Nghiên cứu hiệu quả và đề xuất giải pháp
công nghệ xử lý nước thải chứa crôm bằng
phương pháp hóa học tại Công ty Trách
nhiệm Hữu hạn Tae Yang Việt Nam
Đinh Thị Huyền Nhung
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học Mội trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: TS. Trần Văn Quy
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Tìm hiểu quy mô, hiện trạng và công nghệ sản xuất tại Công ty (trách
nhiệm hữu hạn) TNHH Tae Yang Việt Nam. Nghiên cứu đặc tính nước thải và hiện
trạng xử lý. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình khử Cr6+ về Cr3+. Khảo
sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo kết tủa Cr(OH)3. Đề xuất giải pháp công
nghệ khả thi có thể áp dụng xử lý nước thải chứa crôm tại Công ty TNHH Tae
Yang Việt Nam.
Keywords: Khoa học môi trường; Công nghệ môi trường; Phương pháp hóa học;
Công ty TNHH Tae Yang Việt Nam; Xử lý nước thải; Nước thải
Content
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về ngành công nghiệp mạ điện
Phương pháp mạ điện được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1805 bởi nhà hóa học
Luigi V. Brugnatelli để tạo một lớp phủ bên ngoài kim loại khác.
Những năm 1940 của thế kỷ XX được coi là bước ngoặc lớn đối với ngành mạ điện
bởi sự ra đời của công nghiệp điện tử [19].
Công nghệ mạ điện là một trong những lĩnh vực công nghệ bề mặt quan trọng làm
thay đổi bề mặt vật liệu. Mạ điện dùng để bảo vệ kim loại, chống ăn mòn kim loại làm cho
3
trong dung dịch
này khoảng 150 – 250g/l, có nơi sử dụng 50 – 100g/l. Trong thực tế sản xuất thấy rằng:
nồng độ CrO
3
quá thấp không thể thực hiện mạ được, thậm chí lớp mạ hình thành có váng
màu vàng. Ở điều kiện bình thường, lớp mạ thu được khác với mạ thông thường, độ bóng
lớp mạ nằm giữa độ bóng lớp mạ crôm thông thường và độ bóng thép không gỉ.
Mạ crôm không có vết nứt và có vết nứt:
Mạ crôm không có vết nứt và có vết nứt nhỏ để nâng cao độ bền chống gỉ của lớp
mạ. Loại đầu nhờ làm giảm vết nứt để chống sự ăn mòn chỗ vết nứt, loại sau nhờ sự phân
tán dòng điện ăn mòn để nâng cao tính ăn mòn. Nếu mang 2 loại này kết hợp với nhau gọi
là crôm mạ kép. Mạ crôm không có vết nứt sử dụng nhiệt độ cao và tỉ số CrO
3
/SO
4
2-
cao.
Mạ crôm nhanh:
Dung dịch dùng trong mạ crôm nhanh chủ yếu là CrO
3
với hàm lượng 180 – 250g/l
được kết hợp với H
2
SO
4
(1,8 – 2,5g/l), H
3
BO
3
sử dụng dạng Cr
2
(SO
4
)
3
hoặc CrCl
3
với nồng độ 0,38 – 0,45 mol/l.
Mạ crôm đen:
Dung dịch mạ crôm không có gốc SO
4
2-
, thêm một chút chất phụ gia có thể mạ
crôm đen, trong đó hàm lượng crôm kim loại vào khoảng 75%, còn lại là hợp chất oxy hóa
crôm. Pha chế dung dịch crôm đen cần dùng nước cất, dùng BaCO
3
để kết tủa toàn bộ gốc
sunfat. Dung dịch CrO
3
dùng trong mạ crôm đen với hàm lượng 200 – 400g/l.
1.3.2. Mạ crôm cứng
Mạ crôm cứng là lớp mạ crôm dày trên các vật liệu nền, độ dày từ vài micro đến
vài milimet, thông thường trên 20µm. Mạ crôm cứng chỉ thực hiện được khi lớp mạ tương
đối dày, lúc đó lớp mạ có độ cứng cao, chịu mài mòn tốt.
Mạ crôm cứng có thể sử dụng các loại dung dịch mạ nhưng thường dùng nhất là
các loại dung dịch mạ crôm thông thường. Mạ crôm cứng sử dụng rộng rãi trong công
nghiệp với các dụng cụ cắt gọt, khuôn, trục, dụng cụ đo, xi lanh… Mạ crôm cứng có thể
gọi chung là mạ crôm công nghiệp hoặc mạ crôm kĩ thuật.
thuộc vào quy trình công nghệ cũng như từng công đoạn trong quy trình đó. Vì vậy, muốn
xử lý đạt hiệu quả cao thì chúng ta cần phải thu gom, tách dòng theo từng công đoạn, từng
trường hợp cụ thể và lựa chọn phương án xử lý thích hợp.
1.5. Ảnh hƣởng của nƣớc thải công nghiệp mạ điện đối với môi trƣờng
Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người: Các ion kim loại nặng Pt, Cu, Cr,
Ni…có thể gây bệnh viêm loét dạ dày, viêm đường hô hấp, bệnh eczema, ung thư…
Ảnh hưởng đến hệ sinh thái: Các thành phần kim loại nặng ảnh hưởng rất lớn tới quá
trình sinh trưởng phát triển của con người, động và thực vật. Với nồng độ đủ lớn sinh vật
có thể bị chết hoặc bị thoái hóa, với nồng độ nhỏ có thể gây ngộ độc mãn tính hoặc tích tụ
sinh học.
Ảnh hưởng trực tiếp đối với cá và thức ăn, đầu độc các sinh vật làm cho các nguồn
phù du để nuôi cá, gây bệnh cho cá và biến đổi các tính chất hóa lý của nước.
Ảnh hưởng tới hệ thống cống thoát nước, nước ngầm, nước mặt. Nước thải công
nghiệp có tính axit, ăn mòn các đường ống dẫn bằng kim loại, bêtông. Mặt khác, do các
quá trình xà phòng hóa tạo thành váng ngăn của quá trình thoát nước và thâm nhập của oxi
không khí vào nước thải, cản trở quá trình tự làm sạch. Các ion kim loại nặng khi thâm
nhập vào bùn trong các mương thoát nước còn ức chế hoạt động của các vi sinh vật kị khí
làm mất khả năng hoạt động hóa của bùn.
1.6. Các phƣơng pháp xử lý nƣớc thải công nghiệp mạ điện
1.6.1. Phƣơng pháp hóa học
Phương pháp này dựa trên các phản ứng oxy hóa khử, trung hòa, keo tụ, kết
tủa…làm cho các chất độc hại bị biến đổi thành chất ít độc hay không độc và tách khỏi
dòng nước thải. Tùy thuộc vào lưu lượng nước thải mà tiến hành xử lý ngay tại chỗ hay
cho cả phân xưởng hoặc cả nhà máy. Cũng như chọn thiết bị tuần hoàn hay gián đoạn.
Phương pháp này có hiệu quả cao khi nồng độ tạp chất trong nước thải lớn từ 200-
1000mg/l.
Phương pháp hóa học bao gồm: phương pháp đông tụ, trung hòa và khử kết tủa.
Trong đó, có phương pháp trung hòa và kết tủa được ứng dụng thực tế còn phương pháp
đông tụ chưa được ứng dụng rộng rãi, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật còn thấp, triển khai công
nghệ khó khăn, có nhiều thông số nên khó điều khiển, phương pháp này chỉ tiến hành để
kinh tế tương đối cao và có thể thu được các sản phẩm có giá trị về kinh tế.
Bản chất của quá trình là sự trao đổi lẫn nhau của các ion có cùng điện tích trên bề
mặt chất rắn và trong dung dịch khi tiếp xúc với nhau. Các chất này gọi là các ionit (không
tan trong nước). Trong đó các chất có khả năng hút ion dương gọi là cationit (mang tính
kiềm).
Phản ứng trao đổi ion xảy ra do hiệu số thế hóa của các ion trao đổi
mA + RmB ↔ mRA + B
1.6.5. Phƣơng pháp sinh học
Ngày nay, sử dụng phương pháp sinh học để loại bỏ kim loại nặng trong nước đã,
đang được nghiên cứu và ứng dụng. Trong số các sinh vật có khả năng đóng vai trò là chất
hấp phụ sinh học thì các loại tảo hay vi tảo được đặc biệt chú ý.
Nguyên lý của phương pháp là dựa trên nguyên tắc một số loài thực vật, vi sinh vật
trong nước sử dụng kim loại như chất vi lượng trong quá trình phát triển sinh khối. Với
phương pháp này, nước thải phải có nồng độ kim loại nặng nhỏ hơn 60mg/l và bổ sung đủ
chất dinh dưỡng (N, P) và các nguyên tố vi lượng cần thiết khác cho sự phát triển của các
loài thực vật như rong tảo. Do đó, quá trình xử lý đòi hỏi phải trộn lẫn nước thải sinh hoạt
để bổ sung chất dinh dưỡng và pha loãng hàm lượng chất ô nhiễm trong nước thải.
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Dung dịch chứa Cr
6+
được pha chế ở các nồng độ khác nhau
- Nước thải chứa crôm tại Công ty TNHH Tae Yang Việt Nam.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, hệ thống hóa tài liệu
Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Phương pháp phân tích
Phương pháp tiến hành thực nghiệm
Chiếc
25.500.000 chiếc/năm
3.1.2. Hiện trạng xử lý và đặc tính nƣớc thải của Công ty TNHH Tae Yang Việt Nam
Hiện trạng xử lý nƣớc thải của Công ty
Theo tìm hiểu, khảo sát thì toàn bộ lượng nước thải của Công ty được xử lý từ hai
nguồn chính là nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất. Công ty không tách riêng hai
nguồn thải này mà tập trung xử lý tại hệ thống xử lý chung.
Công ty đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học bùn hoạt
tính để xử lý kết hợp cả nước thải sinh hoạt từ bể phốt và nước thải sản xuất. Sơ đồ hệ
thống xử lý nước thải tại Công ty được mô tả trên Hình 3.1. Nước thải từ hệ
thống bể phốt
Nước thải
N
s¶n xuÊ
Bể điều
hòa
Bể Aeroten
Bể lắng
Bể khử
đưa ra được điều kiện tối ưu cho các quá trình khử đạt hiệu suất cao nhất trình bày
trong Bảng 3.13.
Bảng 3.13. Các điều kiện tối ưu của quá trình khử Cr
6+
Các yếu tố ảnh hƣởng đến
quá trình khử Cr
6+
pH
Chất khử
Hàm lượng chất
khử (gam)
Thời gian phản
ứng (phút)
Kết quả tối ƣu
3
NaHSO
3
5
30
3.2.1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình tạo kết tủa Cr(OH)
3
Kết luận chung: Từ kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo kết tủa
Cr(OH)
3
đưa ra được điều kiện tối ưu cho các quá trình tạo kết tủa đạt hiệu suất cao nhất
trình bày trong Bảng 3.18.
Bảng 3.18. Các điều kiện tối ưu của quá trình tạo kết tủa Cr(OH)
3
/ngày đêm => Lượng nước thải trung bình trong một ngày là: 15m
3
/ngày đêm
Hệ thống làm việc làm liên tục 24/24h nên lưu lượng dòng thải tính theo giờ là:
Q
Cr
= 0,625m
3
/h
Các thông số của dòng thải:
Do nước thải không ổn định cả về lưu lượng và thành phần mà phụ thuộc rất nhiều vào
quá trình sản xuất, đặc biệt là quá trình thay rửa bể, nên khó có thể tính toán nồng độ các
chất trong nước thải một cách chính xác. Nhưng nhờ có bể điều hòa để ổn định nồng độ
chất ô nhiễm cấp vào bể xử lý, do đó có thể chọn nồng độ tiêu biểu của dòng thải trong
Bảng 3.19.
Bảng 3.19. Nồng độ của nước thải trước khi xử lý
TT
Các thông số
Đơn vị
Nƣớc thải đầu vào
QCVN 40:2011/BTNMT-B
1
pH
-
3,18
5,5 – 9
2
SS
mg/l
150
thu hồi sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế do phải đầu tư thiết bị xử lý tái sinh.
- Dòng thải mạ Crôm có chứa Cr
+6
rất độc, vì vậy nên sử dụng phương pháp khử để
khử về dạng Cr
3+
ít độc hơn nhiều. Ngoài ra, dòng nước thải chủ yếu mang tính axít, nên ta áp
dụng phương pháp trung hòa là đơn giản nhất.
- Quá trình trung hòa và khử tạo ra lượng cặn lớn. Hơn nữa, để lắng Cr
3+
ta có thể dùng
sữa vôi Ca(OH)
2
để tạo kết tủa Cr(OH)
3
rất hiệu quả và giá thành không cao. Tiếp theo, để tách
các cặn lơ lửng này, tốt nhất sử dụng kết hợp với các chất tạo bông như phèn sắt, phèn nhôm
hoặc chất trợ tạo bông PAC-250.
Như vậy, sẽ lựa chọn phương pháp khử – kết tủa hóa học kết hợp với trung hòa và lắng
để thiết kế dây chuyền xử lý nước thải mạ với hiệu quả xử lý đạt 97%, nước thải sau xử lý đạt
tiêu chuẩn loại B QCVN 40:2011/BTNMT-B
3.3.2. Sơ đồ chung của hệ thống xử lý nƣớc thải
Dòng thải chứa Crôm
định kỳ
H
2
SO
4
NaHSO
3
Ca(OH
)
2
Nước thải đi vào bể điều hòa để ổn định lưu lượng và nồng độ các chất trong nước
thải. Sau đó chúng được đi qua thiết bị tách dầu để tách dầu mỡ và các tạp chất nổi có
trong dòng thải.
Sau khi ra khỏi thiết bị tách dầu, nước thải sẽ được bơm vào bể phản ứng để khử
Cr
6+
thành Cr
3+
. chất khử là NaHSO
3
được cấp bằng bơm định lượng. Do môi trường tiến
hành phản ứng khử đòi hỏi pH = 3, vì vậy phải bổ sung H
2
SO
4
vào để đạt được pH cần
thiết. Bể phản ứng có 2 ngăn: ngăn thứ nhất cấp NaHSO
3
nhỏ mà ở bể lắng không tách được.
Bể lọc gồm các lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh và than hoạt tính để loại bỏ các
hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng vết, những chất khó hoặc không phân giải
sinh học và halogen hữu cơ nhằm xử lý các chỉ tiêu đạt yêu cầu quy định.
Cuối cùng, nước thải sau khi qua các công đoạn xử lý sẽ được đưa vào bể điều
chỉnh pH lần cuối. Tại đây ta có thể dùng thêm H
2
SO
4
để điều chỉnh pH nước thải tới giá
trị yêu cầu. Nước thải sau đó được thải ra mương thoát nước.
TÊt c¶ c¸c qu¸ tr×nh diÔn ra trong hÖ thèng ®Òu ®-îc ®iÒu khiÓn tù ®éng.
3.3.3. Tính toán lựa chọn các thiết bị
Tính toán bể phản ứng
- Chọn loại thiết bị phản ứng khuấy trộn lý tưởng liên tục với tác nhân khử là NaHSO
3.
- Phản ứng xảy ra trong thiết bị như sau:
4H
2
CrO
4
+ 6NaHSO
3
+ 3H
2
SO
4
= 2Cr
2
(SO
thành Cr
3+
cần (6104) = 624g NaHSO
3
và (398) = 294 g H
2
SO
4
.
Do đó, để khử 1 kg Cr
6+
thành Cr
3+
cần x kg NaHSO
3
và y kg H
2
SO
4
.
NaHSO
3
H
2
SO
4
- Với thiết bị khuấy trộn liên tục, thể tích của thiết bị phản ứng được tính theo công thức:
trong đó:
- Q
Cr
: lưu lượng dòng nước thải chứa Cr, m
3
/h;
- Q
hc
: lưu lượng NaHSO
3
thêm vào, m
3
/h;
- Q
ax
: lưu lượng axit H
2
SO
4
thêm vào để giữ ổn định pH = 23, m
3
/h.
- Tải lượng Cr
6+
trong nước thải là 1,65 g/h = 1,65 24 = 39,6 (g/ngày) = 0,0396
(kg/ngày).
Lượng NaHSO
3
cần dùng để khử theo lý thuyết là :
m
3
/ngày
- Tương tự, lượng axit H
2
SO
4
85% theo lý thuyết là :
m
ax,lt
= 1,413x0,0396 = 0,0559(kg/ngày)
Lấy hệ số dư là n = 1,5. Vậy lượng axit thực tế cần dùng là :
m
ax,tt
= 1,5 0,0559 = 0,0838(kg/ngày) 0,1(kg/ngày)
Khối lượng riêng của axit H
2
SO
4
85% bằng : = 1779 kg/m
3
[2]
Vậy lưu lượng axit H
2
SO
4
là :
Q
ax
= = 0,000056 (m
3
- Kích thước xây dựng:
+ Chiều cao 1m, trong đó chiều cao sử dụng là 0,8m, còn khoảng trống là 0,2m.
+ Chiều rộng bể chọn bằng 0,5 m
+ Chiều dài bể là 2 m, chiều rộng bể là 0,5m
trong đó: ngăn thứ nhất: 0,8m 0,5m 1m (dài rộng cao)
ngăn thứ hai: 1,2m 0,5m 1m (dài rộng cao)
Chọn cánh khuấy
- Chọn loại cánh khuấy chân vịt hai cánh, đường kính 300 mm
- Số vòng quay của cánh khuấy : n = 300 vòng/phút = 5 vòng/s
- Công suất cánh khuấy tính theo công thức sau [2]:
N = A.n
3
.d
5
. (w)
trong đó:
- A: hệ số xác định bằng thực nghiệm, với loại cánh khuấy chân vịt 2 cánh ta có A
= 0,985 [2]
- n: số vòng quay, vòng/s.
- d: đường kính cánh khuấy, d = 300 mm = 0,3 m
- : khối lượng riêng của nước thải, có 1000 kg/m
3
N = 0,985 x 5
3
x 0,3
5
x 1000 = 3324,4 w 3,3 kw
- Công suất động cơ điện:
N
cần 3x74g Ca(OH)
2
- Mặt khác, tải lượng của Cr
+3
chính bằng tải lượng của Cr
+6
là
6
Cr
T
= 1,65 g/h lượng
Ca(OH)
2
cần đưa vào bể hòa trộn là:
M = = 3,522g/h 0,648(kg/ngày)
Lưu lượng dung dịch sữa vôi đưa vào bể là:
Q = 0,0000695m
3
/h 0,0017(m
3
/ngày)
- Để đảm bảo tốt quá trình kết tủa, ta lấy dư lên thành Q
K
= 0,01 m
3
/h
Tổng lưu lượng vào bể hòa trộn là:
Q
tổng
= 5,5 kw
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
1. Đã tìm hiểu được quy mô, công nghệ sản xuất tại Công ty TNHH Tae Yang Việt
Nam. Quy mô sản xuất của Công ty khá lớn, mỗi năm cung cấp hàng triệu sản phẩm
thìa, dao, dĩa cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Công nghệ sản xuất của
công ty hiện nay khá hiện đại với 100% thiết bị máy móc chính được nhập khẩu từ
Hàn Quốc.
2. Đã tìm hiểu được đặc tính nước thải và hiện trạng xử lý của Công ty TNHH Tae
Yang Việt Nam. Theo khảo sát, Công ty vẫn chưa tách riêng dòng nước thải sinh
hoạt và sản xuất mà tập trung xử lý trong hệ thống xử lý chung dùng phương pháp
sinh học. Vì vậy, đặc tính nước thải của Công ty là có hàm lượng các chất hữu cơ
cao, hàm lượng crôm cũng khá cao. Tuy nhiên, sau hệ thống xử lý thì các chỉ tiêu
đều đạt quy chuẩn cho phép, chỉ riêng hàm lượng crôm đầu ra vẫn vượt quy chuẩn
cho phép 12 lần so với QCVN 40:2011/BTNMT-B.
3. Đã xác định được điều kiện tối ưu của các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình khử Cr
6+
về Cr
3+
tại giá trị pH = 3 với hiệu suất khử đạt 76,6% (Na
2
S), 77,9% (NaHSO
3
) và
81,8% (FeSO
4
); lượng chất khử NaHSO
3
là 5g/1g Cr
References
Tài liệu tiếng việt
1. Lê Quý An (2003), Hiện trạng ô nhiễm môi trường Việt Nam, NXB Quân đội nhân
dân.
2. Bộ môn quá trình và thiết bị công nghệ hóa chất, Khoa Hóa, Trường Đại học Bách
khoa Hà Nội (1999), “Sổ tay quá trình và thiết bị công nghệ hóa chất”, tập 2, Nhà
xuất bản Khoa học Kĩ thuật Hà Nội.
3. Đặng Kim Chi (1997), Hóa môi trường, tr:198, Nhà xuất bản Khoa học Kĩ thuật, Hà
Nội
4. Nguyễn Văn Dục, Nguyễn Dương Tuấn Anh (2001). Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng
ở khu vực công nghiệp Thượng Đình, Tạp chí khoa học, Đại học Quốc gia, Hà Nội,
T. XVII, No2, pp. 19-25.
5. Nguyễn Thị Hà, Trần Thị Hồng, Nguyễn Thanh Nhàn, Đỗ Thị Cẩm Vân, Lê Thị Thu
Yến (2007), “Nghiên cứu khả năng hấp thu một số kim loại nặng (Cu
2+
, Pb
2+
, Zn
2+
)
trong nước của nấm men Saccharomyces cerevisiae”, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà
Nội, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, (số 23-2007), trang 99.
6. Trần Tứ Hiếu, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Văn Nội (1999). Giáo trình Hoá Môi trường
cơ sở, Khoa Hoá học.
7. Trần Minh Hoàng, Nguyễn Văn Thanh, Lê Đức Tri (1999), Sổ tay mạ điện, Nhà xuất
bản Khoa học và kỹ thuật.
8. Trần Minh Hoàng (2007), Phân tích dung dịch mạ điện, Nhà xuất bản Đại học Bách
Khoa Hà Nội.
22. Eary L.E., and D.Rai (1998) – Chromate removal from aqueous wastes by reduction
with ferrous iron. Environ. Sci. Technol. Vol 22. pp.972-977.
23. Environment Protection Authority of Vitoria (1982) – Treament of Heavy metal
Discharges to comply with receiving water quality objectives, Publication 149,
Melbuorne.
23
24. Frederick T. Stanin and Malcolm Pirnie, “The Transport and Fate of Cr(VI) in the
Environment”, L1608_C05.fm Page 161 Friday, July 23, 2004
25. Jyoon, Ylee, S.Kim (2001). Investigation of the reaction pathway of radicals
produced by fenton oxidation in the conditions of wastewater treatment. Water
Science and Technology. Vol 44. No5, pp.15-21.
26. M. Ajmal (1996), Studies on removal and recovery of Cr(VI) from electroplating
wastes, Water Research, Vol 50. N
0
6, pp.1482-1487.
27. Nelson Leonard Nemerow (2006), Industrial Waste Treatment, Elsevier Sicence And
Technology Books.
28. Rowland, G.P., JR. 1939. Photoelectric colorimetry – Optical study of permanganate
ion and of chromium-diphenylcacbazide system. Anal. Chem. 11:442.
29. S. Wadley, T.D Waiter (2004), Fenton process in advanced oxidation for water and
wastewater treatment (Ed.S.Parsons). IWA P Publishing, pp.111-137.
30. Sohair I. Abou-Elela Hanan S.Ibrahim Enas Abou-Taleb (2008), Heavy metal
removal and cyanide destruction in the metal plating industry: an integrated approach
from Egypt, Environmentalist pp:223-229.
31. World Bank, Environmental Department (1996) Pollution Prevention and
Abatement: Electroplating Industry, Technical Background Document.
32. J.K. Satpathy and M. Chaudhuri (1995), Treatment of Cadimium plating and
Chromium-plating wastes by iron oxid-coasted sand, Water Environment Research
Water Environment Research, Vol 68.N