Đánh giá hiện trạng và nghiên cứu sử dụng bèo tây xử lý nước thải chăn nuôi lợn tại thành phố Thái Nguyên - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ MINH HUỆ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ NGHIÊN CỨU
SỬ DỤNG BÈO TÂY XỬ LÝ NƢỚC THẢI
CHĂN NUÔI LỢN TẠI THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
NGUYỄN THỊ MINH HUỆ

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ NGHIÊN CỨU
SỬ DỤNG BÈO TÂY XỬ LÝ NƢỚC THẢI
CHĂN NUÔI LỢN TẠI THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng
Mã số: 60.85.02
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. PHAN THỊ THU HẰNG



Thái Nguyên, ngày 19 tháng 09 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Huệ

ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Phạm vi nghiên cứu 2
1.4. Đối tƣợng nghiên cứu 2
1.5. Ý nghĩa của đề tài 2
1.5.1. Ý nghĩa khoa học 2
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Khái quát về tình hình chăn nuôi ở Việt Nam 3
1.1.1. Hiện trạng chăn nuôi 3
1.1.2. Định hƣớng phát triển chăn nuôi tại Việt Nam 3
1.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trƣờng do chăn nuôi 5
1.3. Ảnh hƣởng của ô nhiễm môi trƣờng đến năng suất chăn nuôi 5

3.2.2. Hệ thống nông nghiệp trong các trang trại tại Thái Nguyên 44
3.3. Đánh giá thực trạng việc xử lý chất thải chăn nuôi lợn tại TP. Thái Nguyên 45
3.3.1. Lƣợng chất thải rắn, nƣớc thải trong chăn nuôi lợn tại một số trang trại trên
địa bàn TP. Thái Nguyên 45
3.3.2. Các biện pháp quản lý chất thải chăn nuôi lợn đang đƣợc áp dụng tại các
trang trại TP. Thái Nguyên 46
3.3.3. Thực trạng ô nhiễm nƣớc thải chăn nuôi lợn của một số trang trại tại TP. Thái
Nguyên 48
3.4. Nghiên cứu sử dụng Bèo tây xử lý nƣớc thải chăn nuôi lợn tại Thái Nguyên 50
3.4.1. Hiệu quả xử lý của Bèo tây khi nuôi trồng trong nƣớc thải chăn nuôi 51
3.4.2. Biện pháp sử dụng Bèo tây xử lý chất thải chăn nuôi lợn sau khi xử lý bằng
Biogas 52
3.4.3. Biện pháp sử dụng bèo tây xử lý chất thải chăn nuôi lợn sau xử lý bằng bể
lắng 53
3.4.4. So sánh hiệu quả xử lý của bèo tây với các loại nƣớc thải khác nhau 55
3.5. Đề xuất giải pháp xử lý nƣớc thải tại các trang trại chăn nuôi lợn ở TP.
Thái Nguyên 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1. Kết luận 62
2. Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1. Các bệnh điển hình liên quan đến chất thải chăn nuôi 8
Bảng 1.2. Lƣợng phân và nƣớc tiểu của 1 số gia súc, gia cầm thải ra trong 24h 10
Bảng 1.3. Thành phần (%) của phân gia súc gia cầm 11
Bảng 1.4. Các loại vi khuẩn có trong phân 12
Bảng 1.5. Thành phần hóa học nƣớc tiểu lợn có khối lƣợng 70 – 100 kg 13

Hình 1.2. Phân loại phƣơng pháp xử lý sinh học 25
Hình 1.3. Mô hình xử lý hiếu khí (Aeroten) nƣớc thải chăn nuôi 27
Hình 3.1. Số lƣợng trang trại lợn phân theo phƣờng/xã tại TP. Thái Nguyên năm
2011 44
Hình 3.2. Tỷ lệ ứng dụng các phƣơng pháp xử lý chất thải tại các trang trại ở TP.
Thái Nguyên năm 2011 47
Hình 3.3. Mục đích sử dụng nƣớc thải chăn nuôi lợn của các trang trại tại TP.
Thái Nguyên 48
Hình 3.4. Hiệu quả xử lý N tổng số, P tổng số của bèo tây khi nuôi trồng ở các
nguồn nƣớc thải chăn nuôi 56
Hình 3.5. Hiệu quả xử lý chất thải hữu cơ của bèo tây khi nuôi trồng ở các nguồn
nƣớc thải chăn nuôi 56
Hình 3.6. Hiệu quả xử lý Pb, Cd, As của bèo tây khi nuôi trồng ở các nguồn
nƣớc thải chăn nuôi 57

vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1
BOD
5
Nhu cầu oxy sinh hóa
2
COD
Nhu cầu oxy hóa học
3
DO
Hàm lƣợng oxy hòa tan trong nƣớc
4
FAO

ngày càng cao của cuộc sống đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển mạnh mẽ.
Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số lƣợng lẫn quy mô.
Tuy nhiên, việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch, nhất là các vùng
dân cƣ đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trƣờng ngày càng trầm trọng. Ô nhiễm môi
trƣờng do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi,
tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ thuật.
Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trƣờng có ảnh
hƣởng trực tiếp tới sức khỏe con ngƣời, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ
mắc bệnh, các chi phí phòng trị bệnh, giảm năng suất và hiệu quả kinh tế, sức đề
kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ gây nên bùng phát dịch bệnh. Vì
vậy, WHO khuyến cáo phải có các giải pháp tăng cƣờng việc làm trong sạch môi
trƣờng chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững đƣợc an toàn sinh học, tăng
cƣờng sức khỏe các đàn giống. Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trƣờng do vi
sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) là đặc biệt nguy hiểm, vì nó sẽ làm phát sinh
các loại dịch bệnh nhƣ ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H
5
N
1

Theo tính toán thì lƣợng chất thải rắn mà các vật nuôi có thể thải ra
(kg/con/ngày) với bò là 10, trâu là 15, lợn là 2, gia cầm là 0,2 [6]. Do vậy, hàng năm
đàn vật nuôi Việt Nam thải vào môi trƣờng khoảng 73 triệu tấn chất thải rắn và 25 -
30 triệu khối chất thải lỏng. Trong đó, khoảng 50% lƣợng chất thải rắn (36,5 triệu
tấn), 80% chất thải lỏng (20 – 24 triệu m
3
) xả thẳng ra môi trƣờng, hoặc sử dụng
không qua xử lý gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng. Ƣớc tính với cách quản lý,
sử dụng nhƣ hiện nay sẽ phát thải vào không khí khoảng 0,24 tấn CO
2
/ 1 tấn phân

Cung cấp cơ sở lý luận về áp dụng biện pháp sinh học trong xử lý nƣớc thải
giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Ứng dụng biện pháp xử lý chất thải lỏng từ chăn nuôi lợn đạt hiệu quả.

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát về tình hình chăn nuôi ở Việt Nam
1.1.1. Hiện trạng chăn nuôi
Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nƣớc ta phát triển với tốc độ
nhanh. Tốc độ tăng trƣởng bình quân giai đoạn 2001 – 2006 đạt 8,9%. Tổng đàn
trâu, bò từ 6,7 triệu con năm 2001 tăng lên 9,7 triệu con năm 2007 (tăng 7,4%/năm).
Trong đó, đàn bò sữa tăng bình quân 15,0%/năm, đàn bò thịt tăng 9,7%/năm và đàn
trâu tăng 1,1%/năm; đàn lợn tăng từ 21,8 triệu con năm 2001 lên 26,6 triệu con năm
2007 (tăng 3,3%/năm); đàn gia cầm trƣớc khi có dịch cúm tăng mạnh từ 218 triệu
con năm 2001 lên 254 triệu con năm 2003 (tăng 8,4%/năm).
Chăn nuôi nƣớc ta thời gian qua chủ yếu vẫn là phân tán nhỏ lẻ, tập trung
chủ yếu ở các hộ nông dân với 2 - 3 con trâu bò, 5 - 10 con lợn và 20 – 30 con gia
cầm/hộ. Những năm gần đây, chăn nuôi phát triển theo xu hƣớng trang trại, tập
trung sản xuất hàng hóa. Tính đến tháng 10/2006 cả nƣớc có 17.721 trang trại và
chủ yếu phát triển ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và
đồng bằng sông Hồng. Trong đó: có 7.475 trang trại chăn nuôi lợn, với 2.990 trang
trại nuôi lợn nái. Số trang trại chăn nuôi gia cầm là 2.837 trang trại. Số trang trại
chăn nuôi bò là 6.405 trang trại, trong đó 2.011 trang trại chăn nuôi bò sữa. Số trang
trại chăn nuôi trâu là 247 trang trại, số trang trại chăn nuôi dê là 757 trang trại [15].
Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lƣơng Thế giới (FAO): Ngành chăn nuôi
đến năm 2020 vẫn tiếp tục phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm đảm bảo
cho sức khỏe cộng đồng và gia tăng dân số. Sản xuất chăn nuôi đang có xu hƣớng
chuyển dịch từ các nƣớc phát triển sang các nƣớc đang phát triển, từ phƣơng Tây

nông nghiệp. Để đảm bảo an toàn về lƣơng thực và thực phẩm, biện pháp duy nhất
là thâm canh chăn nuôi trong đó chăn nuôi lợn là một thành phần quan trọng trong
định hƣớng phát triển.
Theo “Chiến lƣợc phát triển chăn nuôi đến năm 2020” thì:
- Phát triển ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa, từng bƣớc
đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nƣớc và xuất khẩu.
- Tổ chức lại sản xuất ngành chăn nuôi theo hƣớng gắn sản xuất với thị
trƣờng, bảo đảm an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ môi trƣờng và cải thiện

5
điều kiện an sinh xã hội, nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả và vệ sinh
an toàn thực phẩm.
- Tập trung phát triển sản phẩm chăn nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh nhƣ
lợn, gia cầm, bò; đồng thời phát triển sản phẩm chăn nuôi đặc sản của vùng, địa phƣơng.
- Khuyến khích các tổ chức và cá nhân đầu tƣ phát triển chăn nuôi theo hƣớng
trang trại, công nghiệp; đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện hộ chăn nuôi theo phƣơng thức
truyền thống chuyển dần sang phƣơng thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp.
Theo Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16
tháng 1 năm 2008 về việc phê duyệt Chiến lƣợc phát triển chăn nuôi đến năm 2020
thì mục tiêu của ngành chăn nuôi đến năm 2020 là:
- Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phƣơng thức
trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo chất lƣợng
cho tiêu dùng và xuất khẩu.
- Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt trên 42%, trong đó
năm 2010 đạt khoảng 32% và năm 2015 đạt 38%.
- Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế có
hiệu quả các bệnh nguy hiểm trong chăn nuôi.
- Các cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôi theo phƣơng thức trang trại, công
nghiệp và cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống xử lý chất thải,
bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trƣờng.

quy mô chăn nuôi trang trại và gia trại thì việc xử lý chất thải đƣợc coi trọng hơn,
còn tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ gắn với sản xuất nông nghiệp, chất thải chăn nuôi
chủ yếu đƣợc vận chuyển trực tiếp từ chuồng nuôi ra ngoài đồng bón cho cây trồng,
số lƣợng đƣợc xử lý rất ít. Theo kết quả điều tra chăn nuôi lợn tại 8 vùng sinh thái,
số gia trại, trang trại chăn nuôi lợn có áp dụng các biện pháp xử lý chất thải chiếm
khoảng 74%, còn lại không xử lý chiếm khoảng 26%; trong các hộ, các cơ sở có xử
lý thì 64% áp dụng phƣơng pháp sinh học (Biogas, ủ v.v ), số còn lại 36% xử lý
bằng phƣơng pháp khác.
Hiện nay, còn nhiều trang trại chăn nuôi lợn, bò hàng ngày thải ra một lƣợng
lớn chất thải không đƣợc xử lý và đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nƣớc, kênh
mƣơng trong vùng làm nhiều hộ dân không có nƣớc sinh hoạt (nƣớc giếng trong
vùng có váng, mùi hôi tanh), tỷ lệ ngƣời dân bị mắc bệnh tiêu chảy, mẫn ngứa và
ghẻ lở cao. Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi không chỉ ảnh hƣởng nặng tới môi
trƣờng sống khu dân cƣ mà còn gây ô nhiễm nguồn nƣớc, tài nguyên đất và ảnh
hƣởng lớn đến kết quả sản xuất chăn nuôi. Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi
vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nƣớc. Tình trạng chăn nuôi thả rông,
chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nƣớc v.v còn khá phổ biến đã làm tăng diện tích
đất xói mòn, suy giảm chất lƣợng nƣớc, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp
trên vùng rộng lớn. Ô nhiễm môi trƣờng còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hƣởng
lớn đến hiệu quả chăn nuôi. Trong hơn mƣời năm qua, từ 1997 đến nay, dịch lở
mồm long móng trên gia súc đã diễn ra thƣờng xuyên và đến nay chƣa đƣợc khống
chế triệt để. Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm đã bùng phát. Từ năm 2003 đến

7
nay, dịch đã tái phát 5 đợt, đã phải tiêu huỷ trên 51 triệu gia cầm các loại, thiệt hại
ƣớc tính lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Từ đầu năm 2007 đã bùng phát hội chứng rối
loạn hô hấp và sinh sản (bệnh tai xanh - PSSR) trên lợn, gây tổn thất lớn cho ngành
chăn nuôi, gây mất an toàn thực phẩm và còn có nguy cơ lây nhiễm sang ngƣời
nguy hiểm không kém bệnh cúm gia cầm, bệnh lở mồm long móng.
Rõ ràng ngành chăn nuôi phát triển nếu không đi kèm với các biện pháp xử

2-
) thành sunphua (S
2-
). Trong điều
kiện bình thƣờng thì H
2
S là một trong những nguyên nhân gây ra các vấn đề về màu
và mùi.
Việc kiểm soát chất thải chăn nuôi là một nội dung cấp bách cần đƣợc các

8
cấp quản lý, các nhà sản xuất và cộng đồng dân cƣ bắt buộc quan tâm để: hạn chế ô
nhiễm môi trƣờng, bảo vệ sức khỏe của con ngƣời, cảnh quan khu dân cƣ cũng nhƣ
không kìm hãm sự phát triển của ngành [9].
1.3. Ảnh hƣởng của ô nhiễm môi trƣờng đến năng suất chăn nuôi
Tình hình dịch bệnh bùng phát trên quy mô rộng ngày càng tăng, dịch bệnh
có nhiều nguyên nhân và từ nhiều nguồn khác nhau: do vius, vi khuẩn, ký sinh
trùng. Vì vậy để hạn chế các nguyên nhân gây bệnh trên, ô nhiễm môi trƣờng
chuồng nuôi là vấn đề cấp bách cần giải quyết hiện nay.
Chất lƣợng không khí trong chuồng nuôi rất quan trọng, gia súc hít vào phổi
những chất độc hại gây viêm nhiễm đƣờng hô hấp làm ảnh hƣởng đến sự tăng
trƣởng. Phân và nƣớc thải không đƣợc thu gom xử lý sẽ phân hủy gây ô nhiễm môi
trƣờng không khí ảnh hƣởng đến năng suất chăn nuôi. Môi trƣờng chăn nuôi bao
gồm yếu tố: khí amoniac (NH
3
), hydro sunfua (H
2
S), nhiệt độ, độ ẩm, bụi và các khí
gây mùi hôi thối khác. Nếu những yếu tố này vƣợt chỉ tiêu sẽ rất nhiều nguy hại [9].
- Khí amoniac (NH

2
S gây kích ứng
hệ thần kinh trung ƣơng, làm tê liệt hô hấp, tuần hoàn. Trong chuồng nuôi, H
2
S bền
trong không khí ẩm, trên bề mặt ẩm ƣớt của vách, mái nên rất nguy hiểm cho sức
khỏe vật nuôi. Ảnh hƣởng cục bộ có thể kể đến khí H
2
S gây viêm giác mạc, kết mạc

9
mắt, viêm dạ dày, ruột [4].
- Nhiệt độ chuồng nuôi: Lợn có nhu cầu nhiệt độ khác nhau ở các giai đoạn
khác nhau, nếu nhiệt độ nóng hoặc lạnh quá mức cho phép sẽ có một số triệu chứng
thƣờng thấy ở lợn nhƣ đi phân bừa bãi, cắn tai đuôi nhau, lông thô xù, tăng tỷ lệ
bệnh và chết. Ảnh hƣởng của điều kiện cách nhiệt trần nhà và tƣờng chắn, sàn nền
chuồng, gió lùa cũng rất rõ rệt với lợn.
+ Trƣờng hợp quá lạnh, lợn bị xù lông, nằm chồng đống lên nhau, lợn con bị
mất nhiệt, thiếu hụt năng lƣợng dễ bị tiêu chảy. Cứ lạnh quá 1
0
C so với nhiệt độ cho
phép lợn sẽ phải ăn thêm một khối lƣợng thức ăn để chống lạnh. Do vậy ta phải có
hệ thống phông rèm để che chắn gió mƣa tạt, các cửa phải đƣợc đóng kín, đối với
lợn con theo mẹ và sau cai sữa tạo ra ô ủ úm và đèn sƣởi.
+ Trƣờng hợp nóng quá, lợn giảm ăn, giảm tăng trọng và tỷ lệ sinh sản. Đối
với lợn choai và thịt, cứ 3
0
C tăng hơn so với nhiệt độ thích hợp lợn giảm ăn và giảm
tăng trọng 10- 15%; lợn nái nuôi con giảm ăn từ 0,5- 1,8 kg thức ăn, tỷ lệ nái hao
mòn cao, giảm trọng lƣợng con cai sữa và kéo dài thời gian khô nái. Với lợn đực

E. coli
Vi trùng
Nƣớc, thức ăn
+
+
+
Salmonella
Vi trùng
Nƣớc, thức ăn
+
+
+
Leptospira
Vi trùng
Nƣớc, thức ăn
-
+
+
Dịch tả lợn
Virus
Nƣớc, thức ăn
-
+
-
Ascarissuum
Ký sinh trùng
Nƣớc, thức ăn
-
+
+

thoát khỏi sự tiêu hóa của các enzym và vi sinh vật (chất xơ, protein không tiêu hóa

11
đƣợc, axit amin thoát khỏi sự hấp thu), các khoáng chất dƣ thừa nhƣng cơ thể không
sử dụng đƣợc.
- Các chất cặn bã của dịch tiêu hóa.
- Mô tróc ra từ niêm mạc của ống tiêu hóa và các dịch tiết niêm mạc.
- Các vi sinh vật nhiễm trong thức ăn, nƣớc uống, vi sinh vật khu trú trong
đƣờng tiêu hóa.
- Vật liệu vô cơ dính vào thức ăn (bụi, tro ) [4]
* Lƣợng phân
Lƣợng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi, khẩu
phần ăn và thể trọng của gia súc, gia cầm. Lƣợng phân lợn thải ra trong một ngày
đêm là 6 – 8% thể trọng.
Lƣợng phân và nƣớc tiểu thải trung bình trong 24 giờ của một số gia súc, gia
cầm đƣợc thể hiện dƣới bảng sau:
Bảng 1.2. Lƣợng phân và nƣớc tiểu của 1 số gia súc, gia cầm thải ra trong 24h
Loại gia súc
Lƣợng phân (kg)
Nƣớc tiểu (lít)
Lợn (15-45 kg)
1,0 – 3,0
0,7 - 2,0
Lợn (45-100 kg)
3,0 – 5,0
2,0 – 4,0
Trâu
18 - 25
8,0 - 12


0.10
Trâu, bò
83.14
0.29
0.17
1.00
0.35
0.13

56.0
1.63
0.54
0.85
2.40
0.74
(Nguồn: Trần Mạnh Hải, 2009) [9]
Thành phần các chất trong phân lợn phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

12
- Thay đổi theo thành phần chất dinh dƣỡng của khẩu phần thức ăn, nƣớc uống.
- Thay đổi theo loại gia súc do khả năng tiêu hóa khác nhau.
- Thay đổi theo nhu cầu của từng cá thể, nhu cầu cá thể cao thì sử dụng
dƣỡng chất nhiều nên phân sẽ ít dƣỡng chất và ngƣợc lại.
- Thay đổi theo sự có mặt của chất độn chuồng ở trong phân. [4]
Bảng 1.4. Các loại vi khuẩn có trong phân
Loại vi khuẩn
Số lƣợng
Gây bệnh
Điều kiện bị diệt
Nhiệt độ

55
60
Hepatite A

Viêm gan
55
3 - 5
Taenia saginata

Sán
50
3 - 5
Micrococcus

Ung nhọt
54
10
Sreptococcus
10
2
/100ml
Làm mủ
50
10
Ascaris lumbrucoides
-
Giun đũa
50
60
Mycobacterium

Trong phân còn chứa nhiều loại vi sinh vật và kí sinh trùng kể cả có lợi và có
hại. Trong đó, các vi khuẩn thuộc loại Enterobacteriacea chiếm đa số với các loài
điển hình nhƣ E.coli, Samonella, Shigella, Proteus, Kết quả phân tích của Viện Vệ
sinh – Y tế thành phố Hồ Chí Minh năm 2001, nhiều loại vi khuẩn gây bệnh tồn tại từ

13
5 – 15 ngày trong phân và đất. Đáng lƣu ý nhất là virus gây bệnh viêm gan
Rheovirus, Adenovirus. Cũng theo số liệu của viện này cho biết, trong 1 kg phân có
thể chứa 2.100 – 5.000 trứng giun sán, chủ yếu là Ascarisium (chiếm 39 – 83%),
Oesophagostomum (chiếm 60 – 68,7%) và Trichocephalus (chiếm 47 – 58,3%). Điều
kiện thuận lợi cho mỗi loại tồn tại phát triển và gây hại phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
quá trình thu gom, lƣu trữ và sử dụng phân, các điều kiện môi trƣờng nhƣ độ ẩm
không khí, nhiệt độ, ánh sáng, kết cấu của đất, thành phần các chất trong phân [7]
1.4.1.2. Nước phân
Nƣớc phân là nƣớc từ đống phân chuồng chảy ra, phần lớn là nƣớc tiểu của
gia súc có hòa lẫn các chất hòa tan của phân nguyên với một phần nƣớc có nguồn
gốc từ nƣớc uống, nƣớc tắm gia súc, nƣớc rửa chuồng. Vì vậy, nƣớc phân sẽ chứa
rất nhiều dƣỡng chất có giá trị làm phân bón cho cây trồng.
Bảng 1.5. Thành phần hóa học nƣớc tiểu lợn có khối lƣợng 70 – 100 kg
Chỉ tiêu
Đơn vị
Giá trị
pH

6,77 – 8,19
Vật chất khô
g/kg
30,9 – 35,9
NH
4

trƣờng. Lựa chọn một quy trình xử lý nƣớc thải cho một cơ sở chăn nuôi phụ thuộc
rất nhiều vào thành phần tính chất nƣớc thải.

14
Đặc điểm của chất thải chăn nuôi:
* Các chất hữu cơ và vô cơ
Trong nƣớc thải chăn nuôi, hợp chất hữu cơ chiếm 70 - 80% bao gồm
cellulose, protit, acid amin, chất béo, hidratcarbon và các dẫn xuất của chúng có
trong phân, thức ăn thừa. Hầu hết các chất hữu cơ dễ phân hủy. Các chất vô cơ
chiếm 20 - 30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO
4
2-
,…
* Nitơ (N) và photpho (P)
Khả năng hấp thụ N và P của các loài gia súc, gia cầm rất kém, nên khi ăn
thức ăn có chứa N và P thì chúng sẽ bài tiết ra ngoài theo phân và nƣớc tiểu. Trong
nƣớc thải chăn nuôi lợn thƣờng chứa hàm lƣợng N và P rất cao. Hàm lƣợng N-tổng
số trong nƣớc thải chăn nuôi là 200 – 350 mg/l, P-tổng số là 60 – 100 mg/l [9].
* Vi sinh vật gây bệnh
Nƣớc thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng ấu trùng giun
sán gây bệnh.
* Kim loại nặng
Các kim loại nặng nhƣ asen, chì, cadimi, thủy ngân cũng có thể lẫn trong
thức ăn chăn nuôi và đi vào động vật khi con vật ăn các loại thức ăn này. Thức ăn
chăn nuôi lẫn kim loại nặng có thể là do sử dụng hóa chất diệt mối, mọt trong kho,
sử dụng bột cá chế biến từ cá nhiễm các kim loại nặng. Các chất khoáng bổ sung
vào thức ăn không những gây những tác hại về vệ sinh an toàn thực phẩm mà còn
gây tác hại về môi trƣờng.
Chẳng hạn, trong chăn nuôi lợn thịt ngƣời ta thƣờng đƣa thêm đồng vào thức
ăn, đồng có tác dụng kích thích tăng trƣởng nhƣ kháng sinh. Lƣợng đồng bổ sung

nông nghiệp.
Hình 1.1. Mô hình quản lý chất thải rắn chăn nuôi trên thế giới
Cơ sở chăn nuôi
quy mô nhỏ lẻ
Nuôi thả,
chuồng hở
Hệ thống nuôi
trên sàn
Kho chứa chất
thải rắn
ủ phân compost
Bể chứa, hồ chứa nƣớc thải,
hệ thống xử lý yếm khí, bể
biogas dung tích lớn
Kênh mƣơng tiếp

Batch Reactor: xử lý nƣớc thải bằng phƣơng pháp sinh học theo quy trình phản ứng
từng mẻ liên tục) qua 2 giai đoạn: giai đoạn hiếu khí, giai đoạn kỵ khí. Photphat
đƣợc loại bỏ từ pha lỏng bằng định lƣợng vôi vào bể sục khí (Willers et al,1994).
Tại Tây Ban Nha, nƣớc thải chăn nuôi đƣợc xử lý bằng quy trình
VALPUREN (đƣợc cấp bằng sáng chế Tây Ban Nha số P9900761). Đây là quy
trình xử lý kết hợp phân hủy kỵ khí tạo hơi nƣớc và làm khô bùn bằng nhiệt năng
đƣợc cấp bởi hỗn hợp khí sinh học và khí tự nhiên.
Tại Thái Lan, công trình xử lý nƣớc thải sau Biogas là UASB (Upflow
Anearobic Sludge Blanket: là công trình xử lý sinh học kỵ khí ngƣợc dòng. Nƣớc
thải đƣợc đƣa vào từ dƣới lên, xuyên qua lớp bùn kỵ khí lơ lửng ở dạng các bông
bùn mịn. Quá trình khoáng hóa các chất hữu cơ diễn ra khi nƣớc thải tiếp xúc với
các bông bùn này. Một phần khí sinh ra trong quá trình phân hủy kỵ khí (CH
4
, CO
2

và một số khí khác) sẽ kết dính với các bông bùn và kéo các bông bùn lên lơ lửng

17
trong bùn, tạo sự khuấy trộn đều giữa bùn và nƣớc. Khi lên đến đỉnh bể, các bọt khí
đƣợc giải phóng với khí tự do và bùn sẽ rơi xuống. Để tăng tiếp xúc giữa nƣớc thải
với các bông bùn, lƣợng khí tự do sau khi thoát ra khỏi bể đƣợc tuần hoàn trở lại hệ
thống [9].
1.4.3. Tình hình về quản lý chất thải chăn nuôi lợn tại Việt Nam
Nguồn gốc phát sinh ô nhiễm môi trƣờng nƣớc trong hoạt động chăn nuôi chủ
yếu đƣợc gây ra do nƣớc thải trong khi rửa chuồng, nƣớc tiểu lợn. Ô nhiễm chất thải
rắn là do phân, thức ăn thừa của lợn vƣơng vãi ra nền chuồng mà không đƣợc thu gom
kịp thời. Các chất này đều là những chất dễ phân hủy sinh học: Carbonhydrate, protein,
chất béo dẫn đến các vi sinh vật phân hủy làm phát tán mùi hôi thối ra môi trƣờng. Đây
là các chất gây ô nhiễm nặng nhất và thƣờng thấy nhất trong các trang trại chăn nuôi

3.835
4.423
4.680
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
miền Trung
16.788
17.378
18.015
18.202
20.420
Tây Nguyên
9.623
8.730
9.240
9.481
8.835
Đông Nam Bộ
15.864
14.077
14.024
13.792
15.174
Đồng bằng Sông Cửu Long
56.582
54.442
55.023
57.483
65.747
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2009) [17]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status