TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHOA THỦY SẢN
BÁO CÁO
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển
nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên Huế
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Văn Minh
Lớp
: Cao Đẳng Nuôi Trồng Thủy Sản 48A
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Tôn Thất Chất
Bộ môn
: Nuôi Trồng Thủy Sản
NĂM 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Bộ môn
: Nuôi Trồng Thủy Sản
NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài báo cáo tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn tận
tình của giáo viên hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, tôi
đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề
tài. Kết quả có được không chỉ là nổ lực của bản thân mà còn có sự giúp đỡ của
quý thầy cô, gia đình và nhà trường. Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban chủ nhiệm khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông Lâm Huế, quý thầy cô
và các anh/ chị khóa trước đã giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức kinh nghiệm quý
báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập và nghiên cứu.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS. Tôn Thất Chất, người đã
định hướng và tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này. Tôi xin gửi
lòng biết ơn sâu sắc đến thầy.
Xin cảm ơn các bác, các anh/ chị ở UBND thị trấn Thuận An, phòng
NN&PTNT huyện Phú Vang và các hộ tham gia nuôi cá lồng bè tại các thôn, tổ đã
sắp xếp thời gian, nhiệt tình cung cấp thông tin trong bài báo cáo này.
Với lòng biết ơn chân thành nhất, một lần nữa xin gửi lời cám ơn đến thầy
cô, gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt bài báo cáo
tốt nghiệp và chương trình học.
Xin chân thành cám ơn!
Huế, tháng 12 năm 2016
Hình 3.1: Bản đồ vị trí địa lí các thôn thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang...................2
Hình 4.1: Bản đồ vị trí địa lí thị trấn Thuân An, huyện Phú Vang..................................2
Hình 4.2: Cấu trúc lồng nuôi cá thương phẩm.................................................................2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Diễn giải nghĩa
1
UBND
Ủy Ban Nhân Dân
2
NTTS
Nuôi Trồng Thủy Sản
3
ĐH, CĐ
Đại Học, Cao Đẳng
10
FAO
Tổ chức lương thực - Nông nghiệp của Liên hợp Quốc
12
KT- XH
Kinh tế - xã hội
13
QĐ
Quyết Định
14
CP
Chính Phủ
15
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
21
DS
Dân Số
22
TP
Thành phố
23
TS
Thủy sản
24
NN
Nông Nghiệp
25
KHHGĐ
Kế Hoạch Hóa Gia Đình
2.1.3. Tình hình khai thác cá biển trên thế giới…………………………………………..1
2.1.4. Một số công nghệ lồng nuôi cá biển trên thế giới…………………………………1
2.1.5. Một số loài cá biển được nuôi trên thế giới......................................................1
2.2. Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá biển Việt Nam................................1
2.3. Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá biển tỉnh Thừa Thiên Huế.............1
2.3.1. Tiền năng vùng nuôi...........................................................................................1
2.3.2. Tiềm năng đối tượng nuôi..................................................................................1
2.3.3. Về quy cở, chất liệu lồng nuôi...........................................................................1
2.3.4. Vấn đề sản xuất con giống.................................................................................1
2.3.5. Năng suất và sản lượng......................................................................................1
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................................1
3.1. Nội dung nghiên cứu................................................................................................1
3.2. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu........................................................1
3.3. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................1
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu............................................................................1
3.3.2. Phương pháp chọn mẫu điều tra.......................................................................1
3.3.3. Phương pháp tích và xử lý số liệu.....................................................................1
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.........................................1
4.1. Đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thị trấn Thuận An, huyện Phú
Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế...........................................................................................1
4.1.1. Vị trí địa lý của thị trấn Thuận An.....................................................................1
4.1.2. Điều kiện khí hậu và đất đai............................................................................1
4.2. Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội thị trấn Thuân An, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên Huế...................................................................................................1
4.2.1. Tình hình dân số và lao động..........................................................................1
4.2.2. Tình hình sử dụng đất......................................................................................1
4.2.3. Điều kiện cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật.......................................................1
4.3. Hiện trạng nghề nuôi cá lồng bè tại thị trấn Thuận An......................................2
PHỤ LỤC.
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
2
Với chiều dài bờ biển 3.260 km, 1 triệu km vùng đặc quyền kinh tế, hơn 4.000
hòn đảo lớn nhỏ, nhiều eo vịnh đã tạo nên thuận lợi lớn cho Việt Nam phát triển nghề
nuôi biển. Diện tích mặt nước có thể đưa vào quy hoạch phát triển nuôi biển lên tới
460.000 ha ( Bộ Thủy sản 1994). Các vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triển
nuôi cá biển là: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận,
Vũng Tàu,... Mặt khác với lợi thế nước ta gần các thị trường tiêu thụ cá tươi sống lớn như
Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan..., nhu cầu của thị trường tiêu thụ các sản phẩm hải
sản nói chung, cá biển nói riêng ngày càng tăng.
Thừa Thiên Huế, một tỉnh duyên hải miền Trung, có hệ thống hệ thồng đầm phá
Tam Giang, Cầu Hai rộng lớn chạy dọc suốt 5 huyện ven biển Thừa Thiên Huế từ
Phong Điền đến Phú Lộc, là một vùng đầm phá nước lợ với hệ sinh thái sông biển phong
phú và đặc sắc là điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho nhiều loại thủy sinh phát triển, một
lợi thế cho nhiều ngành nghề nông lâm, ngư nghiệp, mà đặc biệt là nghề nuôi cá biển.
Thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm dọc theo phá
Tam Giang. Nơi đây NTTS mà đặc biệt là nuôi cá lồng bè đã trở thành nghành kinh tế
chủ lực của địa phương, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân đồng
thời cải tạo bộ mặt KT-XH trên địa bàn.
Vì vậy, để phát huy được tiềm năng và lợi thế phát triển nuôi cá lồng bè; giải
quyết những tồn tại và khó khăn trên và đảm bảo việc phát triển nghề nuôi cá lồng bè
ở đây mang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định và bền vững, thì việc đánh giá hiện trạng
nghề nuôi cá lồng bè ở tại địa phương để xác định những thuận lợi và khó khăn trong
nghề cá lồng bè ở thị trấn Thuận An; từ đó có các giải pháp phát triển nuôi cá lồng bè
tại địa phương theo hướng hiệu quả và bền vững trong tương lai là rất cần thiết.
biển nuôi năm 2002 của khu vực Châu Á Thái Bình dương khoảng 1 triệu tấn, giá trị
đạt 3,2 tỷ USD, tăng 240% so với năm 1990 và chiếm 95% sản lượng nuôi cá biển trên
thế giới. [23]
Từ những năm cuối thế kỷ trước, nhiều nước có biển đã khẳng định rõ vai trò
quan trọng của biển nói chung và nuôi cá biển nói riêng. Cá biển là loại thực phẩm có
giá trị dinh dưỡng cao, nhu cầu sử dụng cá biển ngày càng tăng, trong khi đó sản
lượng khai thác từ tự nhiên có hạn, do đó việc phát triển nuôi cá biển là biện phát tất
yếu đáp ứng nhu cầu của xã hội. Xác định được ý nghĩa chiến lược lâu dài của nuôi cá
biển, nhiều nước như Trung Quốc, Nauy, Nhật Bản.. coi nuôi cá biển là một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
2.1.2. Nuôi cá biển ở một số nước trên thế giới.
Tại Trung Quốc bắt đầu nuôi thử nghiệm một vài lồng các loài cá song và cá
hồng tại vùng biển Quảng Đông vào năm 1979. Sau đó nuôi cá biển tăng lên khoảng
960.000 lồng phân bố chủ yếu ở Sơn Đông, Trung Quốc. Sản lượng cá biển ở Trung
Quốc tăng lên nhanh chóng: năm 1990 sản lượng là 101.000 tấn đến năm 2005 sản
lượng là 660.000 tấn. Hệ thống lồng nuôi thông dụng (chiếm 98%) là lồng gỗ nổi lên
mặt nước có kích thước 3x3x3m. Sau đó những năm gần đây có các loại lồng bằng
phao kích thước 6x6x6m và kiểu lồng hình trụ có chu vi 60-100m, sâu 8-12m, kiểu
lồng đại dương chịu sóng dùng cho nuôi đại dương và nuôi vùng biển hở. [23]
Nauy là cường quốc về nuôi cá biển trong hai thập kỷ qua, là nước xuất khẩu cá
biển nuôi số 1 thế giới. Từ đầu thập kỷ 80, Nauy đã xác định nuôi cá biển là mũi nhọn
kinh tế của đất nước, trong đó cá hồi là đối tượng nuôi chủ đạo. Sau hơn 20 năm nghiên
cứu và phát triển, Nauy đã đạt đến đỉnh cao của nuôi cá biển, sản lượng và giá trị liên
tục tăng. Năm 1985 sản lượng nuôi đạt 40.000 tấn, giá trị đạt 53 triệu USD; đến năm
2000 sản lượng nuôi đạt 420.000 tấn đạt giá trị 1.350 triệu USD. [23]. Sản phẩm cá hồi
của Nauy rất đa dạng với 7 chủng loại từ 1kg/con đến trên 7kg/ con, chu kỳ nuôi rất
khác nhau từ 2-6 tháng. Hệ số chuyển đổi thức ăn tinh giảm xuống còn 1,15. Cá hồi
được nuôi trong hình tròn là chủ yếu, ngoài ra còn nuôi trong hình chữ nhật. Điều đáng
xuất được cá giống chất lượng cao, công nghệ nuôi được phát triển nhanh chóng. Sản
lượng cá biển nuôi năm 2000 của Hy Lạp đạt 79.000 tấn, giá trị 491 triệu USD. Nghề
nuôi cá biển của Hy Lạp phát triển ổn định và vững chắc do luôn cải tiến về công nghệ
nuôi, quản lý và tăng cường tiếp thị thị trường.
Các nước Đông Nam Á nghề nuôi cá biển chưa phát triển như các khu vực
khác. Thập niên 90 của thế kỷ trước, Thái Lan đi đầu trong lĩnh vực
nuôi cá biển nhờ
thành công sản xuất nhân tạo và sau đó phát triển nuôi cá vược. Những năm cuối thập
niên 90, sản lượng cá vược của Thái Lan đã đạt tới hàng trăm ngàn tấn. Thị trường tiêu
thụ cá vược của Thái Lan là Hồng Kông và một số nước Châu Âu. Từ sau năm 2000, do
cá tráp ở Châu Âu phát triển mạnh, sự thành công của Trung Quốc và các nước khác
trong sản xuất giống và nuôi cá vược, giá cá vược giảm nhanh làm cho nghề nuôi cá
vược của Thái Lan bị đình trệ. Philippin là nước đứng đầu thế giới về nuôi cá măng
biển và đang tiếp tục phát triển. Sản lượng cá măng biển năm 2005 của Philippin đạt
37.000 tấn, tuy nhiên sản phẩm xuất khẩu còn hạn chế.
2.1.3. Tình hình khai thác cá biển trên thế giới.
Sản lượng khai thác biển toàn cầu đạt 82,6 triệu tấn năm 2011 và 79,7 triệu
tấn năm 2012 (nếu không tính cá cơm thì con số tương ứng là 74,3 triệu tấn và 75
triệu tấn). Trong hai năm 2011-2012, trên thế giới có 18 nước đạt sản lượng trung
bình từ 1 triệu tấn trở lên, trong đó có 11 nước đến từ châu Á. [20]
Trong 10 năm qua, sản lượng khai thác biển của hầu hết các nước châu Á tăng
đáng kể, ngoại trừ sản lượng khai thác của Nhật Bản (-22%) và Thái Lan (-39%).
Nguyên nhân của sự giảm sút này là: Từ năm 1980, số lượng tàu khai thác của
Nhật liên tục giảm cùng với thảm họa động đất và sóng thần năm 2011 đã làm cho
sản lượng khai thác giảm 1/3. Tại Thái Lan, nguồn lợi thủy sản giảm mạnh do khai
thác quá mức, môi trường biển ở Vịnh Thái Lan bị ô nhiễm, cộng thêm việc các tàu
Nghề nuôi cá biển ở Việt Nam có từ khá lâu, từ năm 1990 đến nay nghề này có
xu thế tăng nhanh ở các tỉnh ven biển từ Móng Cái đến Hà Tiên. Khu vực Hải Phòng,
Quảng Ninh là nơi có số lượng lồng bè cá nhiều nhất. Tính đến giữa năm 1995 lượng
cá bè ở khu vực này có khoãng 300-400 ô lồng. Khu vực biển miền Trung từ Đà Nẵng
đến Bình Thuận có khoãng 200 lồng và khu vực Đông Tây Nam Bộ trên 100 lồng. [3]
Bảng 2.1. Số lồng bè và sản lượng nuôi cá lồng biển ở Việt Nam năm 1995.
Khu vực
Số lượng lồng
(cái)
Sản lượng
(tấn)
125
Quãng Ninh
+ Vịnh Hạ Long
80
+ Vân Đồn
15
+ Các nơi khác
Hải Phòng
+ Cát Bà
+ Đồ Sơn
(Nguồn: Báo cáo của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản)[3]
Theo đánh giá của FAO, nghề nuôi cá biển ở Việt Nam vẫn còn non trẻ so với các
nước trong khu vực ĐNA. Tuy nhiên chúng ta có đầy đủ tiềm năng để phát triển nghề
này với vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho NTTS đặc biệt là khu vực vịnh Hạ
Long, vùng biển từ Nha Trang đến Phan Thiết và vùng biển phía Tấy Nam Bộ là những
vùng biển có tiểm năng rất lớn cho việc nuôi cá biển. Vì vậy nếu được đầu tư đúng mức,
ngư dân và các cơ sở sản xuất tiếp nhận đươc kỹ thuật nuôi tiên tiến và khi đã chủ động
sản xuất nhân tạo giống cá biển thì nghề nuôi cá biển của Việt Nam sẽ có bước nhảy vọt,
tạo việc làm và tăng thu nhập cho đông đảo ngư dân ven biển, đem lại nguồn hàng xuất
khẩu lớn cho đất nước. [3]
2.3. Tình hình nghiên cứu và phát triển nuôi cá biển ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.3.1. Tiền năng vùng nuôi.
Số lượng lồng nuôi đang gia tăng một cách đáng kể, một số vùng nuôi trọng
điểm như Vinh Hiền, thị Trấn Lăng Cô, thị Trấn Thuận An, xã Hải Dương người nuôi
đầu tư số lượng lồng khá nhiều, trung bình mỗi hộ có trên 10 lồng, có hộ đầu đến 30 –
40 lồng nuôi, ngoài ra các hộ đều có trung bình 1 - 2 lồng kích cở mắc lưới nhỏ phục vụ
ương giống. Quá trình rà soát thực trạng các hộ nuôi cá lồng của Chi cục Nuôi trồng
Thủy sản năm 2014 cho thấy số lồng thực tế rất cao so với số liệu báo cáo, cụ thể như
sau:
Bảng 2.2. Số lồng nuôi thực tế tại các địa phương.
STT
Địa phương
Số lồng
rà soát 2014
(cái)
So với cùng kỳ
500
230
217
3
Thị Trấn Lăng Cô
600
450
133
4
Xã Vinh Hưng
300
20
1500
II
1
2
659
400
60
6
75
9
44
22
43
585
227
275
200
333
160
111
114
114
116
157
1
Xã Hải Dương
900
565
(Nguồn: Báo cáo của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản năm 2014 )
Do các đối tượng cá nước lợ có giá trị kinh tế cao và dễ tiêu thụ, với thực tế
không ngừng gia tăng về số lượng lồng nuôi, dự kiến trong thời gian đến, nếu không có
quy hoạch và quy định để quản lý tình trạng phát triển tự phát, các xã vùng đầm phá có
điều kiện thuận lợi về độ mặn, độ sâu và lưu tốc dòng chảy sẽ tiếp tục phát triển tự phát
ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, hoạt động nuôi trồng thủy sản trong vùng. [17]
2.3.2. Tiềm năng đối tượng nuôi.
Bảng 2.3. Phân bố các đối tượng nuôi phổ biến trên địa bàn tỉnh.
STT
Địa phương
I
1
Huyện Phú Lộc
Xã Vinh Hiền
2
Xã Lộc Bình
3
Thị Trấn Lăng Cô
4
Xã Vinh Hưng
Thị Trấn Thuận An
Chẽm, Hồng
2
Xã Phú Thuận
Chẽm, Hồng
3
Xã Phú Hải
Hồng, Hanh
4
5
6
7
8
III
1
Xã Phú Diên
Xã Vinh Thanh
Xã Vinh Phú
Xã Phú Đa
Xã Phú Xuân
Thị xã Hương Trà
Cá mú, căn,
hanh, dìa
Cá mú, căn,
hanh, dìa
Cá Mú, Cá Dìa
Cá Dìa
Cá Dìa
Cá Dìa
Cá Dìa
Hanh
Mú, Dìa
(Nguồn: Báo cáo của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản năm 2014 )
Đối tượng nuôi cá lồng nước lợ khá phong phú, ngoài các đối tượng nuôi có
nguồn giống chủ động từ sinh sản nhân tạo như cá Hồng Mỹ, cá Chẽm, cá Đối mục, cá
Chim trắng vây vàng,... Người dân đã khai thác các đối tượng cá tự nhiên trong vùng
đưa vào nuôi rất phổ biến và có hiệu quả kinh tế như cá Hồng, cá Vẩu, cá Mú, cá Hanh,
cá Nâu, cá Dìa, cá Ong Căn, cá Ong Bầu, cá Ốc, cá Lạc,...vv.
Tùy theo đặc tính của từng vùng, đặc biệt yếu tố độ mặn và độ sâu, nguồn giống
tự nhiên phong phú, nguồn thức ăn dồi dào, người nuôi có thể cơ cấu lựa chọn đối tượng
nuôi phù hợp. Các vùng nuôi trong đầm phá độ mặn giao động từ 10 - 30‰ trong
khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 9, thích hợp với nhiều đối tượng nuôi. [18]
Một số vùng nuôi trọng điểm như Hải Dương, Thị Trấn Thuận An, Vinh Hiền,
Lộc Bình hiện nay đối tượng cá Chẽm, Hồng Mỹ, cá Vẩu, cá Mú tùy thuộc vào độ mặn,
nguồn thức ăn tươi, thị trường, người nuôi quyết định chọn nuôi tập trung một trong các
đối tượng nhiều hơn. Cụ thể như:
Xã Hải Dương: nuôi cá Chẽm, Hồng Mỹ; Thị Trấn Thuận An: nuôi cá Mú, cá
Hồng Mỹ, cá Chẽm; xã Vinh Hiền: nuôi cá Vẩu, cá Mú; xã Lộc Bình nuôi cá Hồng Mỹ,
Các đối tượng cá bản địa thu vớt tại địa phương và các tỉnh lân cận: đây là nguồn
giống khá phong phú, quá trình khai thác đánh bắt tự nhiên người dân đã đưa vào nuôi
thương phẩm một số loài có giá trị kinh tế như cá Hồng đỏ, cá Hanh, cá Ong căn, cá
Nâu, cá Lạc, cá Dìa,...vv. Các đối tượng nuôi khá tích ứng tốt với điều kiện nuôi trong
lồng và ít bị bệnh, hiệu quả đáng kể do người dân ít đầu tư chi phí con giống và thức ăn,
tuy nhiên số lượng giống tùy thuộc vào tự nhiên, vì vậy lượng giống cung cấp không ổn
định.
Qua theo dõi kết quả nuôi của các hộ, chất lượng cá giống hiện nay một số đối
tượng còn chưa đảm bảo, đặc biệt là cá chẽm tốc độ phát triển chậm, dịch bệnh xảy ra
nhiều. Tuy nhiên, vấn đề quản lý giống cá của các nơi nhập về vẫn chưa được quản lý
chạt chẽ, người dân mua giống mang tính chất còn may rủi nên một số hộ nuôi đã bị thua
lỗ, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lớn.
Hiện nay trại giống của Khoa Thủy sản - Trường Đại học Nông lâm Huế đã thử
nghiệm sinh sản nhân tạo giống cá Dìa, trong thời gian đến sẽ nghiên cứu cho sinh sản
nhân tạo cá Ong Bầu, cá Vẩu, tuy nhiên chỉ đang còn trong giai đoạn nghiên cứu và sinh
sản với số lượng ít, chưa đáp ứng được nhu cầu con giống cho người nuôi trong tỉnh.
[18]
2.3.5. Năng suất và sản lượng.
Sản lượng cá lồng nước lợ tăng mạnh trong những năm gần đây, năm 2014 tổng
sản lượng nuôi cá lồng nước lợ vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai - Lăng Cô là 685,2
tấn, năng suất trung bình 0,3 - 0,5 tấn/ lồng chủ yếu cá Chẽm, cá Hồng mỹ, cá Vẩu, cá
Mú, cở cá thu hoạch trung bình 1 - 2 kg/ con tùy thuộc vào nhu cầu thị trường, thời gian
nuôi 8 tháng đến hơn một năm. Sản lượng cá lồng ước tính 9 tháng đầu năm 2015 đạt
827 tấn, đạt 120% so với năm 2014. Sản lượng và năng suất nuôi cá lồng tăng đáng kể
hàng năm. Hiện nay, một số hộ nuôi thu hoạch năng suất đạt trung bình 0,5 tấn/ lồng
nuôi cá chẽm hoặc hồng mỹ. [18]
Bảng 2.4. Năng suất trung bình một số đối tượng nuôi.
Stt
1,5 – 2
7-9
3
Cá Mú
200 – 300
2
16-20
4
Cá Hồng, Hanh
200 – 300
0,7 – 1
8
5
Cá Giò
1.000 - 1.500
3.2. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nuôi cá lồng bè trên vùng biển thị trấn Thuận An.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 07/2016 đến tháng 12/2016.
- Địa điểm nghiên cứu: Cộng đồng ngư dân 5 thôn gồm: Hải Thành, Minh Hải,
An Hải, Hải Bình và Hải Tiến - thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên
Huế.
Hình 3.1. Bản đồ vị trí địa lý các thôn điều tra ở thị trấn Thuận An.
( Nguồn: Internet)
3.3. Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu.
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập và đánh giá các tài liệu khoa
học, số liệu điều tra cơ bản, báo cáo tổng kết hàng năm của ngành thủy sản, báo cáo
kết quả thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học liên quan đến nội dung và phạm vi
nghiên cứu của đề tài đã thực hiện và công bố như:
- Các tài liệu, báo cáo kết quả nghiên cứu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, khí
hậu thời tiết, môi trường đất, môi trường nước, kinh tế xã hội ở thị trấn của các ban
ngành.
- Báo cáo kết quả hàng năm về phát triển nuôi cá lồng bè của phòng NN &
PTNT, của UBND thị trấn Thuận An.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Trong quá trình điều tra thu thập số liệu
sơ cấp sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA): phân tích các vấn đề
về các mặt: điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển nuôi cá
lồng bè tại địa phương.. Bộ câu hỏi được lập và chuẩn hoá với các thông tin cần thu
thập liên quan đến mục đích đề tài như:
+ Thông tin chung về hộ nuôi cá lồng bè: Tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản
xuất, lao động tham gia nuôi cá lồng…
+ Nhiệt tình, sẵn sàng chia sẽ kinh nghiệm.
3.3.3. Phương pháp tích và xử lý số liệu.
- Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel.
- Phân tích thống kê mô tả: các chỉ số trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, sai số trung
bình, độ lệch chuẩn, phần trăm tỷ lệ và các kiểm định mẫu.
PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thị trấn Thuận An, huyện Phú
Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.1.1. Vị trí địa lý của thị trấn Thuận An.
Hình 4.1. Bản đồ vị trí địa lý thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang.
(Nguồn: Niên giám thị trấn Thuân
An)
Thuận An là thị trấn ven biển thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế,
được thành lập vào năm 1999 trên cơ sở sát nhập 2 xã là Thuận An và Phú Tân cũ. Thị
trấn nằm cách thành phố Huế 12 km về phía Đông Nam, dọc theo quốc lộ 49A. [16]
Vị trí địa lý của thị trấn: Phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp xã Phú Thanh
và xã Phú Dương, phía Nam giáp xã Phú Thuận và xã Phú An, phía Bắc giáp huyện
Hương Trà và xã Phú Thanh. [16]
Thị trấn gốm có 12 thôn bao gồm Hải Thành, Minh Hải, An Hải, Hải Bình, Hải
Tiến, Tân Cảng, Tân Lập, Tân Mỹ, Tân Bình, Tân An, Tân Dương và Diên Trường.
[14]
4.1.2. Điều kiện khí hậu và đất đai.
4.1.2.1. Địa hình đất đai.
Thuận An là một thị trấn đồng bằng ven biển và đầm phá nằm dọc theo quốc lộ
4.2. Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.2.1. Tình hình dân số và lao động.
Tình hình dân số và lao động của thị trấn qua 2 năm 2013 và 2014 biểu hiện
trong bảng 5 dưới đây.
Năm 2013, tổng dân số của thị trấn là 20.445 người với 3.916 hộ, trong đó số
hộ nuôi tôm là 344 hộ chiếm 8,78%
Tổng dân số năm 2014 của thị trấn là 20.567 người, tăng 122 người tương ứng
tăng 0,6% so với năm 2013, với 4.473 hộ và 448 hộ nuôi tôm. Trong 577 hộ tăng lên
của năm 2014 so với năm 2013 thì có đến 104 hộ nuôi tôm chiếm 18,02%, cho thấy
nuôi tôm hiện vẫn đang là ngành nghề hấp dẫn với người dân nơi đây. Điều đó còn thể
hiện ở chỗ năm 2014, toàn thị trấn chỉ có 153 LĐ tăng thêm nhưng lại có thêm đến 208
LĐ tham gia vào nuôi tôm. [13]
Bảng 4.1. Tình hình dân số và lao động của thị trấn qua 2 năm (2008 – 2009).
2013
Chỉ tiêu
ĐVT
Số
2014
%
2014/2013
Số
%
+/%
LĐ
7.621 82,09 7.733 91,94
112
1,47
Trong đó số LĐ nuôi tôm LĐ
688
9,03
896 11,59
208
30,23
- LĐ phi NN
LĐ
1.663 17,91 1.704 18,06
41
2,47
4. BQ LĐ/hộ
LĐ/ hộ
2,37
2,12
- 0,25 - 10,55
5. BQ NK/hộ
Khẩu/ hộ
5,22
4,60
- 0,62 - 11,88
(Nguồn: Báo cáo thống kê hàng năm của UBND thị trấn)
Do thị trấn nằm ven đầm phá nên phần lớn ruộng lúa ở đây đều bị ngập mặn
dẫn đến năng suất thấp. Trái lại nhờ thuận lợi về mặt địa thế, ngành ngư nghiệp phát
triển mạnh và trở thành ngành kinh tế chủ lực đầy tiềm năng của thị trấn. Từ những
năm 1990, UBND thị trấn đã xác định: Khai thác và NTTS cùng với dịch vụ du lịch là
100
1.703,00
100
1. Đất NN
429,35
25,21
429,35
25,21
- Đất trồng lúa
42,54
9,91
44,32
10,32
- Đất NTTS
312,00
72,67
300,00
69,87
Trong đó đất chuyên nuôi tôm
43,00
13,78
38,00
13,03
2. Đất lâm nghiệp
74,1
4,35
74,6
4,38
3. Đất phi nông nghiệp
1.125,21