Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại rừng dừa nước xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam - Pdf 56

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

LƯƠNG THỊ KIM KIỀU

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI
RỪNG DỪA NƯỚC XÃ CẨM THANH, THÀNH
PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP

Đà Nẵng - Năm 2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

LƯƠNG THỊ KIM KIỀU

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI
RỪNG DỪA NƯỚC XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ
HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Người hướng dẫn: TS. Kiều Thị Kính

Đà Nẵng - Năm 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài ................................................................................................3
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài .................................................................................3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................4
1.1. KHÁI NIỆM .......................................................................................................4
1.1.1. Du lịch sinh thái .............................................................................................4
1.1.2. Cộng đồng ......................................................................................................5
1.1.3. Dựa vào cộng đồng ........................................................................................6
1.1.4. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng .............................................................6
1.2. ÁP DỤNG DU LỊCH SINH THÁI....................................................................7
1.2.1. Áp dụng DLST trên thế giới ..........................................................................7
1.2.2. Áp dụng DLST tại Việt Nam .......................................................................11
1.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
...................................................................................................................................16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GHIÊN CỨU.19
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU .........................................................................19
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ............................................................................19
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................................19
2.3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp .........................................................19
2.3.2. Phương pháp phỏng vấn sâu ........................................................................19
2.3.3. Phương pháp điều tra bảng hỏi ....................................................................21
2.3.4. Phương pháp quan sát hành vi cộng đồng ...................................................21
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu ...........................................................................22
2.4. KHUNG NGHIÊN CỨU .................................................................................22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ..........................................................24
3.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DLST TẠI RDN XÃ CẨM THANH ..............24



HDV

Hướng dẫn viên

KBTB

Khu bảo tồn biển

KBTTN

Khu bảo tồn thiên nhiên

KDTSQ

Khu dự trữ sinh quyển

RDN

Rừng dừa nước

TNMT

Tài nguyên môi trường

UBND

Ủy ban nhân dân

UNESCO


Các đối tượng đề tài tiến hành phỏng vấn sâu

20

2.2.

Khung nghiên cứu của đề tài

22

3.1.

Diện tích RDN xã Cẩm Thanh thay đổi theo thời gian

24

3.2.

3.3.

Số lượng hộ dân tham gia vào hoạt động bơi thúng xã Cẩm
Thanh
Lượt khách du lịch đến với DLST Cẩm Thanh từ năm 2013
đến 2016

25

26




DANH MỤC HÌNH ẢNH

Số hiệu

Tên hình

Trang

1.1.

Ranh giới hành chính xã Cẩm Thanh ở hạ lưu sông Thu Bồn
và vị trí phân bố của dừa nước

16

1.2

Bản đồ khu vực nghiên cứu Cù Lao Chàm

19

3.1

Sự thay đổi diện tích RDN xã Cẩm Thanh qua các năm

24

3.2


30

3.7

3.8

3.9

Biểu đồ thu nhập trung bình 1 tháng của người dân làm nghề
tranh tre
Cách thức đặt phòng và quảng bá du lịch mô hình Homestay
tại Cẩm Thanh
Cách thức đặt phòng và quảng bá du lịch mô hình Homestay
tại Cù Lao Chàm

32

36

36


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, du lịch trên phạm vi toàn cầu đã phát triển
nhanh với tốc độ bình quân về khách 6,93%/năm, về thu nhập 11,8%/năm và trở
thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu trong nền kinh tế thế giới [5]. Tại

khách du lịch với thánh địa Mỹ Sơn được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế
giới vào năm 1999 (Unesco, 1999), đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới
được Unesco công nhận vào năm 1999 (Unesco, 1999), ngoài ra Hội An với vị trí
nằm cuối dòng sông Thu Bồn nên nơi đây được thừa hưởng sự đa dạng của các hệ
sinh thái vùng cửa sông và ven bờ. Hội An là nơi giàu có với các dịch vụ sinh thái
nhờ vào các bãi sậy, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm có biển, quần cư rong biển,
rừng tự nhiên trên đảo cũng như cảnh quan trên cạn và dưới nước đã tạo tiền đề cho
phát triển kinh tế xã hội địa phương nhất là hình thức du lịch sinh thái [12]. Nhắc
đến Hội An không thể không kể đến khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm,
nơi đây phát triển mạnh mẽ bởi loại hình du lịch Homestay và là khu dự trữ sinh
quyển được UNESCO công nhận vào tháng 5 năm 2009 (Unesco, 2009). Kèm theo
đó là các khái niệm bảo tồn bao gồm bảo tồn di sản văn hóa, bảo tồn biển, bảo tồn
rừng dừa nước được hình thành, càng về sau nó đã dần trở thành các mô hình thực
tiễn. Hoạt động du lịch sinh thái tại Hội An đã phát triển ngày một mạnh mẽ thể
hiện qua số du khách đến với Hội An năm 2013 là 1,6 triệu người, năm 2014 là hơn
1,7 triệu người, năm 2015 là khoảng 2,2 triệu và năm 2016 là 2,6 triệu người
(Phòng thương mại và du lịch, Thành phố Hội An). Tuy nhiên, những thành tựu
trong tăng trưởng vừa qua cũng còn bộc lộ nhiều yếu kém thể hiện trong chất lượng,
hiệu quả hoạt động du lịch, quản lý tài nguyên và phát triển bền vững.
Để giải quyết được các vấn đề trên tôi chọn đề tài ‘‘Đánh giá hiện trạng và đề
xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại rừng dừa nước xã Cẩm Thanh, thành
phố Hội An, tỉnh Quảng Nam’’ với mục đích mô tả hiện trạng du lịch sinh thái tại
Rừng dừa nước xã Câm Thanh theo các nguồn lực tự nhiên, xã hội, con người, tài
chính và hạ tầng từ đó đề xuất giải pháp phục vụ bảo vệ môi trường và phát triển
bền vững.


3

2. Mục tiêu của đề tài

người với thiên nhiên hoang dã đã cùng với ý thức giáo dục để biến bản thân khách
du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường. Phát triển
DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường đảm
bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú
trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên” (Hiệp hội du lịch
sinh thái năm 1993).
Căn cứ vào những đặc thù và mục tiêu phát triển mà mỗi quốc gia và mỗi tổ
chức quốc tế đều phát triển những định nghĩa riêng của mình:
- Định nghĩa của Nepan về du lịch sinh thái là loại hình du lịch để cao sự tham
gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng
cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch,
đồng thời thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc
vào [25].
- Định nghĩa của Malaysia thì cho rằng du lịch sinh thái là hoạt động du lịch
viếng thăm một cách có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên
còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những
đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc


5

đẩy công tác bảo tồn có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho
dân chúng địa phương được tham gia dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh
tế [17].
Năm 2001, theo Weaver nhận định có 3 tiêu chí trọng tâm được lặp lại trong
hầu hết các định nghĩa, đó là:
- Dựa vào thiên nhiên
- Có tính bền vững
- Có yếu tố về giáo dục hay nhận thức.
Năm 2002, Page và Dowling đưa thêm 2 yếu tố mà du lịch sinh thái nên có:

các phương thức phù hợp. Vì vậy, mức độ nhận thức và hành vi cộng đồng là các
nhân tố quyết định đến sự thành công của các công tác bảo tồn.
1.1.3. Dựa vào cộng đồng
Bảo tồn dựa vào cộng đồng là một phong trào nổi lên vào những năm 1980
thông qua các cuộc biểu tình leo thang và đối thoại tiếp theo với các cộng đồng địa
phương bị ảnh hưởng bởi những nỗ lực quốc tế để bảo vệ sự ĐDSH trên trái đất.
Bảo tồn dựa vào cộng đồng là kết hợp cải thiện cho cuộc sống của người dân địa
phương trong khi bảo tồn các khu vực lại thông qua việc tạo ra các Vườn quốc gia,
nơi trú ẩn của động vật hoang dã [7], [22].
Dựa vào cộng đồng là dựa vào những gì cộng đồng đã, đang và sẽ có, những
hiểu biết của họ về TNMT khu vực quản lý, về tình trạng khai thác, sử dụng nguồn
lợi, về tình hình kinh tế, xã hội, về văn hóa truyền thống và tri thức bản địa của
cộng đồng địa phương. Để dựa vào được cộng đồng, phải xây dựng cơ sở cộng
đồng vững mạnh bằng cách nâng cao nhận thức, năng lực, củng cố và phát triển
sinh kế thay thế bền vững [13].
1.1.4. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) định nghĩa CEBT (Du lịch sinh
thái dựa vào cộng đồng) là "Hình thức du lịch sinh thái nơi cộng đồng địa phương
có sự kiểm soát chặt chẽ, tham gia vào phát triển và quản lý, và phần lớn nguồn thu
lợi còn lại trong cộng đồng".
Theo nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2009): “Du lịch
sinh thái cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa
phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại
nền kinh tế địa phương”.


7

Còn theo tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997) thì du lịch sinh
thái cộng đồng là “phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã

8

cốt lỗi là nhận thức của cộng đồng tại địa phương. Chính phủ của các quốc gia này
đều rất chú trọng đến phát triển DLST cộng đồng. Họ tập trung nhiều nguồn lực để
có thể ưu tiên đầu tư cho DLST cả về cơ chế chính sách lẫn hạ tầng kỹ thuật và cơ
sở vật chất. Chính quyền đưa mối quan tâm hàng đầu về việc duy trì và bảo vệ môi
trường, cân bằng cảnh quan sinh thái, duy trì và phát huy văn hóa bản địa, họ xem
đây là những thách thức to lớn và cần có những chiến lược phù hợp để mà có thể
giải quyết [27].
Từ những nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới, vào năm 2014 tổ chức
UNWTO đã đưa ra các nguyên tắc để phát triển du lịch cộng đồng cần phải dựa trên
các nguyên tắc của du lịch bền vững:
- Sử dụng tối ưu nguồn môi trường, duy trì các tiến trình sinh thái học chủ yếu
và giúp bảo tồn nguồn tự nhiên và hệ sinh thái được thừa hưởng.
- Khía cạnh xác thực nền văn hoá - xã hội của cộng đồng địa phương, đảm bảo
họ đã xây dựng, kế thừa văn hoá và giá trí truyền thống, đồng thời góp phần vào sự
hiểu biết và thông cảm đối với các nền văn hoá khác nhau.
- Đảm bảo sự vận hành nền kinh tế lâu dài ổn định, cung cấp các lợi ích kinh
tế - xã hội đến tất cả những người có liên quan nhằm phân bổ công bằng.
Theo đó vào năm 2008 UNWTO đã đưa ra 10 tiêu chí của của một du lịch sinh
thái cộng đồng đang hướng tới gồm có các tiêu chí sau:
- Tiêu chí 1: Người dân nên được tham gia vào quá trình lên kế hoạch và quản
lý hoạt động du lịch tại cộng đồng.
- Tiêu chí 2: Hoạt động du lịch này phải mang lại lợi ích một cách công bằng
cho cộng đồng.
- Tiêu chí 3: Hoạt động du lịch này nên bao gồm tất cả các thành viên của
cộng đồng hơn chỉ là sự tham gia của một vài thành viên.
- Tiêu chí 4: Quan tâm đến sự bền vững của môi trường.
- Tiêu chí 5: Mọi hoạt động du lịch sinh thái cộng đồng phải tôn trọng nền văn
hoá và các “cấu trúc xã hội” tại cộng đồng.

tại địa phương. Họ trực tiếp phụ thuộc vào nguồn lợi mà các VQG, KBT hay các
khu hệ sinh thái mang lại. Thông qua đó cộng đồng là những người cung cấp trực
tiếp dịch vụ du lịch, các hàng hoá cho khách du lịch, bán lẻ thủ công mỹ nghệ.. trên
qui mô các nhân hay hộ gia đình [25], [27].
Cộng đồng là một thế mạnh nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận
thông tin và giáo dục bị hạn chế. Hầu hết người dân ở nông thôn thiếu kiến thức và


10

kỹ năng để có thể phát triển và vận hành các dịch vụ du lịch đầy đủ và bền vững.
Khó khăn về quá trình đào tạo hướng dẫn , bồi dưỡng nghiệp vụ cho cộng đồng. Vì
vậy tất cả các mô hình trên thế giới đều hướng đến việc chú trọng công tác giáo dục,
tập huấn dân làng ngay từ khi triển khai dự án về mô hình.
b. Quá trình phát triển DLST trên thế giới đã thành công dưới sự hỗ trợ của
Chính Phủ
Không những các mô hình phát triển du lịch sinh thái trên thế giới đánh giá
cao vai trò của cộng động mà ngay từ các bước đầu phát triển các mô hình này đã
nhận được nhiều sự hỗ trợ từ Chính phủ. Nổi trội là loại hình du lịch homestay phát
triển rộng rãi ở các vùng quê của Malaysia. Chính phủ Malaysia đã hỗ trợ tiền cho
họ nâng cấp, sửa sang lại nhà cửa để đón khách du lịch muốn tham gia loại hình
homestay, nhưng họ không phải đóng bất kỳ một khoảng thuế nào cho nhà nước.
Song song đó cũng cần những người dân tình nguyện sẵn sàng làm công tác du lịch,
mỗi làng cần có ít nhất 10 hộ dân tham gia làm du lịch homestay. Các hộ dân này
sẵn sàng tham gia các lớp huấn luyện đào tạo để quản lý và phục vụ du khách tốt
hơn [2], [3]. Theo thống kê của UNWTO trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương,
lượng khách quốc tế đến Malaysia chiếm hàng thứ hai chỉ sau cường quốc du lịch là
Trung Quốc. Bắt đầu được triển khai từ những năm 1980, đến nay loại hình du lịch
homestay đã phát triển rộng rãi ở 13 bang trên toàn quốc với gần 3300 hộ dân từ
230 ngôi làng khắp cả nước. Hàng năm đón hơn 160.000 lượt du khách trong đó có

Võ Quế (2008) là một trong những tác giả đầu tiên tại Việt Nam cho rằng phát
triển du lịch dựa vào cộng đồng bao gồm các nguyên tắc sau:
- Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực
hiện và quản lý, đầu tư và có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng.
- Phù hợp với khả năng của cộng đồng.
- Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng.
- Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với tài nguyên và văn hoá.
Trong những chương trình phát triển cộng đồng có sự hỗ trợ từ bên ngoài (các
chương trình của Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ, các chương trình dự án), vai
trò chịu trách nhiệm của cộng đồng rất ít hoặc còn mờ nhạt, vì:
- Cho rằng các hoạt động phát triển cộng đồng là của người ngoài;
- Thiếu chủ động tham gia vào các công việc đang triển khai tại cộng đồng;
- Trông chờ vào nguồn lực và phương pháp tổ chức từ hỗ trợ bên ngoài.
Tăng cường sự tham gia của người dân địa phương trong tất cả các hoạt động là
cách làm tốt nhất để phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của người dân.
Bởi sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động DLST là rất cần thiết:


12

- Cộng đồng địa phương chính là người đầu tiên tiếp xúc khai thác sử dụng và
có kinh nghiệm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa ở địa phương
qua nhiều thế hệ. Do đó, nếu họ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc tham gia
trong hoạt động DLST thì có thể họ sẽ cam kết mạnh mẽ hơn nữa đối với quản lý
bền vững các nguồn tài nguyên này.
- Nếu cộng đồng địa phương được tham gia vào phát triển DLST thì họ sẽ
càng có thiện cảm với hoạt động DLST và những kết quả đạt được từ hoạt động này
cũng sẽ cao hơn.
- Kinh nghiệm và những hiểu biết về các nguồn tài nguyên bản địa của người
dân địa phương sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm DLST.

tự cung cấp các sản phẩm du lịch

bảo tồn.

Cộng đồng tham gia vào các hoạt Phụ thuộc

Ít có đóng góp cho

động DLST do các tổ chức khác

bảo vệ môi trường và

đứng ra làm chủ

bảo tồn tài nguyên.

Cộng đồng là đối tượng để các tổ Thụ động

Hầu như không có

chức khác sử dụng trong hoạt

vai trò trong việc

động DLST

BVMT

Ngoài ra các mức độ tham gia của người dân địa phương được mô tả theo các
cấp bậc sau đây:

Trong những năm gần đây, số du khách đến thăm các điểm du lịch tự nhiên, tìm hiểu
cuộc sống của cộng đồng dân cư ở Việt Nam ngày càng tăng, nhưng vẫn thường
mang tính tự phát, chưa được tổ chức bài bản và chưa đi vào thực chất. Các hình thức
hoạt động của loại hình du lịch này mới chỉ mang ý nghĩa tham quan, hưởng thụ môi
trường, ít đạt được mục đích nâng cao nhận thức, giáo dục môi trường và cảm nhận
nét đặc sắc, cái hay, cái đẹp trong văn hoá của cộng đồng bản địa [1].


14

Theo Chu Mạnh Trinh, Hứa Chiến Thắng (2012), Khu bảo tồn biển Cù Lao
Chàm - Một mô hình thành công về quản lý theo cách tiếp cận hệ sinh thái, dựa vào
cộng đồng [15]. Với “Mô hình Đồng quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường tại
KBTB Cù Lao Chàm” từ năm 2003 đến năm 2011, KBTB Cù Lao Chàm cùng với
cộng đồng địa phương nơi đây đã đạt được những kết quả nhất định về: sự chia sẻ ý
kiến một cách đồng thuận, có trách nhiệm của cộng đồng trong việc quy hoạch phân
vùng và lập kế hoạch quản lý của KBTB; cộng đồng được quyền tiếp cận tài nguyên
và bảo vệ môi trường với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”;
cộng đồng được cải thiện sinh kế thông qua các hoạt động du lịch với sự đào tạo từ
các lớp học nghiệp vụ…[14].
Quá trình triển khai DLST tại Việt Nam thể hiện rõ một số vấn đề tồn đọng
liên quan đến du lịch sinh thái cần được giải quyết trong thời gian tới như: Những
mâu thuẫn nảy sinh về việc chia sẻ lợi ích trong công tác làm du lịch giữa người dân
với nhau và giữa người dân với các dịch vụ du lịch có nguồn gốc từ bên ngoài. Như
vậy, ta cần phải quan tâm đến vai trò làm “chủ thể” hoạt động du lịch của cộng
đồng. Cộng đồng cần phải nâng cao phương thức đồng quản lý, cần “chọn lọc các
sản phẩm du lịch mục tiêu”, cần “đề cao tính liên kết các sản phẩm trong chuỗi sản
phẩm du lịch”, cần đa dạng hóa các dịch vụ du lịch… [14].
Những điểm tồn tại và thách thức trong quá trình phát triển du lịch sinh thái
tại Duyên hải cực Nam Trung Bộ (DHCNTB) qua nghiên cứu “Phát triển DLST ở

còn sau đó hoạt động bị buông lỏng, thiếu sự giám sát của cơ quan chức năng. Điều
này không chỉ ảnh hưởng đến sự hấp dẫn du lịch mà còn ảnh hưởng đến nguồn tài
nguyên đa dạng sinh học ở các VQG và KBTTN [17].
Thiếu sự phối kết hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp trong việc xây
dựng các chính sách phát triển và quy hoạch DLST. Du lịch sinh thái là một ngành
liên quan đến nhiều lĩnh vực, cần phải có sự kết hợp giữa các bên liên quan thì mới
có thể phát triển được. Hiện tại, các hoạt động du lịch ở các KBTTN còn mang tính
tự phát, chưa có sản phẩm và thị trường mục tiêu, chưa có đầu tư xúc tiến và phát
triển công nghệ phục vụ cho DLST [8], [17].
Lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch chưa đầu tư lại cho bảo tồn hoặc nếu
có vẫn còn ở mức độ thấp. Một số địa phương có điều kiện phát triển du lịch sinh
thái thường có xu hướng phát triển cơ sở du lịch xâm lấn vào các khu bảo tồn,
VQG, khiến áp lực như ô nhiễm môi trường, chia cắt sinh cảnh kể cả nhận thức của
khách du lịch chưa đầy đủ đã tạo áp lực lớn cho các khu rừng đặc dụng. Tỷ lệ
người dân tham gia vào các dịch vụ du lịch còn ít, chính vì vậy người dân địa
phương không thấy được lợi ích của việc phải giữ rừng.


16

Tất cả các vấn đề nêu trên đều có thể do một số nguyên nhân: quản lý không
tốt; sự bùng nổ cuả du lịch cũng như sự suy thoái và mất đi của các khu thiên nhiên,
sự mở rộng qui mô của du lịch mà không có qui hoạch cẩn thận, sự chia sẻ lợi ích
giữa các bên liên quan chưa được hài hòa.
1.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
1.3.1. Vị trí địa lý
Xã Cẩm Thanh nằm về phía Đông Nam thành phố Hội An, cách trung tâm
thành phố 3 km, có tổng diện tích tự nhiên 895,43ha, được chia thành 8 thôn. Ranh
giới xác định:
Phía Đông: giáp phường Cửa Đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status