Tìm hiểu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ rừng phi lao chắn gió vùng cát ven biển huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 34

TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Vùng cát ven biển, đầm phá ở Thừa Thiên - Huế có đến 42 xã, thị trấn
thuộc huyện: Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc, với
chiều dài gần 50 km, rộng hàng chục nghìn ha. Ðiều kiện môi trường của vùng
này nhiều năm qua có sự biến động khá mạnh. Trong đó, hiện tượng sạt lở bờ
biển và hiện tượng cát bay, cát nhảy, sa mạc hóa là những mối đe dọa thường
xuyên, làm cho vùng đất nơi đây vốn đã khó khăn, lại càng khó khăn hơn. Hiện
tượng nhiễm mặn, sa mạc hóa, ngập úng do lún sụt địa tầng diễn ra ngày càng
nhiều trên diện rộng. Ở ven biển huyện Phú Vang có diện tích rừng Phi lao
phòng hộ có hiệu quả nhằm ngăn chặn các hiện tượng thiên tai đang diễn ra
hàng năm tại đây. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, diện tích rừng Phi lao
ven biển huyện Phú Vang không phát triển thêm mà còn giảm xuống do nhiều
nguyên nhân . Hiểu được vấn đề đó tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu
hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ rừng Phi lao chắn gió vùng cát ven
biển huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Mục tiêu của đề tài là nhằm điều tra đánh giá hiện trạng Phi lao trên vùng đất cát
ven biển huyện Phú Vang, đồng thời khẳng định vai trò phòng hộ chắn gió của
dải Phi lao ở ven biển trên địa bàn. Từ đó xây dựng các giải pháp bảo vệ dải Phi
lao trước diễn biến ngày càng phức tạp của khí hậu và những tác động
của con người có ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng, phát triển của cây Phi lao
nói chung và dải Phi lao ở ven biển huyện Phú Vang nói riêng.
Chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và phương pháp thu
thập số liệu thứ cấp như tình hình phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên
của huyện Phú Vang, lập ô tiêu chuẩn, phỏng vấn, khảo sát hiện trường để nêu
lên hiện trạng rừng Phi lao ven biển huyện Phú Vang
Qua khảo sát chúng tôi đã thống kê được rừng Phi lao ven biển huyện Phú
Vang có diện tích 458,56ha, phân bố chủ yếu ở các xã ven biển từ thị trấn Thuận
An đến xã Vinh An. Mật độ trồng ban đầu là 10000 cây/ha. Phi lao ở đây tăng
trưởng trung bình 0,84cm/năm về đường kính và 0,58m/năm về chiều cao,
những cây đứng trước gió thường mọc lòa xòa, phát triển chậm. Số cây tái sinh
lớn, chiếm 50 đến 60% số cây trong rừng. Tuy tình trạng cháy rừng Phi lao từ

thuộc huyện: Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc, với
chiều dài gần 50 km, rộng hàng chục nghìn ha. Ðiều kiện môi trường của vùng
này nhiều năm qua có sự biến động khá mạnh. Trong đó, hiện tượng sạt lở bờ
biển và hiện tượng cát bay, cát nhảy, sa mạc hóa là những mối đe dọa thường
xuyên, làm cho vùng đất nơi đây vốn đã khó khăn, lại càng khó khăn hơn. Hiện
tượng nhiễm mặn, sa mạc hóa, ngập úng do lún sụt địa tầng diễn ra ngày càng
nhiều trên diện rộng. Tại thị trấn Thuận An (huyện Phú Vang) và xã Hải Dương
(Hương Trà), những nơi có biển xâm thực vào đất liền sâu từ 50 đến 100m, đã
cuốn trôi dãy nhà nghỉ của Công an tỉnh cùng ngọn hải đăng ra biển, một phần
do biến đổi khí hậu, phần khác do rừng phòng hộ ven biển quá mỏng, chưa đủ
khả năng phòng hộ để giảm tác hại từ sóng biển và gió bão.
Trong 5 huyện giáp biển của Thừa Thiên Huế, huyện Phú Vang có vị trí
địa lý tương đối đặc biệt. Đại bộ phận lãnh thổ chạy dọc theo bờ biển Thừa
Thiên Huế. Huyện nằm về phía Đông tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Bắc giáp thị
xã Hương Trà, phía Tây giáp thành phố Huế và thị xã Hương Thủy, phía Nam
giáp huyện Phú Lộc, phía Đông giáp biển Đông. Lãnh thổ bị chia cắt thành hai
phần bởi Phá Tam Giang. Toàn huyện có diện tích tự nhiên hơn 280 km2, với
diện tích đất cát tương đối lớn, chiếm 17% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện và
chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi gió biển.
Nhận thức được tầm quan trọng của 'lá chắn' rừng phòng hộ, các huyện
ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế đã hình thành tuyến rừng phòng hộ ven biển
chạy dài từ Phú Lộc đến Quảng Ðiền, chủ yếu là rừng cây Phi lao và nhóm các
loại thực vật hoang dại như: xương rồng, tràm, chổi, mua, sim, chạc chìu, dứa
dại... Các loài cây trồng này được trồng, chăm sóc tốt sẽ tạo một thảm thực vật
phòng hộ cho vùng đất, góp phần chống sa mạc hóa, tạo cảnh quan sinh thái cho
môi trường sống và sản xuất, góp phần đa dạng hóa thành phần loài cho thảm
thực vật vùng cát phòng hộ ven biển.
Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, diện tích Phi lao có xu hướng
ngày càng giảm, hiện nay chủ yếu là diện tích Phi lao đã trồng trước đây còn lại,
diện tích trồng mới hầu như không có hoặc rất ít.

cành nhỏ, dài 1-2mm.
Thân thẳng tròn, vỏ nâu xám có chất chát dùng nhuộm lưới đánh cá biển
rất tốt. Gỗ cứng nặng màu nâu, khá bền, nhưng rất dễ nứt nẻ, đốt làm than hơi
chạy máy tốt. Bộ rể rất phát triển. Rể cọc khỏe và dài mọc sâu đến 1,5m hoặc
nhiều khi sâu hơn nữa. Rể bàng mọc cách mặt đất khoảng 20cm, rất nhiều nhánh
và đặc biệt có bộ rể con, rể tơ rất phong phú. Trên vùng đất cát có những rễ bò
ngang dài đến vài chục mét. Nếu thân bị cát vùi lấp thì lại đâm thêm những lớp
rể phụ mới ăn ngang mặt đất.
Hoa đơn tính, cùng gốc hay khác gốc. Cụm hoa đực hình đuôi sóc, gồm
rất nhiều hoa đực mọc vòng, không có bao hoa; chỉ gồm 1 nhị, lúc đầu có chỉ
ngắn, sau kéo dài; bao phấn 2 ô. Cụm hoa cái đơn độc, mọc ở ngọn các cành
bên; hoa cái cũng không có bao hoa, đính vào nách của 1 lá bắc. Bầu 1 ô, 2
noãn, nhưng chỉ một noãn phát triển. Quả tập hợp trong một cụm quả (quả phức)
hình bầu dục, hoá gỗ với các lá bắc tồn tại. Hạt 1, không có nội nhũ.
2.1.2. Đặc điểm sinh thái của cây Phi lao
* Phân bố:
Cây có nguồn gốc châu Úc, hiện nay đã được trồng ở hầu hết các nước
Đông Nam Á, các nước châu Á và châu Phi nhiệt đới.
5


Người Pháp đã đem cây Phi lao vào trồng ở Việt Nam từ năm 1896. Lần
đầu tiên Phi lao được đem trồng ở bãi cát ven biển Nghệ An, thấy mọc tốt cho
nên từ năm 1915 Phi lao được dần dần phổ biến khắp những vùng cát ven biển,
nhiều nhất là từ Thái Bình đến Nha Trang, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung
Trung bộ để làm rừng chắn cát, chắn gió, lấy củi, lấy gỗ làm trụ mỏ. Nam bộ
cũng có trồng một ít ở đồi cát ven biển Thuận Biên, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào
khoảng những năm 1940.
Theo Giáo sư Lâm Công Định, ở Việt Nam Phi lao có 2 chủng: Phi lao
trắng và Phi lao tía. Phi lao trắng có tỉ lệ quả/hạt là 1/35. Gỗ màu trắng, dác lõi

kính 3cm; cây 4 tuổi cao 11-12m, đường kính 12-15cm; cây 10 tuổi cao 18-20m,
đường kính trên 20cm. Thông thường trên 25 tuổi, cây ngừng sinh trưởng chiều
cao, đến 30-50 tuổi cây trở nên già cỗi.
Phi lao sinh trưởng quanh năm, nhưng vào mùa mưa, cây sinh trưởng
nhanh hơn. Ở giai đoạn tuổi nhỏ cây chịu khô và chịu rét kém; vượt qua giai
đoạn này cây sinh trưởng tốt hơn.
Cây tái sinh chồi rất tốt. Trên thân cây có nhiều rễ bất định, do đó thân
cây bị vùi lấp tới đâu, cây vẫn ra rễ được ở nơi đó và sinh trưởng bình thường.
Mùa ra hoa là vào tháng 3 – 4, mùa chín vào khoảng tháng 8, cũng có cây
ra hoa chậm và đến tháng 1 – 2 vẫn còn quả. Nơi đất tốt thường khoảng sau 3
năm cây đã bắt đầu ra hoa kết quả. Nhưng quả nhiều chỉ từ 4 tuổi trở lên, và hạt
giống phải lấy ở cây 6 – 12 tuổi.
2.1.3. Hiện trạng Phi lao trên lãnh thổ Việt Nam
Hiện nay Phi lao đã trở thành một trong những loài cây gỗ quen thuộc của
Việt Nam. Hầu hết các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang đều trồng
Phi lao trên các bãi cát ven biển. Nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam trồng Phi lao
làm cây chắn gió, cây ven đường lấy bóng mát, hay trong công viên làm cây
cảnh.
Diện tích đất cát và cồn cát ven biển Việt Nam có khoảng 502.045 ha,
chiếm 1.4% diện tích tự nhiên toàn quốc (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông
nghiệp, 1980), tạo thành các dải đất cát chạy dọc theo bờ biển, phân bố chủ yếu
ở các tỉnh vùng ven biển miền Trung, bao gồm các đụn, cồn cát di động, cồn và
bãi cát bán di động, bãi cát cố định và bãi ẩm thấp. Đây là một vùng sinh thái
khắc nghiệt, hiểm hoạ cát di động uy hiếp mạnh mẽ các khu dân cư, ruộng vườn,
đường sá và trở thành khu vực rất xung yếu. Phi lao đã được nhập nội, trồng
rừng ở Việt Nam từ năm 1896 và tỏ ra là một loài cây thích hợp nhất với vùng
7


cát ven biển. Qua hơn một thế kỷ gây trồng rừng, tính đến năm 1995 Việt Nam

loài cây nào có thể phát triển được trên những vùng đất đã qua khai thác titan.
Ngày nay, với sự cạnh tranh về môi trường sống và những lợi ích kinh tế mang
từ những loài cây có năng suất cao hơn cây Phi lao như tràm hoa vàng, keo lai,
bạch đàn, xoan chịu hạn và đăc biệt là cây keo lưỡi mác thì diện tích Phi lao bị
8


thu hẹp và chỉ phân bố thành những dải rừng ven biển rộng từ 50 – 200m. Cây
Phi lao sống được trên nhiều loại đất nhưng khó có thể cạnh tranh với nhiều loài
cây khác nên chỉ thấy chúng phổ biến ở vùng đất cát ven biển. Tuy có nhiều lợi
thế trên vùng đất cát ven biển so với nhiều loài cây khác nhưng cây Phi lao cũng
phát triển khó khăn trước gió biển không ngừng. Phần lớn những cây ở sát biển
nhất phát triển không bình thường, cây mọc lòa xòa, cành nhánh lan sát mặt đất,
sinh trưởng về chiều cao kém. Càng xa biển thì cây phát triển tốt hơn.
Về thành quả trồng rừng Phi lao ở vùng cát, cơ bản đã thành công trên các
đối tượng cát bán di động và cố định với mô hình từ hạt và từ hom.
-. Mô hình rừng Phi lao từ hạt:
Trên các đụn cát cao, dốc, đang di động hầu hết chưa được trồng rừng.
Một phần nhỏ diện tích ở chân hoặc sườn đụn cát chỉ được trồng Phi lao từ hơn
20 năm nay nhưng tỷ lệ số cây còn tồn tại không đáng kể. Qua quá trình di động
của đụn cát, các cây Phi lao bị vùi lấp và mọc thành các cụm Phi lao gồm nhiều
chồi trên cát trắng. Rừng Phi lao 21 tuổi trồng trên sườn đụn cát ở Ninh Thuận
tồn tại các cụm Phi lao gồm 4-6 hoặc tới 10 chồi mọc cao 10-12m, D 1,3 chồi 68cm, với đường kính tán của cả cụm 6-8m hoặc tới 10m, mật độ 300 cụm/ha
nhưng vẫn bảo đảm độ tàn che tới 50 % và tạo nên một lớp thảm khô, mục dày
2-5cm.
Đối tượng cát di động tương đối bằng phẳng được trồng rừng 2-3 năm gần
đây, mạnh dạn nhất là ở Quảng Bình do được dự án ARCD hỗ trợ. Rừng trồng
sau 3 năm tuổi chỉ đạt chiều cao trung bình 0,8-1m, với tỷ lệ sống 80 – 90%
nhưng trên 80% số cây bị khô chết ngọn, cây có cành lá đỏ vàng và sau này phát
triển rất chậm, không mọc thành cây có thân chính rõ ràng mà chỉ tồn tại ở dạng

trồng từ hạt, tán cây ở dạng hình tháp, đỉnh vươn cao, không mọc loà xoà, cành
phân thấp ngay sát mặt cát, chịu được cát vùi lấp nên bước đầu thấy Phi lao hom
Trung Quốc có triển vọng gây trồng trên cát còn di động hơn Phi lao trồng bằng
hạt thông thường.
2.1.4. Hiện trạng Phi lao trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Ở Thừa Thiên Huế, cây Phi lao phân bố chủ yếu ở năm huyện ven biển là
Phú Vang, Phú Lộc, Phong Điền, Quảng Điền và Hương Trà trên loại đất cát
ven biển. Rừng Phi lao ở Thừa Thiên Huế là rừng trồng phòng hộ ven biển chắn
gió, chắn cát bảo vệ vùng bên trong nội đồng trước những tác hại của gió bão,
sự di động của cát. Hiện nay diện tích rừng Phi lao không những không tăng lên
mà còn giảm xuống do hiện tượng khai thác trộm trái phép Phi lao làm gỗ, trụ
mỏ, củi đun; những vùng gần bãi biển bị thu hẹp dần do phát triển các công trình
phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng; việc trồng loài keo lưỡi mác lan ra sát biển cũng là
nguyên nhân quan trọng làm thu hẹp diện tích Phi lao. Rừng Phi lao ở Thừa
Thiên Huế chủ yếu là rừng già, rừng mới trồng rất ít và tỷ lệ chết ngọn ở những
cây mới trồng rất lớn. Thường xuyên chịu tác động của giò biển nên những cây
10


Phi lao đứng trước gió chỉ có thể mọc lòa xòa dạng bụi mới có thể tồn tại được.
Càng vào sâu trong đất liền thì Phi lao phát triển tốt hơn.
2.2. Đặc điểm cồn cát ven biển:
Cồn cát là những vùng bờ biển giàu nguồn cát mịn, đường kính hạt trong
khoảng từ 0,2 đến 2mm, bị khô khi thủy triều rút, bị sấy nóng do mặt trời. Từ
khi xuất hiện đến khi ổn định, cồn cát không hình thành đơn lẻ mà tạo thành một
dãy cồn song song với mép nước biển như những làn sóng cát.
Cồn cát ven bờ là nơi sinh cư của nhiều loài động vật nhỏ như bò sát, gặm
nhấm, côn trùng; là vùng đệm an toàn giữa biển và đất liền và rất dễ bị tổn
thương do hoạt động của con người cũng như do thay đổi chế độ động lực biển
và khí hậu. Một vùng bờ có thể có nhiều thế hệ cồn cát xuất hiện vào các thời kỳ

Trên địa bàn huyện có quốc lộ 49, tỉnh lộ 10A, 10B, 10C và các tuyến
trục ngang nối các tỉnh lộ với quốc lộ tạo thành một hệ thống đường giao thông
hợp lý, thuận lợi cho giao lưu trong nội bộ huyện và với bên ngoài.
* Địa hình, đất đai
Phú Vang thuộc vùng đất trũng, có diện tích đầm phá lớn, đất đai bị chia
cắt bởi hệ thống sông ngòi, đồi cát không thuận lợi cho phát triển hệ thống
12


đường bộ và đường thủy. Diện tích tự nhiên 27987,03ha, trong đó đất nông
nghiệp 12448,12ha, đất phi nông nghiệp 14236,05ha, đất chưa sử dụng
1302,86ha.
Đất đai của huyện Phú Vang chủ yếu là đất nông nghiệp và mặt nước nuôi
trồng thủy hải sản. Tiềm năng đất chưa khai thác còn lớn, chiếm 42,3% tổng
diện tích đất tự nhiên. Tuy nhiên, tỷ lệ đất chưa sử dụng có thể chuyển giao gieo
trồng không lớn, chủ yếu là các cồn cát, bãi cát. Đất mặt nước chưa sử dụng chủ
yếu là đất ao hồ, đầm phá.

13


Bảng 2.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2012
Đất
A.

B.

C.

Tổng số

Tổng số (ha)
27987,03
12448,12
8879,13
8633,38
0,00
245,75
1703,07
658,22
1044,85
0,00
1846,52
0,00
19,4
14236,05
2635,69
389,93
2245,76
2774,82
26,56
33,35
181,67
2533,24
215,77
1878,88
6728,16
2,73
1302,86
1302,86
0,00

4,65
0,00
0,00

(Nguồn: UBND huyện Phú Vang năm 2014)
* Khí hậu, thời tiết
Phú Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm của vùng
ven biển, có hai mùa mưa, khô rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm
sau, lượng mưa hàng năm khá lớn, trung bình khoảng 3.000mm. Mưa phân bố
14


không đều trong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 9,10,11 và 12 chiếm 75 –
80% lượng mưa cả năm, gây úng lụt ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, nuôi
trồng, khai thác thủy hải sản, cũng như đời sống của nhân dân. Mùa khô gió Tây
Nam khô nóng oi bức, bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, lượng bốc hơi cao nhất là
từ tháng 2 đến tháng 4 (lúc thủy triều thấp) làm độ mặn trong các ao hồ nuôi
thủy sản tăng, gây trở ngại cho nuôi trồng thủy hải sản.
Thủy triều dạng bán nhật triều, biên độ thủy triều 0,5 – 2m. Tại Thuận
An, độ cao thủy triều trung bình khoảng 0,4 – 0,5m. Vùng Bắc Thuận An có độ
cao thủy triều trung bình 0,6 – 1,2m. Độ cao thủy triều trong đầm phá thường
nhỏ hơn ngoài vùng biển. Nhìn chung chế độ thủy triều vùng ven biển, đầm phá
của huyện Phú Vang thuận lợi cho nghề nuôi trồng thủy hải sản.
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.3.2.1. Tình hình kinh tế - xã hội
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) ước đạt 18,65%. Trong đó, dịch vụ
tăng 24,85% so với năm 2012. Tổng giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ ước đạt
2.210,3 tỷ đồng. Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng tăng 22,3%.
Năng suất lúa đạt 55,9 tạ/ha. Sản lượng lương thực có hạt 65.096 tấn, trong đó
sản lượng thóc 64.967 tấn, đạt 99,2% kế hoạch. Chăn nuôi trên địa bàn huyện

- Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2015 xuống còn 1%, duy trì mức
tăng 0,8%/năm thời kỳ 2016 – 2020.
- Tỷ lệ đô thị hóa đạt 35 – 40% năm 2015; 60 – 65% vào năm 2020.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2015 xuống dưới 5%, không ngừng nâng
cao mức sống dân cư trong các thời kỳ tiếp theo.
- Duy trì kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở (20/20 xã thị trấn),
thực hiện phổ cập bậc trung học phổ thông ở những xã, thị trấn có điều kiện.
- Phấn đấu đến năm 2015 lao động qua đào tạo nghề đạt trên 50%, đến
năm 2020, đạt từ 60 – 65% trở lên; hàng năm tạo điều kiện cho 4.000 – 4.500
lao động.
- Hạ tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng đến năm 2015 xuống dưới
13%, năm 2020 còn 9 – 10%.
- Phấn đấu đến năm 2015 có 35 – 45% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn
mới, đến năm 2020 Phú Vang cơ bản trở thành vùng đô thị phát triển.
* Mục tiêu về môi trường:
- Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch, nước đảm bảo vệ sinh đến năm 2015 là
95%, năm 2020 đạt 100%.
- Đến năm 2015, có 90% số xã, thị trấn tổ chức thu gom, vận chuyển và
xữ lý rác thải, năm 2020 đạt 100%.
- Các cơ sở sản xuất trang bị các thiết bị làm giảm tác nhân gây ô nhiễm
môi trường.
16


- Bảo vệ và từng bước tái tạo môi trường, hệ sinh thái đầm phá Tam
Giang; bảo vệ và trồng rừng phòng hộ, rừng ngập mặn ven biển; trồng cây xanh
tạo cảnh quan du lịch, cải thiện môi trường, đảm bảo phát triển bền vững.
- Tỷ lệ che phủ rừng năm 2015 đạt 7,5%, năm 2020 đạt 7,8 – 8%.

17

- Phạm vi thời gian tháng 1/1-530/4/2015
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Tình hình cơ bản vùng cát ven biển huyện Phú Vang

18


- Điều kiện tự nhiên.
- Các nhóm đất cát ven biển huyện Phú Vang.
- Tình hình thời tiết trong những năm gần đây trên vùng cát ven biển ở
huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Điều kiện kinh tế xã hội.
3.3.2. Thống kê diện tích Phi lao ven biển huyện Phú Vang
- Tổng diện tích Phi lao ven biển trên toàn huyện.
- Phân loại trạng thái Phi lao
- Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống chữa cháy rừng.
3.3.3. Đánh giá tình hình sinh trưởng của Phi lao ven biển huyện Phú Vang
- Tình hình sâu bệnh hại.
- Các đặc điểm hình thái của cây Phi lao thích nghi với vùng đất cát ven biển.
- Sinh trưởng của Phi lao trên các vùng điều kiện lập địa khác nhau.
- Tăng trưởng về đường kính và chiều cao của cây Phi lao.
3.3.4. Đánh giá hiệu quả phòng hộ chắn gió của rừng Phi lao trên vùng đất
cát ven biển tại địa điểm nghiên cứu
- Khả năng chống chịu gió biển, gió bão.
- Đai bảo vệ cho rau màu, các loài cây thân gỗ bên trong đất liền.
- Hàng rào cản gió cho các công trình nông nghiệp, nhà ở.
- Khả năng giữ đất của cây Phi lao.
- Cấu trúc đai chắn gió có hiệu quả.
3.3.5. Đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ rừng Phi lao ven biển trước những
biến đổi phức tạp của khí hậu và những tác động của con người trong xu thế

của dải Phi lao sao cho tổng diện tích ô tiêu chuẩn tối thiểu bằng 1% tổng diện
tích của dải. Tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng (D 1,3; Hvn; Dt) của 30 – 35 cây
ngẫu nhiên/ô tiêu chuẩn.
- Chiều cao vút ngọn (Hvn): Đo bằng sào đo cao, đo từ mặt đất đến đỉnh
sinh trưởng của cây.
- Đường kính (D1,3): Được đo bằng thước dây tại vị trí 1,3m của thân cây.
- Đường kính tán (Dt): Được đo bằng thước dây theo 2 hướng ĐT – NB.
* Phương pháp quan trắc, thu thập các chỉ tiêu liên quan đến khả năng
chắn gió của Phi lao:
- Trên các dải Phi lao được chọn nghiên cứu điểm ở trên, sử dụng máy đo
tốc độ gió ở độ cao 1,5m tại vị trí cách 5 lần chiều cao của đai rừng ở phía trước
đai và cách 5, 10, 15, 20 lần chiều cao của đai rừng ở phía sau đai, vào các thời
điểm từ 7 giờ đến 17 giờ trong ngày (cứ cách 1 giờ đọc kết quả 1 lần).
20


- Chỉ tiêu đánh giá tác dụng chắn gió
Công thức tính hiệu năng chắn gió: E = (V – V0) / V0,
Trong đó: E (lần) là hiệu năng chắn gió hay số lần tốc độ gió sau đai giảm
hay tăng so với trước đai;
V (m/s) là tốc độ gió lấy ở khoảng cách khác nhau sau đai rừng;
V0 (m/s) là tốc độ gió ở vị trí cách 5H trước đai rừng.
3.4.3. Phương pháp xữ lý số liệu
Sau khi đã hoàn thành công tác điều tra, thu thập số liệu, tiến hành tổng
hợp và xử lý bằng phần mềm Excel. Sau đó tiến hành đánh giá, so sánh và nhận
xét thông tin.

21



Nhiệt độ trung bình cao nhất hàng tháng: 22,1 – 24,6 0C. Nhiệt độ trung bình
thấp nhất hàng tháng: 16,9 – 19,6oC.
+ Nhưng nhiệt độ cao nhất tuyệt đối có thể lên đến 40,8 0C và nhiệt độ
thấp nhất tuyệt đối không xuống quá 7,70C. Nghĩa là không rét. Tuy nhiên trong
những tháng này, thường hay có những đợt gió Bắc và Đông Bắc thổi xuống
22


làm cho nhiệt độ đột ngột bị hạ thấp xuống, sinh ra những đợt gió rét khó chịu
ảnh hưởng đến cây con vừa mới đem trồng chưa kịp hồi sức.
+ Lượng mưa rất ít: 42,3 – 66,6mm.
+ Lượng bốc hơi bằng 50% đến gần xấp xỉ toàn bộ lượng mưa.
+ Tình hình khô hạn này rất bất lợi cho sự sinh trưởng của cây Phi lao con
mới đem trồng, nhất là những cây được trồng trên những đồi cát lộng gió.
+ Gió lào đã bắt đầu thổi tương đối sớm ảnh hưởng không tốt đến những
cây Phi lao trồng trể vụ.


Từ tháng 4 đến tháng 8:
+ Đặc điểm khí hậu chủ yếu do ảnh hưởng của gió Lào quyết định. Nhiệt
độ tăng dần lên cao. Nhiệt độ trung bình hàng tháng: 25 – 29,8 0C. Nhiệt độ trung
bình cao nhất hàng tháng: 28,6 – 34,30C. Nhiệt độ trung bình thấp nhất hàng
tháng: 22,2 – 26,60.
+ Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối không lên tới 42,2 0C và nhiệt độ thấp nhất
tuyệt đối không xuống dưới 11,70C.
+ Nhìn chung những tháng này rất nóng, nóng nhất là tháng 6 – 7.
+ Lượng mưa có tăng lên: 53,2 – 112,6mm.
+ Tháng 4 thường hay chịu ảnh hưởng của hai luồng gió: Gió Đông Bắc
cuối mùa làm cho khí hậu trong tháng vẫn còn những đợt gió lạnh đột ngột làm
cho nhiệt độ xuống thấp. Nhưng đồng thời gió Lào đầu mùa cũng đã mạnh dần

4.1.2. Các nhóm đất cát ven biển huyện Phú Vang
4.1.2.1. Cồn cát trắng vàng
Đất được hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Cát màu vàng có
nguồn gốc từ biển – gió, phân bố thành dãy cồn – đụn cát ven biển và cát bãi
biển. Cát xám trắng chủ yếu có nguồn gốc biển và phân bố trên các dải gò cao
và rải rác ở ven rìa đồng bằng. Cát vàng nghệ nguồn gốc biển phần lớn bị cát
vàng nhạt và cát xám trắng trẻ hơn che phủ. Loại cát vàng nghệ xuất lộ chỏm
nhỏ ở xã Vinh Thanh.
Loại đất này có hình thái phẩu diện ít phân hóa, đồng nhất cả về màu sắc
và thành phần cơ giới, từ trên xuống dưới đều là cát tơi hoặc cát dính. Thành
phần cơ giới rất nhẹ, rời rạc. Tỷ lệ sét rất thấp, chủ yếu là cấp hạt cát, tỷ lệ cát
khô khá cao. Các đồn cát, đụn cát phần lớn chưa ổn định, hiện tượng di động
của cát đang thường xuyên xãy ra. Những nơi có địa hình thấp thì có sự phân
hóa về màu sắc, nơi nào trũng đọng nước thì tầng mặt xám hơi đen, tầng dưới có
màu xám vàng xen vệt trắng. Đây là loại đất rất nghèo mùn và các chất dinh
dưỡng; cation trao đổi rất thấp; dung tích hấp thu rất thấp, nên khả năng giữ
nước, giữ phân kém. Phần lớn diện tích loại đất này đang bị bỏ hoang.
Đây là loại đất có diện tích rất lớn, vì vậy cần có biện pháp tổ chức sản
xuất trên loại đất này, tùy theo từng nơi để bố trí các loại cây nông, lâm nghiệp
thích hợp. Trên cồn đụn cát cần trồng cây để chống cát bay lấn chiếm ruộng
đồng, làng mạc. Đối với các dải cát bằng, mịn, mực nước ngầm cao thì có thể
khai thác sử dụng trồng các loại cây nông nghiệp hoặc nông lâm kết hợp.
24


4.1.2.2. Đất cát biển
Đất cát biển phân bố không thành dải liên tục, được hình thành do quá
trình bồi tích của biển nhưng đã được khai thác và sử dụng lâu đời, vì vậy tính
chất lý hóa học của đất đã thay đổi theo chiều hướng có lợi cho sản xuất nông
nghiệp. Hình thái phẩu diện đã có sự phân hóa khá rõ, lớp đất mặt thường trắng

2012

29,3

2013

30,2
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status