DANH MỤC VIẾT TẮT
BV : Bệnh viện
BVCK : Bệnh viện chuyên khoa
CTR : Chất thải rắn
CTYT : Chất thải y tế
CTRYTNH : Chất thải rắn y tế nguy hại
CSSKSS : Chăm sóc sức khỏe sinh sản
UBND : Ủy ban nhân dân
URENCO : Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội
CITENCO : Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hồ Chí Minh DANH MỤC CÁC BẢNG
Hình 3.1. Đặc điểm phân bố các cơ sở y tế trên thành phố Bắc Giang 24
Hình 3.2 : Sơ đồ hệ thống xử lý khí thải lò đốt chất thải y tế 41 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển của khoa học kĩ thuật
thì chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao. Công tác khám
chữa bệnh ngày càng được quan tâm và chú trọng, có nhiều công trình khoa học y tế
và những phát minh về máy móc kĩ thuật hiện đại phục vụ cho nhu cầu khám chữa
bệnh của con người. Hiện nay cả nước có 1087 bệnh viện bao gồm 1023 bệnh viện
nhà nước, 64 bệnh viện tư nhân với tổng số hơn 140.000 giường bệnh. Ngoài ra còn
có hơn 10.000 trạm y tế xã, hơn chục ngàn cơ sở phòng khám tư nhân. Việc tăng số
lượng giường bệnh thực tế do tăng nhu cầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc
tăng khối lượng chất thải y tế. Tỷ lệ gia tăng chất thải rắn y tế phụ thuộc vào số
giường bệnh, tình hình thực hiện các kỹ thuật y tế và sự tiếp cận của người dân với
các dịch vụ y tế (khoảng 7.6%/năm). Hầu hết các CTR y tế là các chất thải sinh học
độc hại và mang tính đặc thù so với các loại CTR khác Theo báo cáo của Cục
Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế), tỷ lệ bệnh viện có thực hiện phân loại chất thải
rắn y tế là 95,6% và thu gom chất thải rắn y tế hàng ngày là 90,9%. Tuy nhiên chỉ
có 50% các bệnh viện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế đạt yêu cầu theo Quy
chế quản lý chất thải y tế. Nguyên nhân chủ yếu do phương tiện thu gom chất thải y
tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác, còn thiếu và chưa đồng
bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu.
Bắc Giang là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của cả tỉnh, là nơi tập trung
đông dân cư. Việc quản lí và xử lí chất thải rắn y tế cũng không nằm ngoài bối cảnh
trên. Hầu hết các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố mặc dù đã được đầu tư
lắp đặt hệ thống xử lí rác thải, nhưng đều trong tình trạng lạc hậu và xuống cấp trầm
trọng. Hơn thế nữa, trên địa bàn tỉnh hiện nay chưa có đơn vị nào được cấp phép đủ
điều kiện hành nghề vận chuyển, xử lí rác thải y tế nguy hại, nên các cơ sở y tế tư
nhân cũng như một số các bệnh viện công lập gặp khó khăn trong việc xử lí rác thải
y tế. Vì thế, việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải y tế gây ra trên địa
2
bàn thành phố tránh làm ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng là nhiệm
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát về chất thải y tế
Chất thải rắn (CTR) là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất,
kinh doanh dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất
thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế
bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải rắn y tế (CTRYT) là CTR được thải từ các cơ sở y tế, bao gồm chất
thải nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có chứa một trong các thành phần như:
máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm
kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong
chất thải y tế. Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho
môi trường và sức khỏe con người [3]
Để phân loại chất thải y tế có rất nhiều cách, tuy thành phần của chất thải y tế
không phong phú hơn các chất thải khác như chất thải sinh hoạt, chất thải đô thị,
nhưng mức độ nguy hại thì chất thải y tế lại đứng hàng số 1. Dựa vào các đặc điểm
lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải y tế được phân thành 5
nhóm sau [4]:
- Chất thải lây nhiễm
- Chất thải hóa học nguy hại
- Chất thải phóng xạ
- Bình chứa áp suất
- Chất thải thông thường
5
thiêu đốt chất thải lây nhiễm tại chỗ. Đối với các cơ sở không có lò đốt, chất thải lây
nhiễm được thu gom vận chuyển đến lò đốt chất thải tập trung để xử lý chất thải lây
nhiễm. Mô hình áp dụng này giống Malaysia.
Tại Nhật Bản, hầu hết chất thải y tế phát sinh trong ngày được thiêu hủy
trong các cơ sở đốt chất thải của tư nhân.
Phương pháp khử khuẩn: Mục đích của việc khử khuẩn là biến đổi rác nhiễm
khuẩn sang dạng rác thải không nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, phương pháp này không
thể áp dụng cho một số loại CTYT như chất thải hóa học, chất thải phóng xạ…
Nguyên lý của phương pháp này là tạo ra các phản ứng hóa học, ở nhiệt độ cao
được tạo ra do các thiết bị nhiệt hoặc lò vi sóng.
1.2.2. Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
1.2.2.1. Hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế
Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp
từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở các mức độ thực hiện quy định ở các
bệnh viện khá cao. Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc
sự quản lý của Bộ y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu
giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng
vận chuyển đến khác khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm
ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất
thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó.
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý,
công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là
công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất
thải y tế nguy hại…)
Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy
để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4 % bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR
[1]… đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường.
Phương tiện thu gom chất thải còn thiết và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu
7
Bảng 1.1: Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa
bàn thành phố Hà Nội năm 2010
Các yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT Tỷ lệ tuân thủ (%)
Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung tích 66,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 81,33
Hộp đựng vật sắc nhọn đúng quy cách 93,9
Thùng đựng có nắp đậy 58,33
Thùng đựng có ghi nhãn 66,67
Hộp đựng vật sắc nhọn đúng quy cách 93,9
[Nguồn: Số liệu thống kê trung bình của Sở y tế từ kết quả
khảo sát 74 bệnh viện Hà Nội năm 2009-2010] Bảng 1.2 : Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế
tại một số thành phố [9]
Loại
đô thị
Thành
phố
Số
lượng
đơn vị
trả lời
đặc
biệt
Hà nội 61 32 25 15 24 13 15 9
TP. HCM 51 30 27 7 38 11 1 1
Đô thị
loại II
Đà nẵng
20
9
5
6
2
13
2
3
Hải Phòng
17
2
4
11
1
3
8
5
Huế 23 1 14 0 1 5 5 12
Tổng 172 74 75 39 66 45 31 30
[Nguồn: Nghiên cứu quản lý môi trường đô thị tại Việt Nam – Tập 6. Nghiên
cứu về quản lý CTR ở Việt nam, JICA, tháng 5 -2011]
phương, 93 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm hơn 44%), số lò đốt còn hoạt
9
động tốt là 42 (chiếm trên 45%). Có 9/15 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTR y tế tại
khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố. Chỉ có 31 cơ sở y tế xử lý tại các khu
xử lý CTR chung, tương đương gần 15%. Một số tỉnh đã có khu vực xử lý CTR y tế
chung nhưng rất ít cơ sở vận chuyển đến như Cao Bằng, Bắc Cạn… phần lớn CTR
y tế ở các tỉnh như Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La… được xử lý tại chỗ,
không đạt yêu cầu.
+ Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung có 236 cơ sở khám chữa
bệnh cấp địa phương. Trong đó 168 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 50%),
số lò đốt còn hoạt động tốt là 79 (chiếm 47%). Có 12/14 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y
tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh; 47% số cơ sở y tế xử lý tại khu xử lý CTR tập
trung. Đối với bệnh viện tuyến Trung ương tập trung tại Đà Nẵng thì 100% CTR y
tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR tại khu xử lý Khánh Sơn.
+ Vùng Đông Nam Bộ có 34/100 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương có
trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 34%), trong đó có 7 lò đốt hoạt động tốt (20%). Tại
TP Hồ Chí Minh 100% CTR y tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR của thành phố
+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 110/164 cơ sở khám bệnh cấp địa
phương (chiếm 67%) số lò đốt hoạt động tốt là 64 lò (chiếm 58%). Có 10/13 tỉnh đã
bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố. Với 74 cơ sở
(45%) số cơ sở xử lý tại khu xử lý CTR tập trung. [6]
Đến năm 2006, hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế tại Việt
Nam, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33%
số lò không được hoạt động do nhiều lí do khác nhau.
- Công nghệ xử lý CTR y tế nguy hại ở các thành phố lớn:
+ Tại Hà Nội sử dụng lò đốt chất thải y tế DEL – MONEGO công suất 200kg/h
ở Cầu Diễn do Công ty TNHH Nhà nước một thành viên môi trường đô thị
(URENCO) quản lý để xử lý chất thải y tế trong địa bàn Hà Nội
+ Tại Đà Nẵng, sử dụng lò đốt HOVAL công suất 200kg/h ở khu xử lý chất thải
Công nghệ thiêu đốt: Sử dụng năng lượng từ các nhiên liệu để đốt rác. Có thể xử
lý được nhiều loại rác đặc biệt là chất thải lâm sàng. Phương pháp này làm giảm
thiểu tối đa số lượng và khối lượng rác, đồng thời tiêu diệt hoàn toàn các mầm bệnh
11
trong rác. Phương pháp này đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu khá cao, chi phí vận
hành, chi phí bảo dưỡng tương đối tốn kém.
Công nghệ khử khuẩn hóa học: Sử dụng một số hóa chất khử trùng để tiêu diệt
các vi sinh vật trong đó có mầm bệnh làm cho rác được an toàn về mặt vi sinh vật.
Hóa chất thường được hay sử dụng như formaldehyde, ethylen oxide (CH
2
OCH
2
),
sodium hypoclorite (NaOCl), chrorine dioxide (ClO
2
). Phương pháp này chi phí đầu
tư ban đầu thấp hơn, chi phí vận hành đắt tùy thuộc vào loại hóa chất, một số ô
nhiễm thứ cấp có thể gặp từ các hóa chất dư. Chi phí xử lý rác y tế ở các nước công
nghiệp khoảng 100-120USD/tấn.
Công nghệ xử lý nhiệt khô và hơi nước: sử dụng nhiệt ẩm hoặc hấp khô để diệt
khuẩn ở nhiệt độ 121-160
0
C. Hầu hết các mầm bệnh bị tiêu diệt ở nhiệt độ này. Ưu
điểm của phương pháp này là có thể áp dụng được với các trường hợp có số lượng
chất thải nhỏ, nhược điểm là hiệu quả kém trong việc làm giảm thiểu cả về khối
lượng và trọng lượng.
Công nghệ vi sóng: công nghệ vi sóng để xử lý CTRYTNH là một công nghệ
mới, hiệu quả. Các thiết bị hiện đại có thể xử lý được 250kg/giờ tương đương
khoảng 3000 tấn/năm. Lò vi sóng loại này thường sử dụng nguồn phát bức xạ sóng
- Nhu cầu đào tạo nhân lực cho vận hành
- Cân nhắc về khía cạnh vận hành và bảo trì hệ thống
- Mặt bằng, thổ nhưỡng khu vực xử lý tiêu hủy
- Chi phí đầu tư ban đầu và chi phí vận hành
- Sự chấp nhận của cộng đồng
- Yêu cầu về các quy định, luật lệ chung của khu vực
Trong điều kiện Việt Nam, tùy điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, điều kiện
cụ thể của cơ sở y tế mà lựa chọn công nghệ cho thích hợp hay còn gọi là công nghệ
phù hợp. Như vậy đối với các bệnh viện trung ương, bệnh viện đa khoa tại các khu
đô thị dân cư đông đúc phải lựa chọn công nghệ khác hơn, yêu cầu cao hơn so với
các bệnh viện huyện, cơ sở y tế tuyến huyện, xã.
Công nghệ phù hợp vẫn phải bảo đảm xử lý được CTRYTNH nhưng đáp ứng
thực tiễn đời sống xã hội, kinh tế, môi trường… Công nghệ phù hợp thỏa mãn:
- Phù hợp về điều kiện kỹ thuật thiết bị
13
- Phù hợp với trình độ vận hành và bảo dưỡng
- Phù hợp về khả năng kinh tế
- Phù hợp với phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên của địa phương
1.2.2.3. Các mô hình xử lý chất thải rắn y tế hiện nay ở Việt nam
a. Mô hình xử lý tập trung
Mô hình này được áp dụng cho các bệnh viện nằm trên địa bàn Hà Nội (20 bệnh
viện), TP Hồ Chí Minh, chiếm 64%. Mô hình thu gom và xử lý tập trung tại Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh (do URENCO và CITENCO quản lý) phát huy hiệu quả, tiết
kiệm chi phí đầu tư và vận hành, giảm ô nhiễm môi trường do đã trang bị thiết bị
làm sạch khí thải lò đốt [11].
Tại một số tỉnh/ thành phố lớn khác như Thái Nguyên, Quảng Nam, Đà Nẵng,
Phú Yên, Đồng Nai cũng áp dụng mô hình xử lý tập trung nhưng với quy mô nhỏ.
Các bệnh viện này hợp đồng với công ty môi trường đô thị trên địa bàn về việc thu
gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế [13][10]
c. Mô hình xử lý tại chỗ
Hiện nay, tỉnh Nghệ An đang áp dụng đồng thời 2 mô hình xử lý CTRYT
nguy hại cho các bệnh viện: mô hình xử lý tại chỗ và mô hình xử lý theo cụm cơ sở
y tế. Trên địa bàn tỉnh có 18 công trình xử lý CTYT, tất cả đều đặt trong khuôn viên
của các bệnh viện, đã được cấp giấy phép hành nghề xử lý CTNH. Trên địa bàn tỉnh
Nghệ An chưa có công ty môi trường đô thị hay công ty tư nhân nào tham gia xử lý
CTRYT nguy hại.
- Mô hình xử lý tại chỗ:
Hiện có 17 bệnh viện đang có công trình xử lý CTRYT tại chỗ là Kỳ Sơn,
Tương Dương, Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tân
Kỳ, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên,
Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò và thành phố Vinh. Hiện nay, tất cả các bệnh viện tuyến
huyện đã có hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại, sử dụng công nghệ đốt, chủ
yếu là lò đốt 2 buồng.
15
Năm 2007 Bệnh viện Lao và bệnh Phổi được lắp đặt lò đốt hiệu VHI - 18B
do viện Khoa học Công nghệ và Môi trường sản xuất, công suất 20kg/giờ. Lò đốt
hoạt động từ năm 2008 đến nay thiết bị đã xuống cấp, hư hỏng nặng do phải đốt
thêm phần rác thải cho một số bệnh viện khác trong tỉnh khi Lò đốt HoVal tại Bệnh
viện HNĐK tỉnh hư hỏng bảo dưỡng. Tình trạng mùi khét, khói đen thải ra từ lò đốt
gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Qua kết quả quan trắc khí thải lò đốt ngày
30/7/2012 của công ty TNHH 1 TV kỹ thuật TN&MT không đạt tiêu chuẩn quy
định.
- Mô hình xử lý theo cụm:
Có 1 cơ sở áp dụng mô hình xử lý chất thải rắn y tế theo cụm là BVĐK tỉnh
Nghệ An.
Công trình xử lý CTRYT của BVĐK tỉnh Nghệ An xử lý CTRYT cho các cơ
sở y tế ở khu vực thành phố Vinh gồm: Bệnh viện Hữu nghị ĐK tỉnh, Bệnh viện Y
học cổ truyền, Bệnh viện Ung bướu, Bệnh viện Sản Nhi, Bệnh viện Tâm thần, Bệnh
cấp, gia hạn, điều chỉnh và thu hồi Giấy phép quản lý CTNH đối với chủ vận
chuyển và chủ xử lý, tiêu huỷ CTYT nguy hại; tổ chức kiểm tra, tranh tra công tác
bảo vệ môi trường và quản lý CTYT nguy hại của các cơ sở y tế; phát hiện và xử lý
các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về quản lý CTYT; hàng năm tiến hành
thống kê tổng lượng CTYT nguy hại bởi các cơ sở y tế đã đăng ký chủ nguồn thải
và đánh giá tình hình quản lý CTYT nguy hại để báo cáo UBND tỉnh và Bộ Tài
nguyên và môi trường.
- Sở Y tế: Có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đánh giá hoạt động của các cơ
sở y tế trong tỉnh. Tuy nhiên, chế độ báo cáo định kỳ về quản lý chất thải nguy hại
chưa hình thành trong ngành y tế. Số liệu về thực trạng quản lý chất thải y tế chỉ
được cập nhật thông qua hoạt động kiểm tra bệnh viện hàng năm hay một số đợt
thanh tra cơ sở y tế đột xuất.
- Sở Xây dựng: quy hoạch, thiết kế, xây dựng bãi chôn lấp chất thải hợp vệ
sinh; quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý các hệ thống cấp, thoát
nước, xử lý nước thải đô thị; thẩm định thiết kế và cấp phép xây dựng các công
trình y tế phải đáp ứng yêu cầu xử lý chất thải y tế.
- Sở Tài chính: chịu trách nhiệm bảo đảm ngân sách đã được duyệt cho công
tác quản lý chất thải y tế.
17
- Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm xem xét các kế hoạch, dự án về
quản lý chất thải y tế, đảm bảo kế hoạch đầu tư cho các công trình, dự án đã được
xét duyệt.
- Sở Khoa học Công nghệ tham gia tư vấn khoa học công nghệ trong lĩnh
vực quản lý chất thải y tế.
- Cảnh sát môi trường: phát hiện các sai phạm và xử phạt các vi phạm hành
chính hoặc điều tra khởi tố nếu có dấu hiệu tội phạm về môi trường.
Quản lý chất thải y tế liên quan đến nhiều Sở nhưng hiện tại chưa có cơ chế
phối kết hợp giữa các Sở/ngành trong tỉnh trong hoạt động quản lý chất thải y tế.
Chưa có hội đồng/tổ công tác liên ngành được thành lập để tháo gỡ những khó khăn
Thành phố Bắc Giang là trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị của tỉnh Bắc
Giang, nằm ở tọa độ 21009’ - 21015’ vĩ độ bắc và 106007’ - 106020’ kinh độ đông;
phía Bắc giáp huyện Tân Yên; phía Đông giáp huyện Lạng Giang; phía Nam giáp
huyện Yên Dũng; phía Tây giáp huyện Việt Yên; diện tích tự nhiên 66,64 km2, gồm
16 đơn vị hành chính (10 phường, 6 xã); dân số 148.172 nhân khẩu, trong đó khu
vực thành thị 70.019, khu vực nông thôn 78.153 (số liệu Tổng điều tra Dân số và
nhà ở năm 2011) và nhiều các cơ quan Trung ương, quân đội, các cơ quan của tỉnh,
doanh nghiệp đóng trên địa bàn.
Đặc trưng khí hậu chịu ảnh hưởng của gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt:
mùa mưa từ tháng 4 - 10, mùa khô từ tháng 11- 3. Nhiệt độ trung bình năm dao
động từ 23,2
0
C - 23,8
0
C. Độ ẩm trung bình từ 83 - 84%. Tổng lượng mưa trung
bình hàng năm khoảng 1.400 - 1.730mm. Nhìn chung, các điều kiện tự nhiên của
thành phố Bắc Giang thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như
lâu dài.
Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc,
ở vị trí trung lộ trên tuyến giao thông huyết mạch (đường bộ, đường sắt liên vận
quốc tế) nối Thủ đô Hà Nội với thành phố Lạng Sơn và cửa khẩu quốc tế Đồng
Đăng; ở vào vị trí đầu mối giao thông cấp liên vùng quan trọng: nằm cận kề vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ 1A cũ và mới,
31, 37, tỉnh lộ 398; các tuyến đường sắt: Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Kép - Hạ
19
Long, Hà Nội - Kép - Thái Nguyên chạy qua; có tuyến đường sông nối thành phố
với các trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch lớn như Phả Lại, Côn Sơn -
Kiếp Bạc, Yên Tử, Hải Phòng; tiếp cận thuận lợi với cảng hàng không quốc tế Nội
Bài, cảng nội địa Gia Lâm, cảng nước sâu Cái Lân, cảng Hải Phòng và các cửa khẩu
Các phiếu điều tra được phát cho các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Bắc
Giang để thu thập các dữ liệu cơ bản ban đầu, sau đó tiến hành khảo sát chi tiết và
cụ thể tại từng cơ sở. Nội dung các câu hỏi trong phiếu điều tra phục vụ cho việc
thu thập thông tin cho nhóm thông tin sau:
- Nhóm thông tin liên quan đến tổ chức của cơ sở y tế và số liệu khám chữa
bệnh của từng cơ sở y tế: Đó là thông tin về số giường bệnh, số bác sỹ, y tá, điều
dưỡng viên, kỹ thuật viên; số người làm công tác vệ sinh môi trường, số bệnh nhân
nội trú, ngoại trú.
- Nhóm thông tin về khối lượng từng nhóm chất thải theo phân loại.
- Nhóm thông tin về việc thực hiện Quy chế quản lý chất thải y tế ngày 30
tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế; nhóm thông tin này tâp trung vào công
tác phân loại, thu gom, lưu giữ và phương pháp xử lý chất thải y tế.
a. Kỹ thuật chọn mẫu
* Cỡ mẫu
Nghiên cứu được tiến hành trên 65 nhân viên y tế tại các bệnh viện, phòng
khám trên địa bàn thành phố Bắc Giang
* Tiêu chí chọn mẫu
– Tiêu chí đưa vào: các nhân viên y tế bao gồm cả nhân viên hành chính, hộ
lý và lao công, nhân viên vệ sinh tại các cơ sở y tế tư nhân.
– Tiêu chí loại trừ: bảo vệ, nhân viên căng tin, những nhân viên vắng mặt tại
buổi khảo sát, người từ chối phỏng vấn và người ngừng cuộc phỏng vấn giữa
chừng.
b. Thu thập số liệu
– Ngày thu thập: Từ ngày 15 – 28/07/2014
– Phương pháp thu thập: Phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi.
21
– Công cụ: Bộ câu hỏi đã được soạn sẵn.
– Quản lí dữ liệu: Đánh số thứ tự các phiếu điều tra ngay sau khi thu thập.
Sau đó kiểm tra số lượng các phiếu đạt yêu cầu phù hợp với số lượng nhân viên y tế
: Chỉ tiêu phát sinh CTR y tế nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)
N - Quy mô giường bệnh thời điểm dự báo (giường)