Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giả pháp phát triển NLKH tại xã minh tiến, huyện hữu lũng, tỉnh lạng sơn - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam với tổng diện tích đất tự nhiên là 33.091.039 ha, có diện tích
đồi núi chiếm khoảng ¾ tổng diện tích lãnh thổ. Việt Nam nằm trong vùng
nhiệt đới gió mùa, với điều kiện khí hậu thuận lợi làm cho thảm thực vật rừng
ở Việt Nam vô cùng phong phú về chủng loại và đa dạng sinh học cao, đặc
biệt đối với cây trồng, vật nuôi có điều kiện để sinh trưởng và phát triển tốt.
Đây có thể coi là một tiềm năng lớn cho phát triển nông - lâm nghiệp, góp
phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Bên cạnh những thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi, cũng có nhiều khó
khăn như: Tài nguyên rừng bị suy thoái, thiên tai, dịch bệnh phát sinh nhanh
và nhiều loại. Trình độ khoa học kỹ thuật của người lao động còn thấp, chủ
yếu là lao động thủ công, đặc biệt là người dân miền núi, trung du, dẫn đến
khả năng sử dụng đất chưa hợp lý, nhất là canh tác trên đất dốc. Nhiều nơi
người dân chủ yếu sản xuất theo phương thức du canh, du cư, hay canh tác
độc canh làm cho nhiều nguồn tài nguyên đất bị suy thoái nghiêm trọng, dẫn
đến các hiện tượng xói mòn, rửa trôi… Nhiều diện tích đất lâm nghiệp và đất
canh tác nông nghiệp bị thoái hoá, làm cho giảm độ phì dẫn đến năng suất cây
trồng ngày càng suy giảm.
Đứng trước thực trạng đó, trong những năm qua, nhà nước đã hoàn
thành công tác quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia bước đầu đã áp dụng
được trên địa bàn nông thôn miền núi và đưa ra được một số chủ trương,
chính sách như: Chính sách giao đất giao rừng, đầu tư vốn, kỹ thuật giúp phát
triển nông - lâm nghiệp thông qua các chương trình dự án của nhà nước.
Vấn đề đặt ra là cần phải giải quyết vấn đề phủ xanh đất trống đồi núi
trọc bằng các phương pháp canh tác, đưa vào đó là các loại cây trồng phù hợp
đem lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện đời sống nhân dân, tạo công ăn việc
làm, đảm bảo môi trường sinh thái bền vững. Do đó, chúng ta phải đi sâu vào
xem xét hiện trạng sử dụng đất đặc biệt là đất đồi núi của bà con nông dân

1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu và đánh giá của các hệ thống NLKH ở xã Minh Tiến,
huyện Hữu Lũng để tìm ra những tiềm năng và hạn chế, từ đó đề ra những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển một số hệ thống NLKH điển
hình có hiệu quả về kinh tế và môi trường tại xã Minh Tiến, huyện Hữu Lũng,
tỉnh Lạng Sơn.
2
3
1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá được hiện trạng phát triển các hệ thống NLKH trên địa bàn
xã Minh Tiến, huyện Hữu Lũng.
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế, môi trường của hệ thống NLKH điển
hình ở xã Minh Tiến, huyện Hữu Lũng.
- Đề xuất được giải pháp chủ yếu nhằm phổ biến và phát triển những hệ
thống NLKH mà người dân lựa chọn.
1.4. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp tôi củng cố được những kiến thức
đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng lại những lý thuyết đã học trong nhà
trường theo đúng phương châm học đi đôi với hành. Học hỏi, chia sẻ kinh
nghiệm từ người dân, nắm bắt được phương pháp đánh giá nông thôn có sự
tham gia của người dân (PRA).
* Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra hiệu quả mà những hệ thống NLKH đã
chỉ ra những tiềm năng, hạn chế và mong muốn của người dân trong việc xây
dựng hệ thống NLKH. Qua đó làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp
nhằm phát triển một số hệ thống NLKH trên địa bàn xã Minh Tiến, huyện
Hữu Lũng. Từ đó phần nào giúp cho các cấp chính quyền địa phương trong
việc hoạch định các chính sách hỗ trợ phát triển những hệ thống NLKH có
hiệu quả cao.

mà trong đó các thành phần gồm cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp
dài ngày được đưa vào kinh doanh trong các hộ gia đình.
4
5
Vào cuối thập niên 70 và các năm đầu thập niên 80 sự suy thoái tài
nguyên môi trường toàn cầu nhất là nạn phá rừng đã trở thành mối quan tâm
lo lắng lớn của toàn xã hội. Sự phát triển của nông nghiệp nương rẫy đi kèm
với áp lực dân số, sự phát triển nông nghiệp thâm canh hoá học, độc canh trên
quy mô lớn và khai thác lâm sản là những nguyên nhân chủ yếu gây ra sự mất
rừng, suy thoái đất đai và giảm tính đa dạng sinh học.
Theo ước tính của (FAO, 1994) [8], du canh là nguyên nhân tạo ra hơn
70% của tổng diện tích rừng nhiệt đới bị mất ở Châu Phi, diện tích đất rừng
bỏ hoá sau nương rẫy chiếm 26,5% diện tích rừng khép tán còn lại ở Châu Phi
khoảng 16% ở Châu Mỹ La Tinh và 22,7% ở khu vực nhiệt đới của Châu Á.
Để giảm thiểu sự suy thoái tài nguyên môi trường toàn cầu nạn phá
rừng đốt nương làm rẫy, gây mất cân bằng sinh thái, đã có rất nhiều nghiên
cứu về phương thức canh tác khác nhau nhưng cùng chung mục đích làm
giảm suy thoái đất, bảo vệ môi trường tăng hiệu quả kinh tế đảm bảo tính chất
bền vững. Trong đó phải kể đến những phương thức canh tác là tiền đề cho
những hệ thống NLKH sau này được hình thành. Phương thức canh tác cây
thân gỗ cùng với cây công nghiệp trên cùng một diện tích là tập quán sản xuất
lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới.
Theo King (1987) [18], cho đến thời Trung cổ ở Châu Âu, vẫn tồn tại
một tập quán phổ biết là "chặt và đốt" tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây
nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch với cây nông nghiệp. Hệ thống canh tác
này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ XIX và một số vùng của Đức
đến tận những năm 1920.
Vào cuối thế kỷ XIX hệ thống Taungya bắt đầu phát triển rộng rãi ở
Hyanmar dưới sự bảo vệ của thực dân Anh trong các đồn điền trồng gỗ tếch
(Tectona Grandis). Người lao động được phép trồng cây lương thực giữa các

nước trên thế giới. Với hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng
bào dân tộc ít người.
Hệ thống sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên khắp cả
nước, làng truyền thống của người Việt cũng có thể xem là một hệ thống
NLKH bản địa với nhiều nét đặc trưng về cấu trúc và các dòng chu chuyển
vật chất và năng lượng (Nguyễn Văn Sở và cs, 2002) [13].
6
7
Từ thập niên 60 song song với phong trào thi đua sản xuất hệ sinh thái
Vườn - Ao - Chuồng (V.A.C) được nhân dân các tỉnh miền Bắc phát triển
mạnh mẽ và lan rộng khắp cả nước với nhiều biến thế khác nhau thích hợp
cho từng vùng sinh thái cụ thể. Sau đó là các hệ thống Rừng - Vườn - Ao -
Chuồng (R.V.A.C) và vườn đồi được phát triển mạnh ở các khu vực dân cư
miền núi. Các dự án được tài trợ của các tổ chức Quốc tế cũng giới thiệu các
mô hình canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức SALT (Sajjapongse,
1982) [23].
Trong 2 thập niên gần đây phát triển nông thôn miền núi theo phương
thức NLKH ở các khu vực tiềm năng là một chủ trương đúng đắn của Đảng
và Nhà nước, những hệ thống NLKH đang ngày càng phát triển và nó thực sự
mở ra hướng đi mới trong nền sản xuất NLN nước nhà. Đặc biệt từ sau khi có
các nghị định của Thủ tướng chính phủ như. Nghị định 327/CP tháng 9 năm
1992 về chủ trương sử dụng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển và mặt
nước (Nghị định 327, 1992) [12].
Nghị định 02/CP ban hành ngày 15/07/1994 [11] quy định về việc giao
đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm
nghiệp đã thúc đẩy hoạt động NLKH phát triển rộng rãi thêm một bước nữa
hệ thống NLKH đang tồn tại ở Việt Nam như: R.V.A.C, V.Rg, V.A.C,
R.V.C .Rg Đang ngày càng phát huy hiệu quả bảo vệ đất nước, tăng năng
suất cây trồng góp phần ổn định cuộc sống của người dân Trung du, miền núi,
nhiều hộ gia đình đã vươn lên giàu có nhờ thực hiện NLKH. Theo Vũ Biệt

Mittelman (1997) [20] đã có một số công trình tổng quan rất tỉ mỉ về
hiện trạng NLKH và lâm nghiệp xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là các nhân tố
chính sách ảnh hưởng đến sự phát triển NLKH.
Các chương trình nghiên cứu để phát triển các hệ thống NLKH được thực
hiện trên quan điểm dựa vào người dân có người dân tham gia, coi trọng kiến
thức bản địa của người dân địa phương, từ lẽ đó ở Việt Nam hiện nay các hệ
thống NLKH đã trở nên quen thuộc hơn với người dân và đang ngày càng phát
huy hiệu quả bảo vệ đất, nước, môi trường sinh thái, tăng năng suất cây trồng
8
9
góp phần ổn định cuộc sống nâng cao hiệu quả kinh tế người dân tham gia.
2.3. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.3.1. Điều kiện tự nhiên xã Minh Tiến
2.3.1.1. Vị trí địa lý
Xã Minh Tiến nằm ở phía Tây huyện Hữu Lũng, cách thị trấn Hữu
Lũng (trung tâm huyện) khoảng 10 km, có tổng diện tích tự nhiên 2.471,70 ha
và dân số là 3.201 người, thuộc 726 hộ gia đình nông thôn.
Minh Tiến là một xã miền núi:
- Có phía Bắc giáp với xã Tân Lập, Yên Vượng, Yên Bình, Hoà Bình
- Phía Đông giáp với xã Nhật Tiến
- Phía Nam giáp xã Đô Lương
- Phía Tây giáp xã Tân Lập, Thanh Sơn và Vân Nham.
2.3.1.2. Đặc điểm địa hình
Minh Tiến là một xã miền núi có địa hình khá phức tạp trong đó phần
lớn diện tích là đồi núi. Hướng núi chủ yếu chạy từ Tây Bắc xuống Đông
Nam xen kẽ với các dòng suối và khe nước nhỏ. Khu đông bắc và khu tây bắc
là hai khu núi đá vôi. Khu phía Nam là khu đồi thấp. Địa hình chia cắt thành
các kiểu và kiểu phụ sau:
Địa hình núi đá vôi chiếm 61.5% diện tích tự nhiên địa hình địa thế phức
tạp tạo bởi một số đỉnh cao hiểm trở có độ cao trung bình từ 250 - 300m.

Chế độ gió: Chịu ảnh hưởng của hai luồng gió thịnh hành là gió mùa
Đông Bắc bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thời tiết khô hanh. Gió mùa
Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 thời tiết nóng ẩm thường có mưa kéo dài.
Chế độ thuỷ văn: Có con sông Thái chạy dọc địa bàn xã, ngoài ra con
có một con suối Hét nhỏ hơn nhưng nó cũng góp phần đáng kể vào việc tưới
tiêu cho hệ thống canh tác. Đây là hai nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất
của nhân dân trong xã.
2.3.1.4. Tình hình sử dụng và cơ cấu đất đai
Thực hiện nghị định 02/CP ngày 15/01/1994, nghị định 64/CP ngày
27/09/1993 về giao đất NLN cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu
dài và phương hướng phát triển kinh tế của huyện là đưa cây trồng vật nuôi có
hiệu quả và năng suất cao vào sản xuất, áp dụng KHKT tiên tiến vào thực tế
10
11
trong những năm qua hiệu quả từ đất đem lại đã góp phần không nhỏ vào việc
phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
2.3.1.5. Biến động đất đai
Trong năm 2012, tình hình đất đai trong xã có một số biến động so với
năm 2011 và 2010 được thể hiện qua bảng sau.
Bảng 2.1: Tình hình biến động diện tích của xã Minh Tiến theo mục đích
sử dụng qua các năm 2012, 2011 và 2010
STT Mục đích sử dụng đất Mã
Diện tích
năm 2012
So với năm 2011 So với năm 2010
Diện tích
năm
2011
Tăng (-)
giảm (-)

2.6 Đất phi nông nghiệp khác PNK 5.21 5.21 0 5.21 0
3 Đất chưa sử dụng CSD 1223.18 1223.18 0 1223.18 0
3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 41.31 41.31 0 41.31 0
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 0 0 0 0 0
3.3 Núi đá không có rừng cây NCS 1181.87 1181.87 0 1181.87 0
(Nguồn: Biến động diện tích đất theo mục chính sử dụng của xã 2012)
Qua bảng 2.1 ta thấy: Xã Minh Tiến là một xã với tổng diện tích là
2471.70 ha thì đất nông nghiệp là 1065.70 chiếm 43,09%, đất lâm nghiệp là
11
12
391.69 ha chiếm 15,84% và đất chưa sử dụng là 1223.18 ha chiếm 49.48%
tổng diện tích.
2.3.2. Điều kiện về kinh tế xã hội
2.3.2.1. Tình hình về dân số
Theo số liệu điều tra dân số đến tháng 12 năm 2011 xã Minh Tiến,
huyện Hữu Lũng có trên 3000 người, gồm nhiều các dân tộc anh em chung
sống: Tày, Nùng, Hoa Tỷ lệ các dân tộc trong tổng số của huyện được thể
hiện ở bảng sau:
Bảng 2.2: Dân số và cơ cấu dân tộc trong huyện
STT
Dân tộc Nhân khẩu (người) Tỷ lệ %
Tổng dân số 3.400 100
1 Kinh 1.230 36,18
2 Tày 530 15,59
3 Nùng 1.100 32,35
4 Hoa 420 12,35
5 Các dân tộc khác 120 3,53
(Nguồn: báo cáo chính trị của ban chấp hành đảng bộ xã Minh Tiến,
huyện Hữu Lũng 2011)
Qua bảng 2.2 ta thấy dân tộc Kinh chiếm đa số với 1.230 người với

Sản xuất nông nghiệp được chia thành nhiều cánh đồng nhỏ lẻ. Diện
tích sản xuất nông nghiệp từ 40 - 60 ha (theo vụ)
Diện tích đất chuyên màu đã hình thành ở một số cánh đồng cao, ven
làng với diện tích từ 20 - 30 ha (theo vụ) với cây trồng chủ yếu là thuốc lá,
dưa hấu, dưa bở
Tại xã còn áp dụng các phương thức luân canh lúa xuân, cây màu hè
thu, hoặc cây trồng vụ đông với diện tích khoảng 40 ha, với cây trồng chủ yếu
là lúa, ngô, khoai, thuốc lá, đậu tương
Cây trồng chính của xã chủ yếu là cây lúa, ngô, ngoài ra cây công
nghiệp còn có cây thuốc lá đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh
tế và cải thiện đời sống của người dân.
Nhìn chung các phương thức sản xuất theo hình thức luân canh trong
xã trong các năm qua đã thực hiện >30% diện tích đất nông nghiệp, các sản
phẩm thu được có năng suất cao, và được tiêu thụ dễ dàng mang lại nguồn thu
nhập lớn cho người dân địa phương, góp phần cải thiện đời sống kinh tế hộ
gia đình và tăng cường kinh tế trong toàn xã.
13
14

Về chăn nuôi
Trong xã đang chú trọng phát triển chăn nuôi các đàn gia súc, gia cầm
với tổng đàn lợn là 1.056 con, đàn 14.500 con, trâu bò cũng được chú trọng
với tổng số con là 760 con, ngoài ra xã còn phát triển chăn nuôi một số con
vật khác có giá trị như: Thỏ, ếch, ong Thuỷ sản được nuôi trồng chủ yếu
trong khu dân cư với tông diện tích là 13 ha chủ yếu là ao, hồ, đầm, cung cấp
một lượng cá thịt lớn cho toàn xã. Ngoài ra các công tác tiêm phòng dịch
bệnh cho đàn gia súc, gia cầm đã và đang được chú trọng, không để xảy ra
các trận dịch lớn trên địa bàn.

Về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

• Thông tin liên lạc: Xã có một bưu điện, có mạng lưới internet, có ba trạm phát
sóng gồm viettel, mobifone, vinafone. Có hệ thống truyền thanh tới toàn bộ
các thôn trong xã.
• Hệ thống giao thông: Do đặc điểm địa hình là một xã miền núi, địa bàn rộng,
dân cư ở thưa lên việc phất triển giao thông đi lại của nhân dân gặp nhiều khó
khăn. Một số tuyến đã được bê tông hoá, số còn lại đều là đường đá và đường
đất, một số tuyến còn lại là lối mòn
• Mạng lưới thuỷ lợi: Hệ thống thuỷ lợi đã được hình thành ở xã được tưới tiêu
bởi 3 trạm bơm điện, 5 hồ đập tự chảy, và 6 đập dâng ngăn suối để giữ nước
đảm bảo chủ động nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp.
• Y tế: Xã có một trạm xá, có một vườn thuốc nam khám chữa bệnh cho dân,
cùng với đội ngũ y tế của xã được đào tạo khá bài bản có thể đáp ứng và phục
vụ tốt nhu cầu khám chữa bệnh thông thường.
• Giáo dục: Xã có một trường mầm non, một trường tiểu học và một trường
trung học phổ thông, phục vụ tốt nhu cầu học tập của học sinh trong toàn xã.
• Thể thao: Ở xã chưa có sân thể thao, và ở các thôn bản cũng chưa có sân thể
thao.
* Nhận xét chung: Xã Minh Tiến cách trung tâm huyện 10km, về điều
kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng có nhiều thuận lợi hơn các xã khác trong
huyện. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi cho Minh Tiến
phát triển các cây trồng vật nuôi phong phú. Do gần trung tâm huyện lên
việc lắm bắt các thông tin và khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất nông
lâm nghiệp và chăn nuôi. Đây cũng là tiền đề để xã Minh Tiến phát triển mô
hình NLKH tiên tiến trong toàn xã. Song với những mặt thuận lợi còn có
những khó khăn mà xã Minh Tiến gặp phải như: cơ sở hạ tầng con kém,
15
16
đường đất khó đi, hay các trang thiết bị con thiếu, nhiều xe vận tải lớn tham
gia giao thông trên địa bàn xã Gây trở ngại cho công tác khuyến nông-
khuyến lâm đến các thôn trong xã. Việc khai thác tài nguyên rừng bữa bãi đã

nghiên cứu. (Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu thuỷ văn, hiện trạng sử
dụng đất ; Kinh tế - xã hội: Dân số - dân tộc, Cơ sở hạ tầng )
- Nghiên cứu hiện trạng những hệ thống NLKH trên địa bàn nghiên
cứu.(Các dạng hệ thống; Lựa chọn hệ thống có sự tham gia; Sơ lược đánh giá
hiệu quả kinh tế )
- Xác định những tiềm năng và hạn chế trong việc phát triển những hệ
thống NLKH hiện có trên địa bàn.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển những hệ thống NLKH
17
18
tại xã Minh Tiến.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành thu nhập số liệu và giải quyết những vấn đề trong nội
dung đề tài đưa ra, tôi áp dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp kế thừa những số liệu (số liệu thứ cấp) liên quan đến
khoá luận tốt nghiệp như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sử
dụng đất đai, các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tế về sử dụng đất và tài
liệu NLKH đã được công bố.
Để tìm hiểu thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã
Minh Tiến. Tôi đến liên hệ với cán bộ chuyên trách về mảng NLKH tại phòng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN & PTNT) xã Minh Tiến, kế thừa số
liệu từ phòng NN & PTNT, phòng địa chính và thống kê của xã Minh Tiến.
- Phương pháp PRA (điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của
người dân) trong đó tôi sử dụng các công cụ như: phỏng vấn định hướng,
phỏng vấn bán định hướng (tạo điều kiện tiếp cận với người phỏng vấn để
không những thu được thông tin cần thiết mà còn tạo ra sự đồng cảm khuyến
khích sự thảo luận, trao đổi thông tin hai chiều phỏng vấn định hướng và
phỏng vấn bán định hướng).
Là cơ sở giúp tôi xây dựng bộ câu hỏi kín kết hợp với những câu hỏi
mở phỏng vấn các hộ gia đình đã tham gia xây dựng hệ thống NLKH về diện

đánh giá xác định giải pháp phát triển những hệ thống NLKH trên địa bàn.

19
20
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Hiện trạng các hệ thống NLKH
4.1.1. Phân loại các hệ thống NLKH tại địa bàn nghiên cứu
Qua quá trình điều tra 3 thôn thuộc xã Minh Tiến là Ngòi Ngang, Bến Cát
và Nhị Liên tôi nhận thấy đặc điểm về điều kiện tự nhiên của 3 thôn tương ứng
với 3 vùng cao, trung bình và thấp (so với mặt bằng trung tâm xã Minh Tiến)
Trong đó vùng cao (thôn Ngòi Ngang)
Vùng trung bình (thôn Bến Cát)
Vùng thấp (thôn Nhị Liên)
Do đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội mà ở mỗi vùng có sự
khác nhau về những dạng hệ thống NLKH được nông dân áp dụng được thể
hiện qua bảng 4.1 sau:
Bảng 4.1: Các dạng hệ thống NLKH hiện có tại khu vực nghiên cứu
Khu vực
Dạng hệ
thống NLKH
Số hộ
tham
gia
Cơ cấu vùng trồng vật nuôi
Tỷ lệ
(%)
Thôn Ngòi
Ngang
1. R.V.Rg

3
1
2
2
(R) Rừng: Keo, mỡ, bạch đàn, quế, trám
(V) Vườn: Cây ăn quả (vải, nhãn)
(A) Ao cá: Cá trắm, mè, trôi, chép
(C) Chăn nuôi: Trâu, bò, lợn
(Rg) Ruộng lúa
20
30
10
20
20
Thôn Nhị
Liên
1. R.V.C.Rg
2. R.A.C.Rg
3.R.V.A.C.Rg
4. V.Rg
5. V.C.Rg
6. V.A.C
3
1
1
2
2
1
(R) Rừng: Keo, mỡ, bạch đàn, quế, sấu
(V) Vườn: Cây ăn quả (vải, nhãn)

bát úp, diện tích đất có hạn, đất lâm nghiệp ít, những hộ tham gia vào hệ
thống R.V.C.Rg tuy đông nhưng trong hệ thống diện tích đất rừng ít, không
phát huy được hiệu quả kinh tế, nên đóng góp thu nhập thấp.
4.1.2. Hiện trạng thu chi của những hệ thống NLKH trong 3 vùng
Bảng 4.2: Hiện trạng thu chi của những hệ thống
Đơn vị tính: 1000 đồng
Thôn Hệ thống
NLKH
Số hộ
tham
gia
Diện tích
hệ thống
(m
2
)
Chi
phí
Thu
nhập
Thu - chi
(chưa trừ
thuế)
LNCTT
bình
quân/hộ
LNCTT bình
quân/ha
1 2 3 4 5 6 7 = 6-5 8 = 7/3 9=7/4*10000
Thôn

121000
101000
34.400
140.710
65.850
318.990
60.150
43.500
34.400
70.355
65.850
79.747
60.150
43.500
22.610
31.843
36.963
32.729
23.531
15.496
Thôn
Bến
Cát
1. R.V.Rg
2 R.V.A.C
3. R.V.A.Rg
4. V.A.Rg
5. R.C.Rg
2
3

17.952
9.988
39.112
ThôN
Nhị
Liên
1. R.V.C.Rg
2. R.A.C.Rg
3.R.V.A.C.Rg
4. V.Rg
5. V.C.Rg
6. V.A.C
3
1
1
2
2
1
80293
7675
9546
30465
20149
18585
307020
64230
102100
109100
329800
121150

Chính từ những điểm khác nhau này làm tiền đề cho ta lựa chọn có sự
tham gia những hệ thống NLKH ưu tiên để phân tích, đánh giá, nghiên cứu
sâu hơn về hiện trạng để rồi từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế, xã hội và môi trường của những hệ thống này.
4.1.3. Kết quả phân tích lựa chọn NLKH các dạng hệ thống
Để nghiên cứu sâu hơn vào những hệ thống nghiên cứu trong địa bàn
nghiên cứu. Tôi tiến hành họp nhóm cùng người dân, thảo luận, bàn bạc đưa
ra các tiêu chí lựa chọn các hệ thống NLKH ưu tiên. Xếp hạng ưu tiên và lựa
chọn các dạng hệ thống NLKH đưa tiến hành bằng cách cho điểm các hệ
thống NLKH dựa theo các tiêu chí người dân đã lựa chọn và đưa ra theo
thang điểm 10 cho từng tiêu chí. Kết quả lựa chọn đánh giá cho điểm các hệ
thống NLKH của người dân được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.3: Phân tích cho điểm các dạng hệ thống NLKH có sự tham gia
tại khu vực thôn Ngòi Ngang
Dạng hệ thống
Tiêu chí
V.Rg R.V.C.Rg R.V.A.Rg R.V.A.C.Rg R.V.C R.V.A
Tận dụng đất đai tốt 6 9 8 10 6 7
Thu nhập ổn định 7 10 8 9 8 7
Mức độ đầu tư thấp 9 8 7 7 8 9
Ít rủi ro 9 9 7 8 9 8
Hiệu quả kinh tế cao 5 8 8 8 7 10
Kỹ thuật đơn giản 10 9 8 7 9 8
Bảo vệ đất (chống xói
mòn, cải tạo đất)
6 9 9 10 7 8
Tổng điểm 53 62 55 59 54 57
Thứ tự ưu tiên 6 1 4 2 5 3
(Số liệu điều tra)
Qua bảng 4.3 cho chúng tôi thấy thứ tự ưu tiên của các hệ thống ở vùng

bình lần lượt là.
R.V.A.C (60 điểm), V.A.Rg (59 điểm), R.V.A.Rg (57 điểm), R.V.Rg
(56 điểm), R.V.C (54 điểm) và hệ thống V.Rg (53 điểm).
Qua thảo luận cùng người dân: do đặc điểm điều kiện tự nhiên trong vùng
có diện tích mặt nước nhiều, từ xưa người dân ở vùng đã chăn thả cá kết hợp
23
24
việc trồng rừng làm vườn và chăn nuôi nên kinh nghiệm rất phong phú đó
cũng chính là tiền đề, ý kiến của người dân ở đây tự tin lựa chọn, cho điểm có
2 hệ thống R.V.A.C (60 điểm) và V.A.Rg (59 điểm) trong số 6 hệ thống để ưu
tiên phát triển.
Bảng 4.5: Phân tích cho điểm các dạng hệ thống NLKH có sự tham gia
tại khu vực thôn Nhị Liên
Dạng hệ thống
Tiêu chí
R.V.C R.V.Rg V.Rg V.A.C R.V.A R.V.C.Rg
Tận dụng đất đai tốt 8 7 7 8 8 10
Thu nhập ổn định 9 8 10 9 7 8
Mức độ đầu tư thấp 8 9 10 7 8 7
Ít rủi ro 8 9 10 7 8 9
Hiệu quả kinh tế cao 9 6 9 10 7 8
Kỹ thuật đơn giản 8 9 10 6 7 7
Bảo vệ đất (chống xói
mòn, cải tạo đất)
9 10 8 6 9 10
Tổng điểm 50 58 64 53 54 59
Thứ tự ưu tiên 6 3 1 5 4 2
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Qua bảng 4.5 cho ta thấy thứ tự ưu tiên của các hệ thống ở vùng thấp
lần lượt là:

Qua bảng 4.6 cho ta thấy ở mỗi một vùng người dân lựa chọn áp dụng
theo những hệ thống NLKH khác nhau như: vùng cao gồm 2 dạng hệ thống
NLKH.
R.V.C.Rg (20%) và R.V.A.C.Rg (40%)
Vùng trung bình gồm 2 dạng hệ thống NLKH
R.V.A.C (30%) và V.A.Rg (20%)
Vùng thấp gồm 2 dạng hệ thống
R.V.C.Rg (30%) và V.Rg (20%)
4.2. Điều tra phân tích các dạng hệ thống NLKH lựa chọn
Sau khi điều tra, phân tích các bước sản xuất NLKH tại xã Minh Tiến
một thời gian, thì ở đây bà con đã có phong trào phát triển triển mô hình
NLKH rất đặc biệt vì mỗi mô hình có một nét đặc trưng riêng, và mang lại
hiệu quả kinh tế khác nhau.
Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi tiến hành phân tích và lựa chọn một số
dạng hệ thống mang tính chất đại diện của xã gồm 3 thôn: Ngòi Ngang, Bến
Cát, Nhị Liên như sau:
4.2.1. Hệ thống NLKH điển hình tại thôn Ngòi Ngang
Thôn Ngòi Ngang là một thôn có địa hình cao, thể thấy được khả năng
phát triển của hệ thống NLKH, chúng tôi chọn ra một số dạng hệ thống điển
hình như sau:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status