Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ LỆ NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN TRỒNG CÂY LÂM NGHIỆP
PHÂN TÁN TẠI TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Lâm học
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
iii
LỜI CẢM
ƠN
Tác
giả
Nguyễn Thị Lệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.2.1. Về nguồn gốc của trồng cây lâm nghiệp phân tán 5
1.2.2. Về hình thức tổ chức thực hiện 6
1.2.3. Về cơ chế chính sách 6
3.1.5.3. Công tác bảo vệ cây trồng phân tán 50
3.1.5.4. Khai thác sử dụng và hưởng lợi cây trồng phân tán 53
3.2. Sơ bộ tổng kết, đánh giá hiệu quả của các Mô hình trồng cây lâm nghiệp
phân tán đã có trên địa bàn tỉnh Bắc Giang: 56
3.2.1. Hiệu quả kinh tế 56
3.2.2. Hiệu quả xã hội 59
3.2.3. Hiệu quả phòng hộ 60
3.3. Nghiên cứu Chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương về phát
triển trồng cây lâm nghiệp phân tán 62
3.3.1. Chính sách của Nhà nước 62
3.3.2. Chính sách của tỉnh Bắc Giang cho trồng cây phân tán 65
3.3.3. Những nhận xét và thảo luận về các chính sách cho trồng cây phân tán66
3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển trồng cây phân tán ở tỉnh Bắc
Giang 71
3.4.1. Những tiến bộ bước đầu trong trồng cây phân tán ở tỉnh Bắc Giang 68
3.4.2. Những cơ hội phát triển trồng cây phân tán ở tỉnh Bắc Giang 69
3.4.3. Những thách thức đối với phát triển trồng cây phân tán ở tỉnh Bắc Giang
70
3.4.4. Đề xuất một số giải pháp phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang Error! Bookmark not defined.
3.4.4.1. Quan điểm và định hướng chung. 71
3.4.4.2. Các giải pháp cụ thể 72
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
vi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
Chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn. IRR là tỷ lệ
chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV=0 NN & PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NPV Giá trị lợi nhuận ròng, là hiệu số giữa giá trị thu
nhập và chi phí thực hiện hàng năm của các hoạt
động sản xuất trong các mô hình, sau khi đã chiết
khấu để quy về thời điểm hiện tại.
UBND
Ủy ban nhân dân
cây phân tán
48
Bảng 3.9: Tổng hợp các đơn vị bảo vệ
cây phân tán trong từng khu vực
50
Bảng 3.10 : Chi phí cho mô hình trồng cây phân tán 57
Bảng 3.11. Tổng hợp các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các
56
Bảng 3.12. Công lao động tạo ra từ các mô hình trồng cây phân tán 59
Bảng 3.13. Điểm cho khả năng phòng hộ của các mô hình
60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
x
vị, cá nhân và hộ gia đình tham gia vào phát triển rừng theo hướng lâm
nghiệp xã hội.
Theo thuật ngữ Lâm nghiệp của Vụ Khoa học công nghệ, Bộ Lâm nghiệp
cũ, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT) năm 1996,
thì trồng cây phân tán hay con gọi là trồng cây nhân dân (Scatteret
trees planting) là trồng cây xen kẽ ở các khu dân cư hoặc ở các khu sản xuất
lâm nghiệp, công nghiệp khác ngoài vùng sản xuất lâm nghiệp tập trung, do
nhân dân sở tại làm dưới sự hướng dẫn của cơ quan lâm nghiệp.
Trồng cây lâm nghiệp phân tán có mặt ở trên khắp mọi vùng, mọi miền,
mọi khu vực của đất nước, từ vùng Đồng bằng đến vùng Trung du miền
núi, từ khu vực nông thôn đến thành thị và cây trồng mang tính đặc
trưng cho những khu vực đó. Giá trị của trồng cây phân tán đã đem lại
hiệu quả rất to lớn, thiết thực và mang tính đa tác dụng, không chỉ mang
giá trị về mặt kinh tế (cung cấp sản phẩm lâm sản cho công nghiệp chế biến,
gỗ củi chất đốt cho nhân dân), giá trị về mặt xã hội (tạo thêm công ăn việc
làm cho lao động nông thôn), mà còn mang giá trị to lớn về mặt văn hoá,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
2
tín ngưỡng, kiến trúc và đặc biệt quan trọng là giá trị về mặt môi trường
trong việc phòng hộ sinh thái, tạo cảnh quan và cải thiện môi sinh.
Bắc Giang là một địa phương, trong nhiều năm qua, trồng cây lâm nghiệp
phân tán mặc dù đã được phát động, tổ chức thực hiện và được nhân dân hết
sức quan tâm hưởng ứng tham gia, nhưng vẫn còn nổi lên nhiều bất cập,
nhiều chỗ nhiều nơi còn mang tính tự phát, hình thức, thiếu quy hoạch và
chưa có chính sách hỗ trợ đồng bộ, nhất quán trong tổ chức thực hiện. Mặt
khác việc đánh giá về trồng cây lâm nghiệp phân tán còn chưa được quan tâm,
chưa có nghiên cứu nào đi vào phân tích hiện trạng để tìm ra những điểm
giờ. Nhưng chắc chắn khi con người có nhu cầu về củi đun và cần gỗ gia dụng,
gỗ làm nhà cửa và cần phải trồng cây để giảm bớt các tác hại của thiên tai như
gió, bão, hạn hán, cát bay, cát bị nhiễm mặn nhằm đảm bảo sản xuất nông
nghiệp có năng suất cao và ổn định thì con người đã biết trồng cây phân tán. Lúc
đầu từ một vài hộ dân lẻ tẻ, sau do hiệu quả kinh tế đạt được khá cao và thỏa
mãn được các yêu cầu của cuộc sống nên trồng cây phân tán trong dân đã trở
thành phong trào rộng rãi hơn. Nhiều vùng đất sa mạc khô cằn ở Châu Phi, chỉ
có cỏ mọc như ở Kênya, Negira, Ma-Rốc người ta đã biết trồng cây lấy gỗ
chủ yếu là trồng cây gỗ họ Đậu có khả năng cố định đạm. Họ đã trồng thành
các hàng cây, hay băng cây, chia đồng cỏ chăn nuôi thành nhiều ô để thực hiện
chăn thả gia súc luân phiên, hoặc trồng cây gỗ rải rác trên đồng cỏ để giữ độ
ẩm cho đất, và tạo bóng mát cho gia súc[15].
Ở Trung Quốc, Srilanca và Ấn Độ, các cây gỗ được trồng rải rác để tạo
bóng mát cần thiết cho các vườn chè, nhằm nâng cao năng suất và chất
lượng của chè [13],[15].
Ở Braxin và Inđônêsia cây phân tán được trồng để tạo bóng mát cần thiết
cho các vườn trồng cà phê, Ca cao. Ở Nepal cũng được áp dụng rộng rãi
phương thức trồng cây phân tán để tạo thành các băng cây xanh theo đường
đồng mức nhằm chống xói mòn đất, cung cấp phân xanh và củi cho các hộ dân
[14].
Ở New Zealand các trang trại có thể sử dụng tổng hợp dải rừng phòng hộ,
cây che bóng mát, cây lấy gỗ trồng trên cánh đồng cỏ rộng lớn, hoặc các vạt đất
được dành cho trồng cây, trồng rừng dày đặc.
Ở những vùng ôn đới ẩm ướt của Australia các giống Bạch đàn và Pinus
radiata (chiếm phạm vi hẹp hơn) là những loài cây gỗ ưu thế được trồng để lấy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
4
5
cây/ha.Tổng trữ lượng cây phân tán là 10,3 triệu m
3
hay 2,36 m
3
/ha. Khi so
sánh với trữ lượng gỗ rừng tự nhiên của Bang là 1,41 triệu m
3
, thì trữ lượng gỗ
rừng trồng cây phân tán cao hơn gấp 7 lần. Gồm có 9 loại cây trồng phổ biến,
chiếm 80% tổng trữ lượng.
Tỷ lệ cây trồng nhiều nhất là Lâm nghiệp trang trại 41% (diện tích tối đa
là 0,1 ha), sau đó đến rừng làng (23%), trồng cây bên đường (13%), rừng trồng
(11%) diện tích cây che phủ lớn hơn 0,1 ha, trồng cây dọc kênh mương (9%),
trồng cây xung quanh bờ ao và các loại còn lại (3%).
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1. Về nguồn gốc của trồng cây lâm nghiệp phân tán
Trước năm 1959, ở Việt Nam chưa có phong trào trồng cây phân tán, các
hộ dân ở đồng bằng cũng như miền núi chỉ có tập quán trồng các cây ăn
quả thân gỗ trong các vườn hộ gia đình như Nhãn, Vải, Cam, Quýt, Mít, Hồng
xiêm, Sầu riêng, Măng cụt.v.v chủ yếu phục vụ cho gia đình và cung cấp nhỏ
lẻ cho thị trường. Từ năm 1959, nhân ngày Tết âm lịch, Hồ Chủ tịch đã phát
động phong trào trồng cây và từ đó Người thường xuyên theo dõi, nhắc nhở
động viên phong trào. Tết trồng cây dần trở thành một phong tục tốt đẹp của
nhân dân ta. Nhìn lại kết quả trồng cây các năm ta thấy năm 1955 - 1956 chỉ có
3 tỉnh tham gia phong trào trồng cây là Thanh Hoá, Nghệ An, Phú Thọ đã
Trồng cây phân tán là một hoạt động mang tính chất lâm nghiệp phong
trào. Hưởng ứng Tết trồng cây hàng năm, ở khắp mọi miềm, tuỳ nơi, tuỳ lúc các
cấp chính quyền, đoàn thể, các ngành, các giới, các lực lượng bộ đội, học
sinh đã tổ chức hàng loạt các hoạt động trồng cây gây rừng được phát động
dưới nhiều hình thức phong trào như: Phong trào trồng cây phân tán, phong trào
xanh làng đẹp phố, phong trào xây dựng đồi cây, rừng cây Bác Hồ. Hoạt động
của các phong trào này có quy mô hẹp, không đồng thời, phân tán rải rác ở
nhiều nơi và gắn chặt những người tham gia thực hiện. Cây rừng và rừng được
tạo ra bằng công việc gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, bảo vệ từng
địa bàn cụ thể với cả chuỗi thời gian lâu dài hơn. Do vậy ngoài việc tạo dựng
được ý thức, lòng say mê còn giúp họ, đòi hỏi họ tiếp tục nắm bắt, nâng cao và
thực hiện các kỹ thuật và công nghệ gieo trồng, xây dựng, phát triển và bảo vệ
rừng [7].
1.2.3. Về cơ chế chính sách
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
7 Cơ chế chính sách cho trồng cây phân tán trong thời gian qua chưa được
rõ ràng và còn nổi lên nhiều bật cập. Sau năm 1990 do nhiều nguyên nhân khác
nhau, phong trào trồng cây phân tán có phần lắng xuống, các cấp các ngành ít
quan tâm, một số cơ sở, tập thể và cá nhân trồng cây tốt chỉ là do tự phát,
việc tổ chức chỉ đạo không chặt chẽ. Ngay cả trong chương trình 327 và sau
này là dự án 661 đều không có nội dung đầu tư cho mảng trồng cây phân tán.
Do vậy thiếu cơ chế chính sách để khuyến khích và tạo động lực cho phong
trào trồng cây phân tán phát triển.
Đầu tư cho trồng cây phân tán từ lâu nay không thành một chủ trương
thống nhất, mà do từng địa phương, từng tổ chức và cá nhân, tập thể tự quyết
- Về chính sách đầu tư: Từ lâu nay việc đầu tư cho trồng cây phân tán
không thành một chủ trương thống nhất, mà do từng địa phương, từng tổ
chức và các cá nhân tập thể tự quyết định.
+ Đầu tư từ nguồn ngân sách: Tuy không thành chủ trương nhưng một số
tỉnh hàng năm vẫn trích một khoản ngân sách địa phương để dành cho trồng
cây phân tán. Ví dụ Nghệ An dành mỗi năm 120 triệu đồng, Đồng Nai dành mỗi
năm 450 triệu, Hải Dương dành mỗi năm 400 triệu và An Giang mỗi năm dành
gần 1 tỷ đồng cho trồng cây phân tán.
+ Đầu tư từ nguồn vốn tự có: Nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã bỏ vốn tự
có hàng tỷ đồng để trồng cây phân tán như Nông trường Sông Hậu, Nông
truờng Cần Thơ; Nông trường Cờ đỏ và Nông trường Hậu Giang. Qua điều tra
cho thấy các đơn vị tự bỏ vốn để trồng đều đem lại hiệu quả cao.
+ Cá nhân bỏ vốn: các đối tượng này chủ yếu là trồng trong vườn hộ,
trên đất được giao. Mô hình này hầu hết các tỉnh đều có và cũng
t
hu được
hiệu quả kinh tế rõ rệt. Như mô hình trồng Quế ở Yên Bái và Quảng Nam;
trồng Bời lời ở Gia Lai và Kon Tum; mô hình trồng Dó trầm ở Tiên Phước
tỉnh Quảng Nam và ở Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh; mô hình trồng Hòe ở Nam
Định và Thái Bình.
+ Nguồn tài trợ của các dự án trong và ngoài nước
- Về chính sách hưởng lợi: hiện nay nhà nước cũng chưa có những chính
sách nhất quán cho người trồng cây phân tán, do vậy chưa khuyến khích được
mọi thành phần tham gia trồng cây, đây cũng là vấn đề tồn tại cần được rút
kinh
nghiệm cho chỉ đạo trong thời gian tới. Tuy nhiên, một số địa phương, tổ chức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
vùng đồng bằng và ven biển [10]. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng để
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
10
phát triển trồng cây lâm nghiệp phân tán trong thời gian tiếp theo. Do vậy việc
nhìn nhận và đánh giá thực trạng của trồng cây lâm nghiệp phân tán, đặc biệt là
về cơ chế chính sách là việc làm hết sức cần thiết để đề xuất giải pháp phát triển
có hiệu quả chương trình trong thời gian tới.
1.2.4. Về cơ cấu cây trồng và chất lượng giống:
Trồng cây lâm nghiệp phân tán là hình thức phát triển lâm nghiệp đa
dạng hoá về chủng loại cây trồng, với nhiều loại cây trồng phong phú khác nhau.
Những loài cây được lựa chọn trồng cây phân tán và Tết trồng cây có
khoảng 40 loài, phổ biến là các loài cây như: Phi lao, Bạch đàn, Xà cừ, Sấu,
Xoan ta, Lát hoa, Bạch đàn, Keo, Sao đen, và các loài cây ăn quả như Cam,
Quýt, Mít, Dừa, Nhãn, Vải thiều, Xoài và Na được trồng quanh nhà và quanh
vườn [4].
Cũng theo tổng hợp của Bộ NN & PTNT [2006] cho thấy tập đoàn
cây trồng phân tán khá phong phú và đa dạng, gồm khoảng 30-40 loài cây,
trong đó có các loài phổ biến như: Xà cừ, Bạch đàn, Keo các loại, Phi lao, Gạo,
Lát, Sao đen và Dầu rái. Hầu hết các loài cây trồng đều do dân tự lựa chọn từ
các địa phương nên phù hợp với điều kiện sinh thái và phù hợp với sở thích của
người dân. Tuy nhiên do tổ thành loài cây quá đa dạng nên khả năng để tạo
thành hàng hóa còn rất hạn chế, chỉ mới dừng lại chủ yếu là phục vụ nhu cầu
gỗ củi tại chỗ là chính.
Về nguồn gốc giống hầu hết các loài cây trồng phân tán đều được lấy từ
các cơ quan nghiên cứu giống và các cơ sở cung ứng, dịch vụ giống cây nông
lâm nghiệp lớn ở Trung ương và địa phương. Tuy nhiên qua điều tra thực tế còn
ề cần được quan tâm trong thời gian tới,
đặc biệt là cần tập trung vào việc lựa chọn những giống cây trồng có năng suất
và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hoá của thị trường.
1.2.5. Về các loại mô hình trồng cây phân tán
Khi điều tra để xây dựng mô hình trồng cây phân tán cung cấp gỗ củi ở
xã Bồ Đề, huyện Lục Nam, tỉnh Hà Nam, Đặng Quang Hưng (2006) [6]
đã thống kê được 04 loại mô hình chính: Mô hình trồng keo tai tượng (do tổ
chức SIDA tài trợ); mô hình trồng bạch đàn Camal dọc đường liên thôn của xã;
mô hình trồng Xoan ta dọc bờ kênh của xã; mô hình trồng cây phân tán trong các
vườn hộ ( do các hộ tự trồng)
Trên cơ sở đó tác giả đã tiến hành xây dựng 04 mô hình trồng cây phân
tán cung cấp gỗ củi có năng suất cao: Mô hình trồng cây phân tán dọc đường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
12
liên thôn, liên xã; mô hình trồng cây phân tán trên bờ vùng, bờ kênh, bờ thửa;
mô hình trồng cây phân tán trong trường học; mô hình trồng cây phân tán trong
trang trại nông nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - tnu.edu.vn/
13
1.2.6. Về kết quả đạt được từ trồng cây phân tán
Trồng cây phân tán từ khi được hình thành, trải qua quá trình phát triển đã
14
trên cho thấy trồng cây lâm nghiệp phân tán có nguồn gốc xuất phát từ rất lâu
đời, ở Việt Nam được hình thành từ lễ phát động Tết trồng cây của Bác Hồ
(năm 1959) và đã trở thành một phong trào, một truyền thống tốt đẹp của nhân
dân ta. Trồng cây phân tán trong những năm qua không chỉ mang lại lợi ích về
mặt kinh tế mà còn mang lại lợi ích vô cùng to lớn về mặt môi trường, sinh
thái, tạo việc làm và cải thiện đời sống cho người dân nông thôn.
Mặc dù có nhiều nghiên cứu về trồng cây phân tán như trình bày ở trên đã
đi vào phân tích đánh thực trạng trồng cây phân tán, một số tác giả cũng đã đề
cập đến tổ thành loài cây trồng phân tán, xây dựng các mô hình trồng cây phân
tán cung cấp gỗ củi. Những nghiên cứu này đã góp phần làm rõ những vấn đề
liên quan, xây dựng được phương pháp luận và cách tiếp cận trong việc
phân tích đánh giá hiện trạng. Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn chỉ mang
tính thống kê những kết quả đã đạt được và bước đầu phân tích những thực
trạng, hay đi vào xây dựng mô hình trồng cây phân tán mà chưa đi sâu vào
phân tích, đánh giá để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu và những tồn tại
của các mô hình trồng cây phân tán.
Với Bắc Giang, một tỉnh có lợi thế và tiềm năng rất lớn về phát triển
sản xuất lâm nghiệp nói chung và trồng cây lâm nghiệp phân tán nói riêng. Mặc
dù trồng cây phân tán đã được phát động hàng năm vào dịp tết trồng cây, nhưng
việc nghiên cứu đánh giá thực trạng lại rất hạn chế, chưa có nghiên cứu hay một
đánh giá cụ thể nào nhằm tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của trồng cây phân tán để
phát triển phong trào có hiệu quả góp phần cung cấp gỗ củi phục vụ cho nhu cầu
tại địa phương. Đề tài Nghiên cứu hiện trạng và giải pháp phát triển trồng cây
lâm nghiệp phân tán ở tỉnh Bắc Giang là hết sức cần thiết nhằm rút kinh
nghiệm và bài học để duy trì và phát triển chương trình này ngày càng hiệu quả
hơn.
1.3. Một số thông tin cơ bản về khu vực nghiên cứu
1.3.1. Điều kiện tự
- Vùng núi chiếm 72% diện tích tự nhiên gồm có 7 huyện là Sơn Động,
Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng và Lạng Giang, trong đó
Sơn Động là huyện vùng cao. Đặc điểm chính của vùng này là địa hình chia
cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn. Nhiều nơi đất còn tốt, vùng đồi
núi thấp có thể trồng cây ăn quả. Độ cao trung bình từ 300 - 400 m, độ dốc
trung bình từ 20 - 30
0
. Đất lâm nghiệp chủ yếu phân bố ở các huyện miền núi.
- Vùng trung du chiếm 28% diện tích tự nhiên, gồm có 2 huyện va thành
phố là Hiệp Hoà, Việt Yên và thành phố Bắc Giang. Địa hình ít bị chia cắt, chủ
yếu là gò đồi thấp xen lẫn diện tích đồng ruộng tương đối bằng và rộng. Độ cao
trung bình từ 100 - 150 m, độ dốc từ 10 - 15
0
.
* Khí hậu thuỷ
văn- Khí hậu:
Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc
Việt Nam, một năm có 4 mùa rõ rệt. Nhiệt độ bình quân năm khoảng 22 - 24
0
C,
tháng giêng có nhiệt độ thấp nhất khoảng 17
0
C, tháng nóng nhất là tháng 7 có