Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phân loại, xử lý rác thải sinh hoạt ở quy mô hộ gia đình tại phường Cam Giá TP Thái Nguyên - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ TRÁI ĐẤT
NGUYỄN THỊ THU THẢO
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP PHÂN LOẠI, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT
Ở QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TẠI PHƯỜNG CAM GIÁ
– TP THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ TRÁI ĐẤTNGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÂN LOẠI, XỬ LÝ RÁC
THẢI SINH HOẠT Ở QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TẠI
PHƯỜNG CAM GIÁ – TP THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Thảo
Lớp: CN KHMT. Khóa: 2009 - 2013
Người hướng dẫn khoa học: ThS. Nguyễn Thị Nhâm Tuất
Thái Nguyên, 2013LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân
thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới ThS. Nguyễn Thị Nhâm Tuất, cô đã
hướng dẫn tận tình, giúp đỡ em trong suốt thời gian em làm khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Khoa
học môi trường và Trái Đất đã chỉ bảo, giúp đỡ em trong thời gian qua.
Em xin cảm ơn Ủy ban nhân dân phường Cam Giá cùng toàn thể người
dân thuộc ba tổ 10, 11, 12 đã cung cấp cho em những văn bản và những thông

Bảng 1.3: Lượng rác thải sinh hoạt tại tỉnh Thái Nguyên 8
Bảng 3.1: Phân loại rác thải sinh hoạt 22
Bảng 3.2: Tỷ lệ rác, chế phẩm và tro trấu bổ sung theo ngày 24
Bảng 3.3.: Một số giải pháp tái sử dụng CTSH 27
DANH MỤC HÌNH
TÊN HÌNH Trang
Hình 1.1: Tỷ lệ phát sinh CTRSH tại các đô thị Việt Nam năm 2007 4
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình làm phân từ rác hữu cơ 23
Hình 4.1: Rác thải bị đổ thải dọc đường làng 39
Hình 4.2: Động vật xuất hiện nhiều xung quanh khu chứa rác 39
Hình 4.3: Rác thải bị đổ thải xung quanh nơi ở của người dân 39
Hình 4.4: Thải rác nilon trong vườn 39
Hình 4.5: Đốt rác trong vườn 39
Hình 5.1: Hướng dẫn làm hộp đựng bút từ giấy báo cũ 40
Hình 5.2: Làm khung ảnh từ giấy bìa caton 40
Hình 5.3: Làm lọ đựng hoa từ cốc sau sử dụng 41
Hình 5.4: Làm chậu trồng cây cảnh từ vỏ chai 42
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng đang là vấn đề đáng
lo ngại tại nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện nay, toàn thế giới có trên 7 tỉ
người với lượng rác thải trong một ngày vô cùng lớn. Vậy lượng rác thải đó
được thải bỏ ở đâu và xử lý như thế nào vẫn đang là câu hỏi khó đối với nhiều
quốc gia trên thế giới. Nhiều quốc gia chưa áp dụng các biện pháp xử lý hiệu
quả mà rác thải chủ yếu được chôn lấp hoặc thiêu đốt. Thậm chí nhiều nước
chỉ vận chuyển rác ra một bãi đất trống rồi đổ thải tại đó mà không có biện
pháp xử lý cụ thể nào. Điều này, đã gây ô nhiễm môi trường không khí, đất,
nước ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống gây nguy hại đối với con người và
hệ sinh thái.

3.3. Đề xuất giải pháp phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt tại KVNC.
4. Kết cấu của đề tài: Gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Định nghĩa về chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt (rác thải sinh hoạt): Là những vật ở dạng rắn do
hoạt động sống của con người và động vật gây ra. Đó là những vật đã bỏ đi, ít
được sử dụng hoặc không có ích và không có lợi cho con người.
1.2. Sơ lược về tình hình rác thải sinh hoạt Việt Nam và Tỉnh Thái Nguyên
1.2.1. Tại Việt Nam
Tính đến tháng 6/2007 Việt Nam có tổng cộng 729 đô thị các loại,
trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), 4 đô thị loại I
(TP), 13 đô thị loại II (TP), 43 đô thị loại III (TP), 36 đô thị loại IV (thị xã),
631 đô thị loại V (thị trấn và thị tứ). Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa
diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế – xã
hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị
hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi
trường và phát triển không bền vững. Lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh tại
các đô thị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp [6].
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có
xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%.
Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển
mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh
Phú Thọ (19,9%), TP. Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá
(12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát
sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%).
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô

1.253.04
5
4 Loại III 0,73 3.738
1.364.37
0
5 Loại IV 0,65 626 228.490
Tổng cộng 6.453.93
0
(Nguồn kết quả khảo sát 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương)
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô
thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245
tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở
lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng ĐB (đồng bằng) sông Hồng có
lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô
thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất
chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh
vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm
(chiếm 3,68%). Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí
Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày), đô thị có lượng CTRSH phát
sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày, Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao
11
Bằng 20 tấn/ngày, TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày, TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và
thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày [6].
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị
đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96 kg/người/ngày), đô thị loại
II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là
tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày), đô thị loại IV có tỷ lệ phát
sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65
kg/người/ngày [6].
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị

Tổng cộng 0,73 17.792 6.457.580
(Nguồn kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương)
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng
lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ
tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới. Tổng lượng
phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên
khoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả
các đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm). Dự báo tổng lượng CTRSH đô thị
đến năm 2010 vào khoảng hơn 12 triệu tấn/năm và đến năm 2020 khoảng gần
22 triệu tấn/năm. Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu
quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng
cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp
phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTRSH gây ra [6].
13
1.2.2. Tại Tỉnh Thái Nguyên
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên năm 2005, tính
đến thời điểm tháng 6/2005 hầu hết các thị trấn thuộc các huyện thị đều có
hợp tác xã thu gom rác thải sinh hoạt:
- Thị xã Sông Công: Thành lập ban quản lý đô thị với gần 30 công
nhân, hơn 10 xe thu gom rác và một xe chở rác. Mỗi ngày thu gom được 20
tấn rác và đổ tạm sau hàng rào Uỷ ban nhân dân (UBND) thị xã [4].
- Huyện Đồng Hỷ: Thành lập hợp tác dịch vụ môi trường Chùa Hang.
Theo báo cáo của phòng Tài nguyên và Môi trường, hiện nay huyện chưa có
khu vực để xử lý tác tập trung mà rác thải được thu gom từ 2 - 5 ngày rồi mới
đem đổ nhờ vào bãi rác Đá Mài.
- Huyện Võ Nhai: Cũng thành lập được hợp tác xã vệ sinh môi trường
thị trấn Đình Cả từ năm 2003 với 2 xe đẩy tay và một công nông chở rác.
Huyện đã quy hoạch một khu vực để chôn lấp rác thải.
- Huyện Phú Bình: Đã có đội thu gom rác, đã quy hoạch khu vực xử lý
rác tập trung và đang tiến hành xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh.

3 H. Định Hoá 6,01 83,43 3,606 33,372
4 H. Võ Nhai 3,43 59,2 2,058 23,68
5 H.Phú Lương 7,77 96,71 4,662 38,684
6 H. Đồng Hỷ 16,98 106,92 10,188 42,768
7 H. Đại Từ 8,2 156 4,92 62,4
8 H. Phú Bình 7,99 130,77 4,794 52,308
9 H. Phổ Yên 13,03 122,6 7,818 49,04
Tổng cộng 251,06 844,93 150,636 337,972
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên năm 2005)
Đô thị phát triển, diện tích đất ở ngày càng thu hẹp thì nhu cầu xử lý rác
thải là một vấn đề bức thiết trong nhân dân. Để khắc phục tình trạng trên, năm
2001 chính quyền TP đã tổ chức tham quan học tập tại các đô thị bạn và chính
thức đưa vào áp dụng mô hình xã hội hoá thu gom rác thải bằng việc tại mỗi
phường, xã thành lập một đội vệ sinh môi trường. Kinh phí chi trả cho công tác
thu gom rác sử dụng từ nguồn phí vệ sinh môi trường thu của các hộ dân [4].
Bước đầu khi thành lập, TP đã đầu tư các trang thiết bị như dụng cụ
lao động, xe đẩy chứa rác và các trang thiết bị thiết yếu khác để các đội vệ
sinh này hoạt động. Kinh phí thu từ các hộ gia đình theo mức phí vệ sinh do
UBND tỉnh quy định và do đội vệ sinh môi trường phường, xã thu. Trước đây
khoản thu phí này do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, thường chỉ thu
được khoảng 50%. Nhiều người dân hoàn toàn chưa có thói quen đóng phí
VSMT. Từ khi giao cho đội vệ sinh môi trường phường, xã thì kinh phí này
được thu khá triệt để, đã đạt trên 90%. Việc làm này đã góp phần tiết kiệm
15
ngân sách Nhà nước, giảm được từ 7 - 9 tỷ/năm (chi phí cho công tác thu gom
do dân trả, ngân sách nhà nước không phải bỏ ra) [4].
Cho đến nay đã có 22/28 đội vệ sinh phường, xã được thành lập và đi
vào hoạt động có hiệu quả. Cách thức quản lý của các đội vệ sinh môi trường
như sau: mỗi đội được chia thành 2 - 4 tổ, mỗi tổ có 01 tổ trưởng và có từ 5 - 7
công nhân, mỗi người được phân công thu gom rác trên từng tổ, phố, xóm cố

kinh tế quan trọng trong quá trình phát triển của TP. Thái Nguyên [5].
Vị trí của phường: Phía Đông giáp huyện Phú Bình.
Phía Tây giáp phường Trung Thành, phường Phú Xá.
Phía Nam giáp phường Hương Sơn.
Phía Bắc giáp phường Gia Sàng.
Phường có diện tích 875.63ha, dân số năm 12/2010 là 10.370 người với
2.746 hộ gia đình, cơ cấu hộ gia đình là 3,78 khẩu/hộ, mật độ đạt 1.1844
người/km². Phường Cam Giá được thành lập từ xã Cam Giá vào ngày 8 tháng
4 năm 1985, hiện phường được chia thành 31 tổ dân phố.
- Địa hình: Phường có dạng địa hình đồi bát úp xen kẽ là ruộng thấp
trũng dễ ngập úng khi có lượng mưa lớn. Cao độ nền tự nhiên trung
bình từ 20m đến 25m, cao độ cao nhất là từ 50m đến 60m (thuộc
đỉnh gò đồi). Hướng dốc từ Bắc xuống Nam, từ Đông bắc xuống
Tây nam. Địa hình của phường thuận lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng
phát triển đô thị.
- Khí hậu: Có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mang đặc trưng của
khí hậu miền bắc nước ta.
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm đạt 22 – 23
0
C, có sự chênh lệch
nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 2 – 5
0
C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất
là 27,70
0
C và trung bình tháng thấp nhất là 16
0
C.
+ Nắng: Số giờ nắng trong năm đạt 1.600 – 1.700 giờ. Tháng 5, 6, 7, 8
có số giờ nắng cao nhất (đạt 170 – 200 giờ) và tháng 2, 3 có số giờ nắng thấp

đắp bởi sông Cầu. Loại đất này có thành phần cơ giới trung bình, đất ít bị
chua, hàm lượng dinh dưỡng khá, thích hợp cho phát triển nhiều loại cây
trồng đặc biệt là cây trồng ngắn ngày như: Lúa, ngô, đậu đỗ và các loại hoa
màu. Ngoài ra còn đất vàng nhạt phát triển trên đá cát, đất nâu vàng trên phù
sa cổ loại đất này tập trung chủ yếu ở khu vực đồi núi có độ dốc 8 – 25
0
, thích
hợp với trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày và sản xuất nông – lâm kết hợp.
+ Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp của phường là 99,51ha
(trong đó toàn bộ là rừng sản xuất). Chất lượng rừng chủ yếu là rừng trung
bình với các loại cây trồng chính như: Bạch đàn, keo, phi lao, Động vật
rừng trên địa bàn phường hiện nay không còn [5].
+ Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt trên địa bàn phường Cam Giá
được cung cấp bởi sông Cầu, suối Cốc, suối Dầu, suối Loàng và nước mưa tự
nhiên (lượng mưa hàng năm từ 1.700 – 1.800mm). Nguồn nước mặt của
phường chịu ảnh hưởng theo mùa, lượng nước dồi dào vào các tháng 6, 7, 8
hàng năm. Nguồn nước ngầm, trên địa bàn phường chưa có khảo sát, nghiên
cứu đầy đủ về trữ lượng và chất lượng nước ngầm. Thông qua đánh giá sơ bộ
của các hộ gia đình hiện đang khai thác sử dụng nước giếng khơi cho thấy
mực nước ngầm có ở độ sâu 4 – 5m, còn ở các khu vực đồi từ 23 – 25m. Tuy
nhiên nguồn nước ngầm dọc suối Loàng, suối Dầu và suối Cốc có chất lượng
kém, không đủ tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt.
+ Tài nguyên nhân văn: Lịch sử hình thành và phát triển của phường đã
có từ hàng nghìn năm nay. Trải qua nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại
xâm, nhân dân Cam Giá đã đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp dựng
nước, giữ nước của dân tộc. Với truyền thống văn hóa đặc sắc, gắn liền với
truyền thống anh dũng, kiên cường trong đấu tranh cách mạng nhân dân
phường Cam Giá được Nhà Nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân và nhiều danh hiệu cao quý khác,… Ngày nay trong công
19

cây cảnh, vườn cây ăn quả, trồng cỏ chăn nuôi,…
- Chăn nuôi: Phát triển mô hình chăn nuôi có hiệu quả như nuôi gà, bò,
heo theo hướng công nghiệp. Theo thống kê đàn trâu, bò có 850
con, đàn lợn có 4.000 con, đàn gia cầm có 20.000 con. Công tác thú
y được quan tâm, thường xuyên tổ chức tiêm phòng, phổ biến giúp
nhân dân chủ động phòng bệnh cho gia súc, gia cầm.
- Thủy sản: Trong thời gian gần đây ngoài việc tận dụng ao, hồ nhỏ
trong khu vực dân cư kết hợp với chăn nuôi. Nhiều hộ gia đình đã
chuyển đổi khu vực đất trũng trồng lúa năng suất thấp sang mô hình
nuôi trồng thủy sản phát triển theo hướng công nghiệp, bán công
nghiệp, bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực.
- Lâm nghiệp: Bằng các nguồn vốn nhà nước đầu tư và huy động trong
quần chúng nhân dân, Cam Giá về cơ bản trồng hết diện tích rừng
khai thác. Hiện nay nhiều khu vực trong khu vực phường đang phát
triển kinh tế vườn đồi kết hợp đã đem hiệu quả kinh tế. Bên cạnh
công tác trồng rừng, công tác quản lý rừng cũng được quan tâm hạn
chế tối đa nạn chặt phá rừng [5].
1.3.4.2. Khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Phát huy tiềm năng, thế mạnh tạo
môi trường thuận lợi khuyến khích các tổ chức kinh tế doanh nghiệp
các hộ gia đình đầu tư sản xuất kinh doanh với nhiều ngành nghề đa
dạng, giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động trong
phường. Ngoài khu công nghiệp Gang Thép, trên địa bàn phường có
2 doanh nghiệp và 104 hộ sản xuất kinh doanh trong đó ngành nghề
chủ yếu: Đúc gang, cán thép, kéo thép, vận tải, cơ khí và sản xuất
khai thác vật liệu xây dựng, chế biến nông sản thực phẩm,… Tổng
doanh thu đạt 42 tỷ đồng.
- Thương mại - dịch vụ: Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn
phường vẫn tăng trưởng nhanh và khá ổn định. Hoạt động của
ngành tập trung chủ yếu ở chợ khu Tây, khu Đông, trên các tuyến

100% (trong đó có 65% đạt khá giỏi), lên lớp đạt 98,3%. Hiện
22
phường có 1 trường Tiểu học Cam Giá, 1 trường Trung học Cơ sở và
3 điểm trường mẫu giáo, ngoài ra còn có 1 số điểm trường tư thục
khác. Diện tích đất cho các trường chiếm khoảng 3,26ha [5].
- Y tế, văn hóa, thông tin
+ Y tế: Hiện tại phường có 1 trạm y tế với diện tích 0,16ha. Ngành y tế
của phường thường xuyên nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền
từng bước nâng cao khả năng khám chữa bệnh phục vụ nhân dân thực hiện tốt
các chương trình thăm khám sức khỏe cộng đồng, chương trình y tế quốc gia,
chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em và
các chương trình phòng chống dịch bệnh khác.
+ Văn hóa – thông tin, viễn thông: Cho tới nay phường có 1 trạm phát
thanh và mới hoành thành 2 nhà văn hóa. Mặc dù còn khó khăn về cơ sở vật
chất song ngành văn hóa thông tin vẫn thực hiện tốt phong trào tuyên truyền,
phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà Nước tới nhân dân kịp
thời. Hoạt động văn nghệ quần chúng tạo được phong trào rộng rãi trong các
tổ chức đoàn thể nhân dân. Hiện nay trên địa bàn phường đã được phủ sóng
đầy đủ mạng lưới thông tin di động, số lượng máy cố định của các tổ chức, hộ
gia đình ngày một tăng góp phần quan trọng trong việc trao đổi thông tin.
- Thể dục - thể thao (TDTT): Các hoạt động thể dục thể thao đã được
củng cố và phát triển. Đến nay đã thành lập được các đội bóng
chuyền, câu lạc bộ cầu lông ở các khu dân cư tạo thành phong trào
rộng rãi, sôi nổi khắp trong phường. Thường xuyên tham gia và đạt
các giải cao tại các kỳ đại hội TDTT do thành phố và phường tổ
chức. Tuy nhiên cơ sở vật chất của ngành còn nhiều thiếu thống, địa
bàn phường mới chỉ có 1 sân bóng với diện tích 0,24ha [5].
23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu

+ Tiến hành quan sát phải tỉ mỉ, ghi chép, chụp hình lại những diễn
biến của sự vật, hiện tượng.
2.2.4. Phương pháp đánh giá và xử lý số liệu
Sau khi thu thập thông tin bằng phương pháp định lượng và định
tính, tiến hành đánh giá xử lý thông tin nhằm đưa ra những kết luận về thực
trạng quản lý chất thải sinh hoạt tại KVNC, là cơ sở để đề xuất những giải
pháp tiếp theo.
2.2.5 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phân tích, phân chia bộ phận theo bộ phận, nội dung. Nghiên cứu, phân
tích các sự vật hiện tượng thành các bộ phận, thành phần nhỏ hơn và phải xác
định được các chỉ báo thông số cho việc hình thành đối tượng nghiên cứu và
những yêu cầu đặt ra cho nghiên cứu đối tượng bộ phận chung giúp cho các
nhà khoa học hiểu được sâu sắc từng bộ phận, thành phần.
Dựa vào những số liệu thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu.
Đề tài tiếp tục tổng hợp, phân tích số liệu. Từ đó đưa ra kết luận tổng thể về
tình hình thực tế tại khu vực nghiên cứu.
2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp kịp thời, chính xác thông tin về hiện trạng rác thải sinh
hoạt tại KVNC.
- Đưa ra những giải pháp cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế tại
KVNC.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status