nhập vào Việt
Nam từ Thái Lan [12]. Năm 1973, cá rô phi vằn (O. niloticus) đã được di nhập vào
miền Nam nước ta từ Đài Loan, đến năm 1977 chúng được chuyển ra miền Bắc nuôi.
Tuy nhiên, do không quản lý tốt dẫn đến sự lai tạp với loài cá rô phi đen (O.
mossambicus) khiến cho chất lượng di truyền của loài cá rô phi vằn này đã bị thoái
hoá, kéo theo sản lượng cá rô phi của nước ta trong những năm cuối những năm 1980
đầu những năm 1990 bị giảm sút nghiêm trọng [2].
Từ năm 1993- 1994, một số dòng cá rô phi đã được nhập nội:
9
- Cá rô phi vằn dòng Thái và cá rô phi dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 5 nhập
từ Thái Lan.
- Cá rô phi vằn dòng Swansea và cá rô phi xanh O.aureus nhập từ Philippines.
- Cá rô phi hồng Oreochromis sp nhập từ Đài Loan và Thái Lan.
Qua nuôi thử nghiệm tại một số địa phương cho thấy cá rô phi dòng GIFT thể
hiện sự vượt trội về sinh trưởng, thích ứng với điều kiện nuôi cá ở nước ta [2]. Sức
tăng sinh trưởng cá dòng GIFT cao hơn các dòng cá khác hiện có ở Việt Nam từ 15-
20% [4]. Hiện nay, cá rô phi dòng GIFT được người nuôi quan tâm và nuôi phổ biến ở
nước ta. Để ổn định và nâng cao phẩm giống của dòng rô phi (GIFT) mới nhập, từ
năm 1998 đến nay, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 (Viện 1) đã tiến hành
chương trình chọn giống cá rô phi dòng GIFT với 2 tính trạng là tăng trưởng và khả
năng chịu lạnh. Năm 2000, đã chọn được dòng cá rô phi thế hệ thứ 4 có sức sinh
trưởng cao hơn 16,6 % so với đàn cá GIFT ban đầu [4]. Chương trình chọn giống này
vẫn tiếp tục được tiến hành ở Viện 1 với nguồn kinh phí của dự án NORAD. Cá rô phi
chọn giống thể hiện tính ưu việt tăng trưởng nhanh, thích ứng với điều kiện khí hậu
Việt Nam. Từ năm 2002 đến nay cá rô phi dòng GIFT đã phát tán 2,5 triệu cá rô thuộc
quan quản lý đánh giá chất lượng, theo nhận xét của người nuôi về chất lượng nguồn
cá này trái ngược nhau [13].
1.3 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới và Việt Nam.
1.3.1.Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới.
Cá rô phi ngày càng trở nên quan trọng đối với nuôi trồng thủy sản của nhiều nước
trên thế giới. Tổng sản lượng rô phi năm 2010 ước tính sẽ lên tới trên 3 triệu tấn, cá rô phi
trở thành loài thuỷ sản phổ biến, một sản phẩm toàn cầu thực sự, phù hợp cả với nuôi quy
mô nhỏ lẫn công nghiệp đa quốc gia, tăng trưởng nhanh và hiệu quả, thích hợp với cả với
thức ăn giàu đạm lẫn thức ăn tự nhiên và người giàu cũng như người nghèo đều ưa
chuộng. Thêm vào đó, FAO dự báo tổng nhu cầu thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản trên
thế giới sẽ tăng gần 50 triệu tấn, từ 133 triệu tấn năm 1999/2000 lên đạt 183 triệu tấn vào
năm 2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm.
0
500
1000
1500
2000
2500
1
9
9
0
1
9
9
1
1
9
9
2
0
0
2
0
0
1
2
0
0
2
2
0
0
3
2
0
0
4
2
0
0
5
2
0
0
6
2
0
0
7
đông lạnh và phi lê. Các công ty nuôi cá rô phi ở Đài Loan đang có xu hướng chuyển
sang đầu tư vào Trung Quốc do các điều kiện trong đại lục thuận lợi hơn nên giá thành
sản xuất sẽ thấp hơn [9]. Ở Philippine có hai hình thức nuôi chủ yếu là nuôi cá rô phi
trong ao hồ và lồng, nuôi cá trong cả vùng nước ngọt và lợ, sản lượng cá rô phi nuôi ao
nước ngọt chiếm khoảng 56%, nuôi lồng nước ngọt là 37% và nuôi ao nước lợ là 7%
tổng sản lượng cá rô phi nuôi [14].
Thái Lan là nước nuôi cá rô phi mạnh ở khu vực Đông Nam Á. Nuôi cá rô phi
trong lồng ở Thái Lan phát triển rộng khắp đến Miền Bắc và Miền Trung [14], [20].
Trong những năm gần đây, các nước Châu Mỹ bắt đầu quan tâm đến cá rô phi,
đặc biệt sau các rủi ro của nghề nuôi tôm do dịch bệnh gây ra. Quốc gia sản xuất cá rô
phi nhiều nhất châu Mỹ là Mêhicô, kế đến là Brazil. Do tình hình sản xuất tôm trong
những năm gần đây gặp nhiều rủi ro thất bại vì bệnh dịch (chủ yếu là bệnh đốm trắng)
nên Ecuado đã chuyển sang phát triển nuôi cá rô phi ở những ao nuôi tôm nhằm cải
thiện môi trường, khi môi trường tốt hơn họ lại tiến hành nuôi tôm. Chu kỳ nuôi xen
kẽ tôm – cá đã chứng tỏ được hiệu quả [9].
Nghề nuôi cá rô phi chỉ mới bắt đầu phát triển ở Châu Phi. Ai Cập là nhà sản
xuất cá rô phi lớn nhất ở Châu Phi, năm 2003 đạt sản lượng 200.000 tấn, chiếm
90% sản lượng cá rô phi nuôi của châu lục. Trong đó, có một sản lượng đáng kể cá
được khai thác từ tự nhiên. Các quốc gia Ghana, Nigiênia, Kenia, Uganda,
Tanzania, Môzămbic, Nanibia, Botswana, Angola đều có sản sản lượng cá rô phi
nuôi không đáng kể và các quốc gia này cũng đang có kế hoạch phát triển nuôi cá
rô phi [14], [20].
Sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Âu rất ít do khu vực này có nhiệt độ thấp
không thuận lợi để nuôi cá rô phi. Bỉ là nước nuôi nhiều nhất với sản lượng đạt khoảng
300 tấn/năm. Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thuỵ Sỹ, Tây Ban Nha, Đức, Pháp
và Anh. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi
được bày bán ở nhà hàng và các hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho bộ phận dân cư
có nguồn gốc từ Châu Á [9], [14].
13
5.184
24.533
Đồng bằng Bắc Bộ 3.612
-
3.612
Ven biển Bắc Bộ 4.552
2.136
2.416
Trung du miền núi 2.355
-
2.355
Bắc Trung Bộ 1.685
660
1.025
Nam Trung Bộ 672
1.3.3. Thị trường tiêu thụ cá rô phi
Cá rô phi nuôi ở nước ta hiện nay đang được tiêu thụ nội địa là chủ yếu. Trước
hết, sự phát triển của phong trào nuôi cá rô phi trong những năm gần đây đã tạo ra một
lượng sản phẩm hàng hoá đáng kể. Bên cạnh đó, nền kinh tế của nước ta những năm
qua có sự tăng trưởng tương đối ổn định, đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao,
nhu cầu sử dụng sản phẩm thuỷ sản nói chung, cá rô phi nói riêng ngày càng tăng;
trong khi đó các nguồn cung cấp thực phẩm khác gặp khó khăn như dịch cúm H5N1 ở
gia cầm, dịch lở mồm long móng ở gia súc. Vì vậy, thị trường tiêu thụ nội địa cá rô phi
có điều kiện phát triển mở rộng.
Các quốc gia sản xuất cá rô phi đều là những quốc gia tiêu thụ nhiều cá rô phi.
Chính nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia sản xuất cá rô phi đã thúc đẩy nghề
nuôi cá phát triển, làm cho cá rô phi trở thành sản phẩm thiết yếu, cung cấp dưỡng chất
cho người dân, đảm bảo an ninh thực phẩm và góp phần xoá đói giảm nghèo [9].
15
Năm 2010 mức tiêu thụ thuỷ sản là 26 kg/đầu người thì lượng tiêu thụ thuỷ sản
trong nước năm 2010 sẽ là 2,18 triệu tấn [10]. Theo dự báo thị trường nội địa sẽ có
những bước phát triển mới, đạt mức tăng từ 20 - 30%, do các nguyên nhân sau:
- Tình hình chính trị ở Việt Nam ổn định, thu hút khách du lịch và các hoạt
động quốc tế.
- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và các doanh nghiệp đã nhận thức
được tầm quan trọng của thị trường nội địa. Đồng thời, nhiều mặt hàng thuỷ sản đã
từng bước chiếm lĩnh được lòng tin của người tiêu thụ trong nước.
Ở nước ta cá rô phi nuôi phần lớn được tiêu thụ ngay tại địa phương, tập trung
ở các chợ trung tâm thành phố, thị xã, thị tứ. Các siêu thị ở các thành phố lớn Hà Nội,
Hồ Chí Minh sản phẩm cá rô phi tươi sống được tiêu thụ khá mạnh với giá từ 35.000 -
40.000 đ/kg. Cá rô phi có kích cỡ từ 400 g/con trở lên rất được người tiêu dùng ưa
thích và có giá cao hơn 5.000 – 7.000 đ/kg so với kích cỡ nhỏ hơn. Giá cá bán ở các
thành phố lớn cũng cao hơn ở các vùng khác. Giá cá còn biến động theo các tháng
trong năm, thời điểm trước và sau tết ở các tỉnh phía Bắc giá cao hơn các thời điểm
Các thị trường nhập khẩu đáng chú ý khác
Mê-hi-cô là nước nhập khẩu lớn thứ hai các sản phẩm cá rô phi của Trung Quốc
với khoảng trên 36.000 tấn năm 2009. Nga là nước nhập khẩu cá rô phi lớn thứ 3,
nhưng có tốc độ tăng rất mạnh. Để bù đắp một phần thiếu hụt do giảm nhập khẩu cá
tra, năm 2009 Nga đã nhập 21.900 tấn của Trung Quốc, tăng 28% so với năm2008.
EU là một thị trường tiêu thụ cá rô phi mới nổi, sự phát triển của thị trường còn
rất chậm. Các nước nhập khẩu chính là Pháp, Anh, Đức, Bỉ và Ba Lan, trong đó Pháp
có bước chuyển biến khá rõ, nhập khẩu 2.900 tấn cá rô phi của Trung Quốc trong
năm 2009, trong khi vài năm trước chưa hề có. Nhìn chung, EU đang mở rộng dần thị
trường tiêu thụ cá rô phi và theo dự đoán đến cuối năm 2010 tổng nhập khẩu cá rô phi
EU có thể đạt 20.000 tấn.
1.3.4.Tình hình nuôi cá rô phi ở Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh có tiềm năng về phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 loại
hình mặt nước: nước ngọt, lợ, mặn. Cá rô phi tại Quảng Ninh được nuôi chủ yếu ở môi
trường nước ngọt và nước lợ. Nghề nuôi cá rô phi tại Quảng Ninh bắt đầu phát triển từ
những năm 2000. Hình thức nuôi lúc đó chủ yếu là nuôi ghép với các loài cá truyền
thống đối với các ao nuôi nước ngọt, còn các đầm nước lợ chủ yếu là nuôi theo hình
thức quảng canh cải tiến vì vậy năng suất nuôi rất thấp.
Trước tình hình trên, năm 2002 Sở thuỷ sản tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo Trung
tâm Khoa học kỹ thuật và sản xuất giống thuỷ sản chuẩn bị con giống cá rô phi đơn
tính và triển khai thực hiện 123 mô hình nuôi cá rô phi tại các huyện, thị trong tỉnh.
17
Thông qua mô hình đã chuyển tải khoa học kỹ thuật tới bà con nông dân và được bà
con nhiệt tình hưởng ứng.
Những năm gần đây, ngành thuỷ sản Quảng Ninh luôn quan tâm chỉ đạo Trung
tâm Khuyến nông, khuyến ngư; Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Sản xuất giống thuỷ
sản xây dựng các mô hình nuôi cá rô phi đơn tính tại các địa phương, vì vậy phong
trào nuôi cá rô phi đã tăng rõ rệt cả về diện tích nuôi, năng suất và sản lượng.
Đặc biệt năm 2009, 2010 Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt dự
xuất cung ứng giống thuỷ sản còn nhiều bất cập, qui hoạch các trại sản xuất trên toàn tỉnh
chưa đồng đều, chưa phù hợp với điều kiện phát triển của từng địa phương, dẫn đến rất
nhiều cá rô phi bột hoặc giống được nhập từ Trung Quốc vào tỉnh theo con đường tiểu
ngạch. Điều này gây nhiều trăn trở cho các nhà chức trách trong việc quản lý chất lượng
cũng như duy trì và phát huy những giống tốt đã nghiên cứu thành công.
- Vùng nuôi cá rô phi phần lớn còn phân tán, quy mô nhỏ, chưa thực sự tạo ra
vùng sản xuất hàng hoá tập trung, tạo nguyên liệu xuất khẩu, hình thức nuôi gồm nuôi
đơn và nuôi ghép, nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh và nuôi thâm canh, Nuôi
ghép và nuôi bán thâm canh là các hình thức nuôi phổ biến hơn cả.Nuôi thâm canh cá
rô phi còn chiếm tỷ lệ nhỏ, công nghệ nuôi còn lạc hậu. Đầu tư cho chuyển dịch cơ cấu
sản xuất chưa tương xứng với yêu cầu của tiềm năng, việc tiếp thu, ứng dụng công
nghệ kỹ thuật còn hạn chế. Kết quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất không đồng đều ở các
vùng, phần lớn hộ nông dân có thu nhập khá, song vẫn còn một số hộ, một số vùng
còn gặp khó khăn, nên còn nhiều ý kiến khác nhau khi nhìn nhận tình hình và kết quả
chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang nuôi thuỷ sản.